MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
1. HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2. Nội dung quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở
các trường trung học phổ thông
1.3. Những nhân tố tác động đến quản lý giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông
huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN
ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Đặc điểm quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở
các trường trung học phổ thông huyện Đan Phượng,
thành phố Hà Nội
2.2. Thực trạng giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ
thông huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Chương 3. YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐAN
PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
3.1. Yêu cầu đề xuất biện pháp quản lý giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông
huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
3.2. Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở
các trường trung học phổ thông huyện Đan Phượng, thành
phố Hà Nội hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
đang đặt ra yêu cầu cao về chất lượng nguồn nhân lực. Học sinh trung học
phổ thông sau khi tốt nghiệp sẽ trực tiếp được đào tạo nghề theo các hướng
khác nhau phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Khi học sinh chọn được
những nghề phù hợp với sở trường, năng lực của bản thân thì họ sẽ phấn khởi,
hăng say, sáng tạo trong lao động, từ đó năng suất và hiệu quả lao động sẽ
cao. Lựa chọn nghề phù hợp sẽ giúp mỗi học sinh phát triển tối đa khả năng
của bản thân và thúc đẩy xã hội phát triển. Đối với người lao động hiện nay,
vấn đề không chỉ là có nghề, mà là có nghề nghiệp phù hợp. Hơn nữa áp lực
phân luồng học sinh trung học phổ thông hiện nay rất lớn, đòi hỏi các cấp, các
ngành cần có biện pháp để xác định cơ cấu ngành, nghề phù hợp với phân
công lao động xã hội, tránh lãng phí nguồn nhân lực. Bản thân học sinh không
dễ dàng làm tốt công việc lựa chọn nghề nghiệp, họ cần có sự giúp đỡ của
những người làm công tác hướng nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong những năm qua
các cơ quan, ban ngành mà trực tiếp là Bộ Giáo dục và đào tạo đã có rất nhiều
chủ trương, biện pháp để giáo dục hướng nghiệp cho học sinh. Tuy nhiên,
công tác này vẫn chưa thực sự đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả như mong muốn.
Một trong những nguyên nhân hạn chế cơ bản của vấn đề này là công tác
quản lý giáo dục hướng nghiệp chưa được chú trọng đúng mức. Nhận thức và
các biện pháp cụ thể của các cấp, ngành về quản lý giáo dục hướng nghiệp
chưa có bước đột phá cần thiết, chưa huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ
thống chính trị để thực hiện nội dung này.
Huyện Đan Phượng có vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của thành
phố Hà Nội. Nguồn nhân lực do các trường trung học phổ thông trên địa bàn
huyện cung cấp không chỉ đáp ứng nhu cầu tại chỗ mà còn cho sự phát triển
3
4
mà còn tạo ra các điều kiện để phát triển nhân cách cho mỗi cá nhân. Năm
1927 ở Lêningrat đã tổ chức hướng nghiệp với mục đích giúp cho thế hệ trẻ
và cha mẹ các em quen biết với nghề nghiệp. Dựa trên quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin các nhà khoa học Liên xô đã nghiên cứu vấn đề hướng
nghiệp đối với sự hình thành nhân cách và ảnh hưởng của nó tới các hoạt
động sản xuất xã hội. Kết quả các công trình đó cho thấy thực hiện giáo dục
hướng nghiệp cho thế hệ trẻ là cơ sở giúp cho họ chọn nghề đúng đắn, có sự
phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân và nhu cầu xã hội [24].
Những năm 60 của thế kỷ XX nghiên cứu về hướng nghiệp đã được các
nhà khoa học đề cập, nhưng vấn đề này chỉ thực sự được quan tâm nghiên cứu
ở những năm 80 của thế kỷ XX khi Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 “Về
công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học
sinh các cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông tốt nghiệp ra trường” đã
tạo hành lang pháp lí cho sự phát triển của công tác hướng nghiệp, nhất là
hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Thực hiện quyết định 126/CP, năm
1991 Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành chương trình hướng nghiệp và quy
chế về tổ chức và hoạt động cho các nhà trường phổ thông. Trong đó quy định
học sinh sau khi hoàn thành chương trình hướng nghiệp phổ thông phải dự thi
để lấy chứng chỉ nghề và có khuyến khích cộng điểm vào kết quả kì thi tốt
nghiệp trung học phổ thông và kì thi tuyển sinh vào trung học phổ thông đối
với học sinh cấp trung học cơ sở. Trong những năm 1983 - 1996, giáo dục
hướng nghiệp ở nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng, được coi là
thời kì thịnh vượng nhất. Nhưng từ năm 1997 trở lại đây công tác giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã bị coi nhẹ, ảnh hưởng không nhỏ
đến sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước [31].
Trước tình hình đó, trong những năm đầu thế kỷ XXI công tác hướng
triển đúng định hướng, đạt hiệu quả cao.
Tác giả Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Trần Mai Thu với bộ công
trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các lớp 10, 11, 12 [10]. Bộ công
trình này được sử dụng trong các nhà trường trung học phổ thông nhằm định
6
hướng nghề cho học sinh. Những đóng góp này rất có giá trị, giúp học sinh có
những hiểu biết cơ bản về nghề nghiệp tương lai. Qua đó giúp học sinh lựa
chọn nghề phù hợp với khả năng, sở trường của bản thân và nhu cầu xã hội.
Nhằm giúp cá nhân dễ dàng hiểu mình và lựa chọn được nghề phù hợp,
nhóm tác giả Hoàng Kiện, Nguyễn Thế Trường, Phạm Tất Dong [5, tr.50],
cho rằng tư vấn hướng nghiệp là phải giúp học sinh tìm được “Miền chọn
nghề tối ưu”. Khi chọn nghề, học sinh phải trả lời được ba câu hỏi: Tôi thích
làm nghề gì? (hứng thú), Tôi có thể làm nghề gì? (năng lực), Tôi cần phải làm
nghề gì? (yêu cầu xã hội, thị trường lao động đối với nghề). Vùng giao thoa
của ba câu hỏi đó là “Miền chọn nghề tối ưu”.
Tác giả Nguyễn Văn Hộ với các công trình nghiên cứu như: “ Thiết lập
và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam (1988) [21], “Cơ
sở sư phạm của công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông” [22] đã khái
quát các luận chứng lý luận và thực tiễn cho hệ thống hướng nghiệp phổ
thông trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thời kỳ hội nhập
và đề xuất một số hình thức phối hợp giữa nhà trường phổ thông với các cơ sở
đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong việc hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh
phổ thông. Những khía cạnh khác của giáo dục hướng nghiệp cũng được đề
cập trong một số công trình nghiên cứu: “Một số vấn đề về hướng nghiệp cho
học sinh phổ thông” của Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền [29] “Định hướng
giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông trung học” của Phạm Tất
Dong [9]. Nguyễn Viết Sự “Mối quan hệ giữa hệ thống giáo dục nghề nghiệp
Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học
phổ thông huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
Là toàn bộ những vấn đề cơ bản và liên quan đến quản lý giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Đan
Phượng, thành phố Hà Nội. Thời gian điều tra, khảo sát từ 2010 đến nay.
Đề tài nghiên cứu toàn bộ 4 trường trung học phổ thông của huyện Đan
Phượng: Trung học phổ thông Đan Phượng, Trung học phổ thông Hồng Thái,
Trung học phổ thông Tân Lập, Trung tâm giáo dục thường xuyên Đan
8
Phượng. Mỗi trường khảo sát 50 ý kiến của Ban giám hiệu, Bí thư Đoàn
trường, các giáo viên chủ nhiệm; 150 học sinh ở mỗi trường chia đều cho ba
khối 10, 11, 12 (mỗi khối 50 em).
5. Giả thuyết khoa học
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông huyện Đan
Phượng, thành phố Hà Nội được cấu thành bởi nhiều yếu tố, trong đó quản
lý là nhân tố giữ vai trò trọng yếu. Nếu nâng cao nhận thức và phát huy vai
trò, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng; xây dựng và thực hiện tốt
kế hoạch giáo dục hướng nghiệp; đa dạng hóa các hình thức, phương pháp
quản lý; phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh trong tự quản lý giáo
dục hướng nghiệp và thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá kết quả thì
hiệu quả quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung
học phổ thông huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội sẽ tốt hơn, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của huyện Đan Phượng.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Microsoft Excel, phần mềm SPPS để thống kê các số liệu điều tra, thu thập,
lập bảng phân phối tần số, tính điểm trung bình cộng và định tính.
7. Ý nghĩa của đề tài
Bổ sung, làm phong phú lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp; làm
rõ thực trạng, đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp luận cứ khoa học
của việc nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học
phổ thông huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội hiện nay.
8. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm phần mở đầu; 3 chương (8 tiết); kết luận; kiến nghị;
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Giáo dục hướng nghiệp
Bước vào bậc cuối của nhà trường phổ thông, học sinh luôn có những
hoài bão lớn lao gắn liền với cuộc sống tương lai của họ. Các em đặt ra câu
hỏi như: “nghề nào hay nhất”, “mình sẽ chọn nghề gì”. Có học sinh trả lời
những câu hỏi trên không khó lắm, nhưng có nhiều em không biết trả lời rõ
ràng nên còn đắn đo. Mặc dù vậy câu trả lời của các em vẫn mang tính chủ
quan, cảm tính, chưa có cơ sở khoa học. Đây là một vấn đề đặt ra cho ngành
giáo dục và toàn xã hội cần quan tâm.
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ có đào tạo,
con người có được những tri thức, những kĩ năng để làm ra các sản phẩm vật
xã hội học, kinh tế học... nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù
hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng
được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.
Thế hệ trẻ phải được chọn nghề theo hứng thú, sở thích và năng lực.
Công tác hướng nghiệp phải giúp họ ngày càng nhận thức sâu sắc nghĩa vụ
lao động, nhu cầu nhân lực mà xã hội đặt ra. Do đó, hướng nghiệp phải là
công việc được xã hội quan tâm đặc biệt. Không nên để thế hệ trẻ chọn nghề
một cách tự phát, cũng không nên để cho số phận nghề nghiệp của mỗi học
sinh phụ thuộc vào những gì hết sức ngẫu nhiên. Hướng nghiệp đề cập ở đây
đã vượt ra khỏi phạm vi nhà trường phổ thông, liên quan đến cả tuyển chọn
nghề, thích ứng nghề và hơn nữa là tư vấn và dịch vụ việc làm (cho cả đối
tượng ngoài xã hội).
Hướng nghiệp trên bình diện phổ thông: Trong trường phổ thông,
hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của
trò. Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là
công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học
12
sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai
trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu
nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội. Như vậy, hướng nghiệp trong
trường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm, nhằm
làm cho các em học sinh chọn được nghề tương lai một cách hợp lý.
Với cách hiểu đó, hướng nghiệp là nhiệm vụ của tất cả thành viên trong
tập thể sư phạm: Hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, tổ
chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh...Vấn đề là ở chỗ phải có sự
phân công rõ ràng. Về phía học sinh, hướng nghiệp là hình thức học tập của
mình, thông qua hoạt động này, mỗi học sinh phải lĩnh hội được những
phù hợp với nghề và phải đạt được những tiêu chuẩn quốc gia về kiến thức, kĩ
năng, kĩ xảo tay nghề theo mục tiêu xã hội đòi hỏi, có được những bằng cấp
hay chứng chỉ về nghề. Từ nhận thức đó, học sinh sẽ tự giác trong việc tìm
hiểu về nghề. Hai là, phát hiện, hướng dẫn và phát triển hứng thú nghề nghiệp
của các em. Trong quá trình giúp các em tìm hiểu nghề, người làm hướng
nghiệp sẽ phát hiện và hướng dẫn sự phát triển hứng thú của các em trên cơ
sở phân tích những đặc điểm, những điều kiện, hoàn cảnh riêng của từng em.
Ba là, tạo điều kiện để học sinh hình thành năng lực tương ứng với hứng thú
nghề nghiệp đã có thông qua hoạt động lao động sản xuất kết hợp với dạy
nghề. Việc tổ chức các hoạt động dạy nghề phải được triển khai một cách
khoa học, phù hợp với các đối tượng học sinh, các đặc điểm vùng miền mà
các em đang sinh sống. Học sinh được thử sức trong các hoạt động nói trên sẽ
làm nảy nở và phát triển năng lực nghề nghiệp.
Giáo dục về bản chất là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến
sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy
dần dần có được những phẩm chất năng lực như yêu cầu đề ra” [38, tr.139].
Từ những cơ sở nói trên, tác giả cho rằng: Giáo dục hướng nghiệp
(trong nhà trường phổ thông) là quá trình tác động của các lực lượng giáo
dục trong và ngoài nhà trường tới học sinh giúp họ định hướng được nghề
nghiệp tương lai sao cho phù hợp với năng lực và điều kiện của bản thân
đồng thời đáp ứng với yêu cầu khách quan của xã hội.
Mục đích của giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông được thể
hiện bao gồm: Về kiến thức: Giúp cho học sinh hiểu được một số kiến thức cơ
14
bản về công cụ, kĩ thuật, quy trình công nghệ và về an toàn lao động, vệ sinh môi
trường đối với một nghề phổ thông đã học. Biết những đặc điểm và yêu cầu của
nghề đó. Về kĩ năng: Có một số kĩ năng sử dụng công cụ, thực hành kĩ thuật theo
hợp. Trên cơ sở đó cho học sinh những lời khuyên chọn nghề có căn cứ khoa
học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề.
Tư vấn nghề có thể phân ra thành hai loại: Tư vấn sơ bộ: giáo viên chủ nhiệm
hoặc giáo viên bộ môn đóng vai trò nhà tư vấn, từ những hiểu biết về yêu cầu
của một ngành, nghề ở một số trường hoặc địa phương, về nhu cầu nhân lực và
năng lực thực tế của học sinh cho học sinh những lới khuyên cần thiết về sự lựa
chọn nghề, chọn trường sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông. Tư vấn chuyên
sâu: Tiến hành trên cơ sở khoa học, đảm bảo độ chính xác cao nhờ vào các
máy móc hiện đại. Điều kiện để có tư vấn chuyên sâu đòi hỏi phải có chuyên
gia tư vấn đựoc đào tạo căn bản, có tay nghề cao như nhà tâm lý học, các nhà
giáo dục học, các bác sỹ…
Tuyển chọn nghề là xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của nghề để tuyển
người phù hợp vào học hay vào làm việc.
Ba nội dung trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, trong
trường trung học phổ thông thường tiến hành định hướng nghề nghiệp và tư
vấn nghề nghiệp, đồng thời góp phần cho việc tuyển chọn nghề. Trong đó tư
vấn nghề nghiệp là cầu nối giữa hai nội dung kia.
1.1.2.
Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh ở các trường trung học phổ thông
Vấn đề quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng luôn là đối tượng
được các nhà quản lý, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Quản lý theo cách
tiếp cận hệ thống là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
(hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của con người
trong các quá trình sản xuất xã hội để đạt được mục đích đã định.
Hoạt động của con người luôn là hoạt động tập thể. Vì vậy, cần có sự duy
trì tính tổ chức, sự phân công lao động nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Do
tính chất lao động xã hội của con người, nên quản lí tồn tại trong mọi hoạt động
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau vào quá trình
17
giáo dục - đào tạo của cơ sở đào tạo nhằm hình thành, phát triển các phẩm
chất nhân cách của người học theo mục tiêu giáo dục. Như vậy, quản lý giáo
dục phải có chủ thể và đối tượng quản lý, đồng thời phải có hệ thống tác
động quản lý theo một nội dung, kế hoạch thống nhất từ trên xuống nhằm
thực hiện mục tiêu giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội cùng với
hệ thống cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật tương ứng.
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp được thực hiện trong các trường phổ
thông, nằm trong chương trình giáo dục phổ thông, nên việc quản lý hoạt
động giáo dục hướng nghiệp cũng tuân theo 4 chức năng quản lý cơ bản, đó
là: Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp, Tổ chức hoạt động
giáo dục hướng nghiệp, Chỉ đạo hoạt động giáo dục hướng nghiệp và kiểm tra
đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
Trên cơ sở luận giải các khái niệm “quản lý”, “giáo dục hướng nghiệp”,
tác giả quan niệm:
Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ
thông huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội là sự tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến toàn bộ quá trình giáo dục hướng nghiệp nhằm
làm chuyển biến nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh trong lựa chọn nghề,
bảo đảm cho việc phân bổ nghề phù hợp với nhu cầu xã hội và khả năng, điều
kiện của học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Đan Phượng.
Quản lí giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ
thông huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội có sự tham gia của các nhân tố:
Một là, chủ thể quản lý: Chủ thể quản lí là những tập thể, cá nhân
được giao nhiệm vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc gián tiếp về công tác giáo
dục - đào tạo của huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Theo đó, chủ thể
Việc xác định các biện pháp quản lý phải đảm bảo tính khoa học, tính hệ
thống, tính khả thi, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tăng cường hiệu quả
quản lý nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi trạng thái quản lý như
mong muốn của chủ thể trong những điều kiện cụ thể nhất định. Tập chung
vào các biện pháp chính là: Thống nhất nhận thức, đề cao trách nhiệm cho các đối
19
tượng tham gia quản lý giáo dục hướng nghiệp; nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện
các văn bản, quy chế, quy định làm cơ sở chỉ đạo giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh; thực hiện tốt kế hoạch giáo dục hướng nghiệp phù hợp với chương trình giáo
dục - đào tạo, phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của giáo viên và thực tiễn của mỗi
trường trung học phổ thông; tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục hướng
nghiệp; đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các phương tiện
phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp.
Hai là, đối tượng quản lý: Là học sinh ở các trường trung học phổ thông
huyện Đan Phượng, tập thể chịu sự tác động, điều khiển, quản lí của chủ thể
lãnh đạo, quản lí trong suốt quá trình đào tạo. Vì vậy, đối tượng quản lí chính
là học sinh và tập thể học sinh trung học phổ thông huyện Đan Phượng. Bản
thân họ vừa là khách thể (đối tượng chịu sự quản lí của chủ thể) vừa là chủ
thể trong hoạt động tự quản lí. Thông qua con đường học tập, rèn luyện và tự
học tập, rèn luyện học sinh tự định hướng nghề cho mình.
Ba là, mục đích quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh: nhằm
đảm bảo hoạt động giáo dục hướng nghiệp diễn ra hợp quy luật có chất lượng
hiệu quả cao. Đó là vận dụng tổng hợp kiến thức về khoa học quản lý vào
thực tiễn, điều khiển và tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp phù hợp
theo chức trách, nhiệm vụ của các chủ thể ở các trường trung học phổ thông
huyện Đan Phượng. Qua đó, giúp học sinh có sự định hướng và quyết định
lựa chọn ngành, nghề hợp lý sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông.
tác giáo dục hướng nghiệp: là những người, dưới sự quản lý của Hiệu trưởng,
Ban giám hiệu trực tiếp tổ chức thực hiện giáo dục hướng nghiệp, đánh giá kết
quả giáo dục hướng nghiệp. Trong đó giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa nhà
trường với gia đình học sinh trong công tác giáo dục hướng nghiệp.
Ban tư vấn hướng nghiệp, đoàn thanh niên: là lực lượng hết sức quan
trọng trong việc tìm hiểu, khai thác thông tin, những người có chuyên môn và
khả năng thuyết phục cao, gần gũi với học sinh. Các lực lượng này có hình
thức tổ chức đa dạng, sáng tạo trong giáo dục hướng nghiệp cho học sinh.
21
Giáo viên chủ nhiệm và Ban tư vấn hướng nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong
quá trình giáo dục hướng nghiệp.
Hội cha mẹ học sinh, hội khuyến học: là lực lượng định hướng, giúp đỡ,
ủng hộ về mặt tinh thần, tài chính cho việc chọn ngành, chọn nghề của con em.
Đội ngũ trực tiếp tổ chức các nội dung giáo dục hướng nghiệp là giáo
viên chủ nhiệm, kết hợp với Ban tư vấn hướng nghiệp và một số phụ huynh
học sinh làm việc ở các ngành nghề khác nhau trong xã hội. Hiệu trưởng cần
bồi dưỡng các thành viên trong Ban tư vấn hướng nghiệp về năng lực tổ chức,
quản lý các hoạt động giáo dục hướng nghiệp có nền nếp, chất lượng, thường
xuyên, liên tục. Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp hướng nghiệp
cho đội ngũ giáo viên các môn học để lồng ghép trong quá trình dạy học.
Học sinh cũ, sinh viên: là lực lượng cung cấp thông tin về các ngành
nghề đào tạo và kinh nghiệm chọn ngành, nghề của mình, từ đó lôi cuốn các
em theo những ngành nghề mà họ đã chọn.
Người thành đạt, các chuyên gia, nhà quản lý kinh tế, quản lý doanh
nghiệp: đây là lực lượng rất cần được các nhà trường chú trọng bởi họ đã thành
đạt trên cơ sở công việc ngành nghề đã chọn. Họ có thể đã qua trường lớp cơ bản
hoặc những người có khả năng kinh doanh, dịch vụ...mà không qua trường đại
được thực hiện dưới các hình thức cơ bản gồm:
Giáo dục hướng nghiệp qua việc dạy và học các môn văn hoá
Giáo dục hướng nghiệp qua các môn văn hóa nhằm khai thác mối liên hệ
giữa kiến thức khoa học với các ngành nghề, gắn nội dung của các bài học với
cuộc sống sản xuất. Quá trình đó có tác dụng mở rộng nhãn quan nghề nghiệp của
học sinh, lôi cuốn thế hệ trẻ bước vào thế giới nghề nghiệp nhằm tìm hiểu và dự
kiến cho bản thân nghề nghiệp trong tương lai. Các môn học góp phần vào việc
gắn nội dung giảng dạy với công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, giáo dục nhân
sinh quan cách mạng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của người lao động mới.
Mặc dù mỗi môn học có những đặc thù riêng nhưng nếu giáo viên biết
vận dụng một cách sáng tạo, có thể tìm thấy nhiều nội dung lồng ghép những kiến
thức về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua mỗi giờ dạy. Chẳng hạn:
23
bài dạy Sinh vật có thể cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, cơ sở khoa
học của việc chăm sóc cây trồng, vật nuôi, liên hệ với thực tế phát triển nông - lâm
nghiệp của địa phương. Các định luật Vật lý, giáo viên có thể vận dụng vào những
nguyên lý làm việc của một số máy móc, thiết bị cơ học, điện, điện tử và ứng
dụng trong các lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể. Các bài học Địa lý sẽ cung cấp những
kiến thức tiềm năng về tự nhiên, tình hình và triển vọng phát triển kinh tế của từng
vùng, viễn cảnh của sự mở rộng nghề nghiệp… Mỗi môn học đều tiềm ẩn một
khả năng rất lớn về giáo dục hướng nghiệp trong nó.
Quá trình dạy và học bộ môn cũng chính là quá trình phát hiện, bồi
dưỡng năng khiếu và dẫn dắt học sinh phát triển năng khiếu của bản thân.
Trên cơ sở đó, giáo viên định hướng cho học sinh có năng khiếu, khuyên bảo các
em những lời khuyên về chọn nghề cho phù hợp với sự phát triển của bản thân.
Giáo dục hướng nghiệp qua dạy và học môn công nghệ, dạy nghề phổ
thông, hoạt động lao động sản xuất
nghề nghiệp, phát triển hứng thú nghề nghiệp.
Giáo dục nghề phổ thông là sự cụ thể hoá mục tiêu của giáo dục phổ
thông được quy định trong Luật Giáo dục năm 2005, đó là: “Chuẩn bị cho học
sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào đời sống lao động; ở cấp trung học phổ thông cần
củng cố và phát triển những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp”.
Cụ thể là: chuẩn bị cho học sinh một số kỹ năng lao động về những lĩnh vực nghề
phổ biến, cần thiết và phù hợp với lứa tuổi để khi ra trường, nếu không tiếp tục
học lên có thể tham gia lao động sản xuất tại gia đình, cộng đồng hoặc doanh
nghiệp được thuận lợi, đồng thời, góp phần định hướng nghề. Trong trường phổ
thông, hoạt động giáo dục nghề phổ thông được thực hiện 3 tiết/tuần ở lớp 11 với
tổng thời lượng là 105 tiết với hơn 60 nghề để học sinh lựa chọn.
Trong quá trình giáo dục hướng nghiệp, học sinh cần được tìm hiểu các
lĩnh vực nghề phổ biến trong xã hội, giúp cho việc định hướng nghề nghiệp và thấy
được sự phù hợp của năng lực bản thân với yêu cầu ở những nghề cụ thể. Hoạt
động giáo dục nghề phổ thông tạo cơ hội cho học sinh được học tập, thử thách
trong điều kiện của một nghề, làm cho quá trình tìm hiểu nghề có hiệu quả tích cực.
25
Thông qua hoạt động giáo dục nghề phổ thông, học sinh có điều kiện
củng cố nội dung lý thuyết, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học ở môn công
nghệ vào thực tiễn đời sống và sản xuất trong các lĩnh vực công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ, thủ công và tin học. Nhờ hoạt động này, học sinh được áp
dụng những kiến thức, kĩ năng đã học ở các môn văn hóa, nhất là môn toán và
các môn khoa học tự nhiên vào những lĩnh vực kĩ thuật, công nghệ cụ thể.
Bên cạnh việc góp phần quan trọng vào việc nâng cao khả năng vận
dụng các nội dung giáo dục phổ thông, hoạt động giáo dục nghề phổ thông
còn góp phần hình thành ở học sinh những phẩm chất của người lao động có
kế hoạch, có kỉ luật, có kĩ thuật và ý thức an toàn, vệ sinh môi trường. Hoạt