Nhu cầu được trợ giúp tâm lý của học sinh trong
một số trường trung học phổ thông huyện Đan
Phượng – Hà Nội
Bùi Thị Thoa
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Người hướng dẫn: TS. Ngô Thu Dung, TS. Bùi Thị Thúy Hằng
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Tìm hiểu cơ sở lý luận về nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học
sinh trung học phổ thông. Nghiên cứu thực trạng nhu cầu trợ giúp tâm lý học đường
của học sinh trung học phổ thông. Đề xuất một số kiến nghị về việc triển khai các
hoạt động trợ giúp tâm lý học đường tại cơ sở.
Keywords: Tâm lý học; Tâm lý học đường; Phổ thông trung học; Trợ giúp tâm lý
Content
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Tình trạng
nghèo nàn, lạc hậu dần dần được khắc phục. Đời sống vật chất, tinh thần của mọi người, mọi
nhà đang từng bước được cải thiện. Song xã hội (XH) càng phát triển thì những vấn đề của
đời sống tâm lý, tình cảm cũng càng nảy sinh phong phú, đa dạng và bức xúc hơn. Các hoạt
động tham vấn tâm lý (TVTL) xuất hiện và ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của
xã hội, nhất là ở những đô thị đông dân. Tham vấn tâm lý được ứng dụng ở nhiều loại hình
tham vấn khác nhau, trong đó trợ giúp tâm lý học đường đang trở thành một nhu cầu cấp
bách của xã hội cần được đáp ứng kịp thời. Hoạt động trợ giúp tâm lý học đường không chỉ
đóng vai trò quan trọng đối với học sinh (HS), sinh viên mà nó còn rất cần thiết cho giáo
viên, phụ huynh HS – những người có liên quan đến sự nghiệp “trồng người”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT nhằm đề
xuất một số kiến nghị về việc triển khai các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường tại trường
học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
-Tìm hiểu cơ sở lý luận về nhu cầu trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT
-Nghiên cứu thực trạng nhu cầu trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT
-Đề xuất một số kiến nghị về việc triển khai các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường tại cơ
sở.
4. Khách thể nghiên cứu
Tổng số lượng khách thể nghiên cứu: 516 học sinh
Trong đó: 248 học sinh trường THPT Đan Phượng
268 học sinh trường THPT Hồng Thái
(Số khách thể này được lựa chọn một cách ngẫu nhiên)
Tại các trường, chúng tôi lựa chọn khách thể ngẫu nhiên ở cả 3 khối: khối 10, khối 11, khối
12 để làm tăng tính khách quan và đa dạng của kết quả nghiên cứu.
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh một số trường trung học phổ thông
huyện Đan Phượng – thành phố Hà Nội.
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Nhu cầu trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông huyện Đan Phượng
rất đa dạng và phong phú. Có sự khác nhau nhưng không nhiều về mức độ và sự biểu hiện
nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường giữa các nhóm khách thể.
- Học sinh trung học phổ thông huyện Đan Phượng hầu như chưa được tiếp cận với các hoạt
động trợ giúp tâm lý học đường vì nhiều lý do khác nhau.
- Phần lớn khách thể vẫn có nhận thức chưa đầy đủ về dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường.
7. Phạm vi nghiên cứu
-Về địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Đan Phượng – thành phố Hà Nội
Trường THPT Hồng Thái – thành phố Hà Nội
-Về thời gian nghiên cứu: đề tài được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 04/2011 đến
lập nhưng loại trừ các nhà tâm lý học đường vì không có bằng tiến sĩ – một yêu cầu đối với
những thành viên.
Đến năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia dành cho các hoạt động tham vấn, hỗ trợ tâm lý
học đường xuất hiện. Kể từ đó, nghành Tâm lý học đường được xem như là đã ra đời.
Hiện nay, Hiệp hội các nhà Tâm lý học đường Hoa Kỳ được xem như là nguồn tham
khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường của hầu hết các
nước trên thế giới. Ngày nay, các dịch vụ tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ
biến và không thể thiếu được trong các trường học, các cơ sở đào tạo ở Anh, Pháp, Nga,
Đức…. và nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Ở Nga, hoạt động trợ giúp tâm lý xuất hiện muộn hơn vào khoảng những năm 80 của
thế kỷ XX cùng với những thực nghiệm tâm lý nhằm ứng dụng Tâm lý học vào các trường
học của thành phố Mátxcơva. Tại đây, chính sự xuất hiện nhiều chương trình, nhiều phương
pháp dạy học khác nhau, các cơ sở đào tạo mới ra đời và sự xuất hiện của các giá trị mới như
tự do tư duy, tính tích cực…. đã thúc đẩy sự phát triển của loại hình dịch vụ vừa ra đời này.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại Việt Nam
Hiện nay, Tâm lý học đường trên thế giới đã có một quá trình phát triển lâu dài. Tuy
nhiên, ở nước ta, Tâm lý học đường vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ. Các hoạt động
tham vấn, trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên còn chưa được đầu tư và quan
tâm đúng mức.
Trước đây, trong thời gian chiếm đóng miền Nam Việt Nam, Mỹ đã cho triển khai các
hoạt động Khải đạo trong các trường học. Đến năm 1975, khi miền Nam được giải phóng,
cách thức tiếp cận với giáo dục đã thay đổi làm cho hoạt động này không còn tồn tại trong
các trường học với đúng nghĩa của nó nữa.
Năm 1984, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ và tâm bệnh N-T do bác sĩ Nguyễn Khắc
Viện thành lập đã trở thành nơi đầu tiên thực hành, phát triển nghề tham vấn trong đó có lĩnh
vực tâm lý trẻ em và gia đình. Phương châm nghiên cứu của trung tâm là chiết trung, không suy
tôn một trường phái nào, không lấy một học thuyết nào làm chính thống. Phương pháp nghiên
cứu chủ yếu là nghiên cứu sâu từng trường hợp.
Ngoài ra phải kể đến các công trình nghiên cứu của Viện tâm lý học, khoa Tâm lý –
giáo dục của trường Đại học Sư Phạm, khoa Tâm lý học – trường Đại học khoa học xã hội và
là một trong những hiện tượng tâm lý không phải là đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học
hành vi. Đại diện cho trường phái này tiêu biểu là: J.Watson – người sáng lập chủ nghĩa
hành vi thì Tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành
vi cơ thể, trong đó, hành vi được hiểu là tổng số các sử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể
nhằm đáp ứng lại một kích thích nào đó. Nó được thể hiện bằng công thức hành vi nổi tiếng:
S – R
(Trong đó: S là kích thích, R là đáp ứng).
Trái ngược với quan điểm của các nhà Phâm tâm học và Tâm lý học hành vi, trường
phái Tâm lý học nhăn văn đưa ra cách nhìn nhận mới, tiêu biểu là thuyết “Thứ bậc nhu cầu”
của A.Maslow. Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một
hình kim tự tháp. Hệ thống thứ bậc nhu cầu của Maslow đầu tiên chỉ có 4 cấp bậc, sau đó
vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này được Maslow hiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối
cùng là 8 bậc. Các nhu cầu bậc thấp thì càng xếp phía dưới.
Các nhà tâm lý học Liên xô khi nghiên cứu về nhu cầu khẳng định: nhu cầu là yếu tố
bên trong, quan trọng đầu tiên thúc đẩy hoạt động của con người. Đó chính là điểm khác hẳn
với con vật. Mọi nhu cầu của con người (kể cả những nhu cầu sơ đẳng) đều có bản chất xã
hội.
1.2.2.Khái niệm nhu cầu
Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về nhu cầu, tiêu biểu là các quan niệm mà
chúng ta đã xem xét trong phần “Một số quan điểm về nhu cầu”. Vậy, nhu cầu là gì? Trên cơ
sở tìm hiểu, phân tích các khái niệm khác nhau về nhu cầu và trong khuôn khổ của đề tài
chúng tôi sử dụng định nghĩa về nhu cầu của Nguyễn Quang Uẩn: “nhu cầu là trạng thái tâm
lý của con người, biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi
hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển với tư cách là một
nhân cách”.
1.2.2.1. Một số đặc điểm cơ bản của nhu cầu
Tính đối tượng của nhu cầu:
Tính nội dung của nhu cầu:
Tính ổn định của nhu cầu:
Tính tích cực của nhu cầu:
1.2.3.2. Nội dung tư vấn tâm lý học đường cho học sinh trong trường học
Theo Ngô Thu Dung, nội dung hoạt động tư vấn học đường trong trường học cho học
sinh, sinh viên như sau [35, tr 100 – 106]:
1.Tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý, nhằm lắng nghe, khơi dậy nội lực, giúp học
sinh, sinh viên tự phát triển thể chất tinh thần, tránh những sự phát triển lệch lạc không đáng
có.
2.Cung cấp một số kiến thức cũng như tổ chức các lớp rèn luyện kỹ năng sống cho
học sinh, sinh viên.
3.Tăng cường tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động vì cộng đồng, hoạt
động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao.
4. Cần rèn luyện cho học sinh, sinh viên khả năng thích ứng học tập và rèn luyện bản
lĩnh học tập.
5.Cần rèn luyện năng lực giao tiếp, hợp tác, lắng nghe, biết trình bày… cho học sinh,
sinh viên.
6. Thực hiện công tác hướng nghiệp, định hướng nghề (ở các trường phổ thông) và
thích ứng nghề (ở các trường chuyên nghiệp).
7. Cung cấp các kiến thức, kỹ năng bảo vệ sức khỏe, rèn luyện thể chất, sức khỏe sinh
sản… cho học sinh, sinh viên.
8.Cần có hoạt động bảo vệ, tạo điều kiện hòa nhập cho những trẻ có hoàn cảnh đặc
biệt.
9. Không chỉ tư vấn cho học sinh, sinh viên, các nhà tư vấn học đường cần tư vấn các
vấn đề phát triển của trẻ em với những lực lượng giáo dục, lực lượng xã hội có liên quan
trong vấn đề giáo dục, bảo vệ trẻ em.
1.2.4. Khái niệm “trợ giúp tâm lý học đường”
Trợ giúp tâm lý học đường là ứng dụng thực tế của tâm lý học học đường trong
trường học. Nó có vai trò trung tâm là trò trung tâm là trợ giúp tâm lý cho học sinh, cho ban
giám hiệu, giáo viên và cha mẹ học sinh. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm
“trợ giúp tâm lý học đường” của Nguyễn Thị Minh Hằng: “Trợ giúp tâm lý học đường là một
hệ thống ứng dụng các tri thức tâm lý học vào thực tiễn nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi,
tối đa giúp cho học sinh có thể tự quyết định hay giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc
cho học sinh, giúp học sinh vượt qua các rối nhiều tâm lý. Song, đây không phải là một
nhiệm vụ ưu tiên của nhà tâm lý học đường. Bởi vì, chỉ một mình nhà tâm lý học đường thôi
thì không đủ thẩm quyền, chuyên môn để tiến hành công việc này. Hơn nữa, số lượng học
sinh trong trường rất nhiều nên không thể tiến hành được hoạt động này. Ở một số quốc gia
khác, hoạt động này được xếp vào giới hạn chuyên môn của nhà tâm lý học đường.
● Hoạt động điều phối: với hoạt động này, học sinh, phụ huynh, giáo viên sẽ nhận được sự
giúp đỡ về xã hội – tâm lý của các cơ sở trợ giúp ngoài khuôn khổ trường học. Hoạt động
này chỉ diễn ra khi học sinh, giáo viên, phụ huynh cần sự trợ giúp đặc biệt vượt ra ngoài
chức năng, thẩm quyền của nhà tâm lý học đường; khi bản thân nhà tâm lý học đường không
đủ kiến thức, kinh nghiệm để trợ giúp học sinh; khi nhà tâm lý học đường gặp một vấn đề
nào đó mà sự giải quyết vấn đề ấy chỉ có thể thực hiện được khi ở ngoài không gian học
đường, ngoài các mối quan hệ học đường.
1.2.4.2. Những yêu cầu chuyên môn cần có của nhà tâm lý học đường
Tại Việt Nam, việc đào tạo chuyên môn thực hành để ra làm chuyên về Tâm lý học
đường còn rất hạn chế. Theo Đinh Phương Duy trong “Định hướng cho công tác tư vấn học
đường” [36, tr.390] thì chân dung nhà tâm lý học đường được xem xét với hai cấu trúc:
những đặc điểm về giá trị và những đặc điểm về năng lực hoạt động.
1.2.5. Khái niệm nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh
Dựa vào khái niệm “nhu cầu” và khái niệm “trợ giúp tâm lý học đường” chúng tôi cho
rằng: nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh là những mong muốn của các em
học sinh được tiếp cận với các hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường, để được nâng đỡ về mặt
tâm lý, giải tỏa cảm xúc, tư vấn, hỗ trợ các vấn đề liên quan đến học đường để đảm bảo cho
sự tồn tại, phát triển nhân cách toàn diện.
1.2.6.Một số đặc điểm tâm – sinh lý cơ bản của học sinh trung học phổ thông
1.2.6.1.Đặc điểm phát triển về thể chất của học sinh trung học phổ thông
● Đặc điểm phát triển về thể chất
● Hoàn cảnh xã hội của sự phát triển
1.2.6.2. Đặc điểm hoạt động của học sinh trung học phổ thông
1.2.6.3.Những đặc điểm tâm lý cơ bản của học sinh trung học phổ thông
- Sự phát triển tự ý thức
-Nhóm học sinh có nhu cầu cao: đó là nhóm học sinh đã tìm đến với hoạt động trợ giúp tâm
lý học đường hoặc có xu hướng sẽ tìm đến với các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường
trong tương lai.
-Nhóm học sinh có nhu cầu trung bình: đó là những học sinh còn lưỡng lự, băn khoăn khi
tìm đến hoạt động trợ giúp tâm lý học đường.
- Nhóm học sinh có nhu cầu thấp: đó là nhóm học sinh cho rằng, hoạt động tâm lý học đường
là chưa thực sự cần thiết, các em sẽ chẳng gặp khó khăn gì trong việc tự giải quyết vấn đề
của mình.
CHƢƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng
2.1.1. Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận và xây dựng công cụ nghiên cứu
Từ khung lý thuyết, thao tác hóa các khái niệm để xác định bộ công cụ đo và đánh giá
về các vấn đề được nghiên cứu
2.1.2.Giai đoạn 2: Điều tra thực trạng
Tìm hiểu thực trạng nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học
phổ thông nhằm đề xuất một số kiến nghị về việc triển khai các hoạt động trợ giúp tâm lý
học đường tại trường học.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Nhóm các phương pháp thu thập thông tin
2.2.1.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
2.2.1.2. Phương pháp quan sát
2.2.1.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
2.2.1.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
2.2.2. Phương pháp xử lý thông tin: Phương pháp thống kê toán học
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.Thực trạng những khó khăn tâm lý mà học sinh THPT gặp phải trong cuộc sống
3.1.1. Thực trạng những khó khăn tâm lý của học sinh THPT
So sánh kết quả điều tra giữa học sing nam và học sinh nữ cho thấy: ở mức độ “chưa
bao giờ” và “hiếm khi” gặp khó khăn tâm lý đã có sự khác biệt rõ rệt giữa học sinh nam và
học sinh nữ, tỷ lệ khác biệt gần 10%. Ở mức độ “thỉnh thoảng” gặp khó khăn tâm lý, dễ nhận
thấy có sự chênh lệch trong cân bằng tâm lý giữa học sinh nam và học sinh nữ, tuy nhiên, tỷ
lệ chênh lệch là không nhiều. Ở mức độ “thường xuyên” cho thấy các bạn nữ thường có
những khó khăn tâm lý nhiều hơn các bạn nam (chênh lệch 5,1%). Ở mức độ này, cả học
sinh nam và học sinh nữ đều lựa chọn với tỷ lệ không nhiều, tuy nhiên, đây là nhóm khách
thể mà chúng ta cần quan tâm và chú ý đến, đặc biệt là các bạn nữ.
So sánh kết quả điều tra trong học sinh giữa các khối lớp cho thấy, phần lớn các em
học sinh lớp 10 đều khẳng định “chưa bao giơ” và “hiếm khi” gặp khó khăn tâm lý trong
cuộc sống. Ở mức độ “thỉnh thoảng” và “thường xuyên” gặp khó khăn tâm lý, kết quả khảo
sát cho thấy, các em học sinh lớp 12 thường chiếm tỷ lệ cao nhất. Có nhiêu nguyên nhân dẫn
đến những lo lắng, bất an của học sinh lớp 12 trong đó có những trăn trở về việc chọn
trường, chọn nghề sau khi tốt nghiệp THPT, về áp lực thi cử, áp lức học tập, sự kỳ vọng của
cha mẹ về kết quả học tập của các em, bên cạnh đó còn có các mối quan hệ xã hội (bạn bè,
tình yêu, tình bạn khác giới ) Do vậy, những băn khoăn ấy có ảnh hưởng đến đời sống tâm
lý của các em.
Nhìn chung, ở những mức độ khó khăn tâm lý khác nhau, ở các khối lớp đều có học
sinh gặp những khó khăn tâm lý, tuy nhiên mức độ khó khăn của các em cũng khác nhau.
Những khó khăn tâm lý đều có thể xảy ra trong cuộc sống của các em trong một thời điểm
nhất đinh nào đó và sẽ có thể ảnh hưởng đến đời sống của các em. Như vậy, cần quan tâm và
hỗ trợ các em để các em nhận ra khó khăn mà các em đang gặp, từ đó trợ giúp các em để các
em có thể tự giải quyết những khó khăn này.
Vậy mỗi khi gặp khó khăn cần nâng đỡ thì ai sẽ là người đầu tiên các em nghĩ đến và
giúp các em vượt qua khó khăn này. Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi đưa ra một số chủ thể
trợ giúp để các em lựa chọn và kết quả khảo sát cho chúng tôi thấy: người mà các em nghĩ đến
đầu tiên khi cần sự nâng đỡ về tâm lý là “bạn thân” (chiếm 59,1% tổng số học sinh được khảo
sát); thứ hai là “một người đáng tin cậy nào đó” (57,9%); lựa chọn thứ ba là “mẹ”(49,6%); viết
thư cho các chuyên mục tư vấn tâm lý xếp thứ 4 với 49,6% lựa chọn và thứ năm là “để trong
lòng không thổ lộ với ai” (29,8%).
Xếp
hạng
1
Khó tập trung chú ý trên lớp
21.7
24.6
47.9
18.0
2.74
1
2
Không hiểu bài giảng
11.6
27.5
45.5
15.3
2.64
4
3
Lượng kiến thức được học quá
nhiều so với khả năng của bản
thân
12.6
26.0
40.7
19.0
2.66
3
4
Khó vận dụng kiến thức đã học
2.64) xếp thứ tư .
3.1.1.2. Nhóm khó khăn tâm lý trong vấn đề hướng nghiệp
Bảng 3.5: Khó khăn tâm lý trong vấn đề hướng nghiệp
Stt
Các vấn đề
Chƣa
bao
giờ
(%)
Hiế
m
khi
(%)
Thỉnh
thoảng
(%)
Thƣờn
g xuyên
(%)
ĐTB
Xếp
hạng
1
Thiếu thông tin về nghành nghề
16.9
21.9
40.9
20.3
2.64
1
Mong muốn nghề nghiệp của
bạn trái ngược với ý kiến của
bạn bè
39.1
26.7
21.9
12.2
2.07
5
6
Mong muốn nghề nghiệp của
bạn mâu thuẫn với khả năng của
bạn
37.6
25.6
22.3
14.5
2.14
3
Ở nhóm khó khăn này, các vấn đề các em thường gặp là “thiếu thông tin về nghành
nghề” (ĐTB 2.64); “dễ bị ảnh hưởng bởi ý kiến của người khác” (ĐTB 2.46); “mong muốn
nghề nghiệp của bạn mâu thuẫn với khả năng của bạn” (ĐTB 2.14)
3.1.1.3. Nhóm khó khăn từ phía bản thân
Bảng 3.6: Những khó khăn tâm lý từ phía bản thân
Stt
Các vấn đề
Chƣa
bao
giờ
(%)
3
Luôn cảm thấy mình kém cỏi
26.6
24.8
34.9
13.8
2.35
4
4
Bị nhiều thú vui lôi kéo và
không bỏ được (rượu,
game )
52.3
21.5
15.5
10.7
1.84
10
5
Ngại giao tiếp
17.8
32.0
40.9
9.3
2.41
3
6
Thiếu tự tin
17.2
29.9
6
10
Hay giận dỗi, cãi nhau vô cớ
23.1
30.6
35.7
10.7
23.1
5
Ở nhóm khó khăn này, vấn đề các em thường gặp là: “luôn quyết tâm nhưng không
thực hiện được quyết tâm ấy” (ĐTB 2.80); “thiếu tự tin” (ĐTB 2.52); “ngại giao tiếp” (ĐTB
2.41); “hay giận dỗi, cãi nhau vô cớ” (ĐTB 2.31); “muốn làm một cái gì đó để thể hiện mình
mà không được” (ĐTB 2.22)
3.1.1.4. Nhóm khó khăn trong các mối quan hệ
Bảng 3.7: Những khó khăn tâm lý trong các mối quan hệ
Stt
Các vấn đề
Chƣa
bao
giờ
(%)
Hiế
m
khi
(%)
Thỉnh
thoảng
(%)
Thƣờn
g xuyên
4
4
Có mâu thuẫn với các thành viên
trong gia đình
38.0
31.2
24.8
6.0
1.98
3
5
Khó khăn trong việc hiểu và đáp
ứng mong muốn của người khác
18.2
37.8
34.5
9.5
2.35
1
Ở nhóm khó khăn này, các em có một số khó khăn: “khó khăn trong việc hiểu và đáp
ứng mong muốn của người khác” (ĐTB 2.35); “khó khăn khi thiết lập mối quan hệ với thầy
cô giáo” (ĐTB 2.21).
3.1.2. Các phương thức giải quyết khó khăn tâm lý của học sinh
Qua bảng số liệu thu được chúng tôi nhận thấy có tới 61,6% học sinh lựa chọn
phương án “tự mình suy nghĩ, đưa ra quyết định giải quyết vấn đề” khi gặp khó khăn, chiếm
tỷ lệ cao nhất. Đứng ở vị trí thức hai là “chia sẻ với người khác (anh,chị lớn tuổi hơn, bạn
bè….) khi gặp khó khăn với 60,2% tổng số học sinh lựa chọn. Xếp thứ ba là “chia sẻ với
người thân trong gia đình” khi gặp khó khăn, với tỷ lệ 56,0% tổng số khách thể khảo sát.
Thấp nhất là phương án “tìm mọi cách để quên đi vấn đề (uống rượu, hút thuốc, đua xe, chơi
game…) chiếm 6,0%.
1
Hoàn toàn không biết
289
65.0
1
2
Biết chút ít
160
31.0
2
3
Có biết
63
12.2
3
4
Biết rất rõ
4
0.7
4
Nhìn vào bảng kết quả khảo sát chúng ta thấy: 65,0% học sinh được khảo sát cho rằng
các em “hoàn toàn không biết” gì về “sự có mặt” của các hoạt động trợ giúp tâm lý học
đường hoặc các mô hình phòng tư vấn tâm lý học đường đang được triển khai tại một số
trường trung học phổ thông.
Xếp ở vị trí thứ hai chiếm tỷ lệ 31,0% số học sinh cho rằng các em “có biết chút ít”,
tiếp đến là 12,2% học sinh cho rằng các em “có biết” và cuối cùng là 0,7% học sinh cho rằng
các em “biết rất rõ” về hoạt động trợ giúp tâm lý học đường.
Vậy, nếu các em “biết chút ít”, “có biết”, biết rất rõ” về các hoạt động trợ giúp tâm
lý học đường thì các em biết đến qua hình thức nào.? Để tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi
đưa ra câu hỏi: “Bạn biết đến hoạt động trợ giúp tâm lý nào trong các hình thức sau?”. Kết
5
7
Phòng tư vấn tâm lý trong trường học
0.6
7
Từ bảng số liệu chúng ta thấy, chiếm tỷ lệ lựa chọn nhiều nhất ở các em học sinh là
phương án “qua các phương tiện truyền thông đại chúng” (46,3%); xếp thứ hai là qua
“internet” chiếm tỷ lệ 37,2%; xếp thứ ba là phương án “qua bạn bè” chiếm tỷ lệ 25,0%.
Phương án có sự lựa chọn thấp nhất là “qua phòng tư vấn tâm lý trong trường học” chiếm tỷ
lệ 0,6%.
Để đánh giá mức độ cần thiết của từng hoạt động, nhằm tìm hiểu xem hoạt động nào
được các em mong đợi, tìm hiểu nhận thức, nhu cầu của các em về các hoạt động này chúng
tôi đưa ra năm hoạt động cụ thể của dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường để các em lựa chọn,
kết quả cho thấy:
Bảng 3.12: Nhận thức của HS về mức độ cần thiết của hoạt động trợ giúp TLHĐ (%)
Tt
Các HĐTGTLHĐ
Rất
mong
muốn
(%)
Mong
muốn
(%)
Có
cũng
đƣợc
(%)
Không
mong
1
3
Hoạt động tham vấn, tư vấn các
vấn đề khó khăn tâm lý cho học
sinh
16.1
39.3
33.3
11.2
2.39
2
4
Hoạt động trị liệu tâm lý cho học
sinh giúp học sinh vượt qua các rối
nhiễu, khó khăn tâm lý
20.3
38.2
33.7
7.8
2.28
4
5
Hoạt động điều phối: liên kết với
16.1
44.2
33.1
6.6
2.30
3
những người có chuyên môn, hiểu
11
2.1
2
Chưa tìm đến hoạt động trợ giúp
505
97.9
Từ bảng số liệu thu được chúng ta nhận thấy có 2,1% học sinh đã từng tìm đến với
hoạt động trợ giúp tâm lý học đường. Qua phỏng vấn, các em trả lời rằng, các em đã sử dụng
dịch vụ tham vấn trực tuyến qua mạng internet. Có tới 97,9% học sinh “chưa bao giờ” tìm
đến sự trợ giúp về mặt tâm lý học đường. Lý do: ở huyện Đan Phượng hiện nay vấn đề phát
triển mô hình trợ giúp tâm lý học đường còn có nhiều khó khăn và hạn chế.
3.3.2. Nhu cầu được trợ giúp tâm lý của học sinh đã sử dụng dịch vụ
Bảng 3.14: Cảm nhận của học sinh khi được trợ giúp tâm lý
Stt
Trợ giúp
SLC
Tỷ lệ (%)
1
Giúp bạn tự tìm ra cách giải quyết vấn đề
0
0
2
Đưa ra lời khuyên cho bạn
9
81.8
3
Giải quyết vấn đề giúp bạn
0
0
4
tâm lý của các em “hoàn toàn được giải quyết”. Qua kết quả thu được này, chúng tôi thấy
rằng, hoạt động trợ giúp tâm lý cho các em, dù ở hình thức nào, mức độ trợ giúp cho các vấn
đề của các em được đến đâu cũng đã thực sự cần thiết. Do vậy, rất cần thành lập phòng tâm
lý học đường trong trường học để trợ giúp cho học sinh, giúp các em có được đời sống tâm
trí ngày càng tốt hơn.
Với mong muốn có thể triển khai mô hình phòng tư vấn tâm lý học đường vào trường
học, chúng tôi đưa ra câu hỏi “Bạn có muốn trường mình có phòng tư vấn tâm lý học đường
không?” nhằm tìm hiểu nhu cầu thành lập phòng tư vấn học đường trong trường học ở các
em, kết quả khảo sát cho thấy:
Bảng 3.16: Nhu cầu thành lập phòng tư vấn tâm lý học đường trong trường học
Stt
Nhu cầu có phòng TVTLHĐ
Tỷ lệ (%)
Xếp hạng
1
Rất mong muốn
54.5
1
2
Mong muốn
27.3
2
3
Có cũng được, không có cũng chẳng sao
18.2
3
4
Không mong muốn
0.0
4
giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong khi hướng nghiệp” (ĐTB 2.24, xếp thứ nhất) sau đó
là “giúp các em lựa chọn cho mình một nghành nghề phù hợp với bản thân” (ĐTB 1.80, xếp
thứ hai); điều này cũng tương ứng với những khó khăn tâm lý trong khi hướng nghiệp đã
được phân tích ở phần đầu chương này, đó là các em thấy khó khăn trong lựa chọn nghành
nghề phù hợp và bị thiếu thông tin về nghành nghề. Qua kết quả này cho thấy, các em học
sinh rất kỳ vọng vào các nhà tâm lý học đường, mong muốn nhà tâm lý học đường sẽ giúp
cho mình có thể tự lựa chọn một nghành nghề phù hợp với bản thân.
Còn với chính bản thân học sinh, các em mong muốn nhà tâm lý học đường sẽ hỗ trợ
các em điều gì? Qua bảng số liệu điều tra chúng tôi thấy, điều mà các em mong muốn nhất là
“giúp các em nhận ra các nguy cơ rối nhiễu tâm lý và cách khắc phục chúng” (ĐTB 2.17,
xếp thứ nhất). Bên cạnh đó, các em cũng mong muốn nhà tâm lý học đường “giúp các em cải
thiện bản thân, khắc phục những nhược điểm tâm lý”. Mong muốn tiếp theo của các em là
“giúp các em hiểu được chính mình và có thêm kỹ năng sống”, điều này rất quan trọng, nó sẽ
giúp các em tự tin hơn vào bản thân, vào khả năng của mình sẽ giải quyết được những khó
khăn, những tình huống có vấn đề do đã được trang bị những kiến thức cần thiết.
Một thực tế cho thấy, tại huyện Đan Phượng chưa có trường trung học phổ thông nào có
phòng tâm lý học đường, do vậy, để có thể đáp ứng nguyện vọng của các em là điều còn hạn chế.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng muốn tìm hiểu nhu cầu trợ giúp của các em trong tương lai và những
nội dung các em hướng đến nếu như tổ chức các buổi nói chuyên chuyên đề, câu trả lời chúng tôi
nhận được ở bảng kết quả sau:
Bảng 3.18: Các chuyên đề mà học sinh sẽ tham gia
Stt
Các chuyên đề
Phƣơng án
Có
tham
Cần
suy
Không
tham
Học tập
79.7
14.1
6.2
1.26
5
5
Khám phá bản thân
68.8
24.2
7.0
1.38
3
Từ bảng số liệu trên đây, căn cứ vào điểm trung bình cho thấy: nội dung các mong
muốn khi tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề được ưu tiên hàng đầu là chuyên đề về các
vấn đề hướng nghiệp, xếp thứ nhất; chuyên đề “tình bạn, tình yêu, giới tính, gia đình” xếp
thứ hai; chuyên đề “khám phá bản thân” xếp thứ ba; chuyên đề “sức khỏe sinh sản” xếp thứ
tư và cuối cùng là chuyên đề về các vấn đề “học tập”. Có thể nhận thấy, các chuyên đề các
em lực chọn tham gia phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi các em. Cũng từ đây, các
nhà tâm lý học đường xác định được nhu cầu của các em khi tiến hành các công việc cụ thể
tại cơ sở đào tạo; biết cách làm mới nội dung, hấp dẫn các em tham gia và xây dựng được
hình ảnh nhà tâm lý học đường tin cậy trong nhận thức của các em.
3.3.4. Nhu cầu của học sinh về hình thức trợ giúp tâm lý học đường
Qua những số liệu thu thập được cho thấy, các em có nhu cầu về trợ giúp tâm lý học
đường. Vậy, các em mong muốn công tác này sẽ được diễn ra với loại hình cụ thể nào.
Chúng tôi đã đưa ra một số loại hình dịch vụ để các em lựa chọn:
Ba loại hình đầu tiên trong bảng đưa ra nhằm tìm hiểu xem giữa hai hoạt động trợ
giúp: trợ giúp trực tiếp và trợ giúp gián tiếp, các em thích loại hình nào hơn. Kết quả cho
thấy, các em mong muốn được trợ giúp gián tiếp qua thư, điện thoại, hoặc online chat qua
internet hơn.