LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục QUẢN lý GIÁO dục đạo đức CHO học SINH TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG KIM LIÊN, hà nội - Pdf 42

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1.

3
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2. Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường

14
14

trung học phổ thông
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý giáo dục đạo đức cho học

23

sinh Trường Trung học phổ thông Kim Liên, Hà Nội

26

Chương 2.

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC
SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KIM LIÊN, HÀ
NỘI HIỆN NAY

2.1. Khái quát về Trường Trung học phổ thông Kim Liên, Hà Nội

PHỤ LỤC
MỞ ĐÂU

61
85
90
92
95

1. Lý do chọn đề tài
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ
XI của Đảng đã chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức,
1


lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham
nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn
chặn, đẩy lùi mà còn diễn biến phức tạp” [8, tr.173]. Một trong những giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo được Đại hội chỉ ra là:
“nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng,
giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống” [8, tr.216]. Đây là
vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong điều kiện thế giới có
nhiều biến động phức tạp như hiện nay.
Sự phát triển của kinh tế - xã hội đang đặt ra những yêu cầu ngày càng
cao đối với hệ thống giáo dục, đòi hỏi nền giáo dục phải tạo ra những con
người ngày càng phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú
về tinh thần và trong sáng về đạo đức. GDĐĐ cho học sinh THPT là một bộ
phận hữu cơ của quá trình giáo dục, có tính chất cốt lõi, nền tảng của công tác
giáo dục thế hệ trẻ, góp phần bồi dưỡng cho học sinh nhận thức về các giá trị
chuẩn mực đạo đức xã hội, định hướng cho các em những chuẩn mực, giá trị

ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn”.
Thế kỷ XVII, Komemxky - Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có
nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”.
Komemxky đã chú trọng PH môi trường bên trong và bên ngoài để GDĐĐ
cho HS [21, tr.27].
Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên
cứu về GDĐĐ như: A.C. Macarenco, V.A Xukhomlinxky… Nghiên cứu cho
việc GDĐĐ mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo
đức và GDĐĐ cho cán bộ, HS. Bác cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là
nền tảng của người cách mạng. Bác còn căn dặn Đảng ta phải chăm lo GDĐĐ
cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, HS thành những người thừa kế xây
dựng CNXH vừa có “đức” vừa có “tài”.
Ở Việt Nam liên quan đến đạo đức, GDĐĐ và quản lý GDĐĐ có nhiều
công trình khoa học bàn đến, có thể khái quát theo các hướng nghiên cứu
chính như sau:
4


* Hướng nghiên cứu về GDĐĐ
Khi nghiên cứu về vấn đề GDĐĐ các tác giả đã đề cập đến mục
tiêu, nội dung, PP GDĐĐ. Tiêu biểu phải kể đến công trình nghiên cứu
khoa học cấp nhà nước được tổng kết trong tác phẩm “ Về phát triển toàn
diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” – do Phạm Minh
Hạc chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, 2001). Lần đầu tiên trong lịch sử,
khái niệm đạo đức được thoát khỏi tư duy sao chép, xác định chuẩn mực
giá trị đạo đức không chỉ là quan hệ con người với con người mà trên 5
quan hệ (với bản thân, với người khác, với công việc, với môi sinh và lý
tưởng của cộng đồng).
Về mục tiêu GDĐĐ, tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu rõ: “Trang bị cho

Tuy nhiên những công trình trên đây chủ yếu mới chỉ dừng lại ở nhận xét, nhận
định có tính chất chung nhất, chưa nêu rõ các đặc điểm, nguyên nhân, cách
thức triển khai công tác quản lý GDĐĐ cho học sinh, sinh viên một cách bài
bản, có kế hoạch, có hệ thống, mang tính hiệu quả và tính bền vững. Chính vì
vậy, đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS Trường THPT Kim
Liên, Hà Nội là đề tài đáp ứng được với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn GDĐĐ
cũng như xu hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý GDĐĐ cho học sinh; đề xuất
các biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh Trường THPT Kim Liên, Hà Nội,
góp phần nâng cao chất lượng dạy học - giáo dục của Nhà trường.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý GDĐĐ cho học sinh
trường THPT.
- Đánh thực trạng GDĐĐ và quản lý GDĐĐ cho học sinh Trường THPT
Kim Liên, Hà Nội hiện nay.
- Đề xuất các biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh Trường THPT Kim
Liên, Hà Nội hiện nay.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
9


Quản lý giáo dục các phẩm chất nhân cách cho học sinh Trường THPT
Kim Liên, Hà Nội.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý GDĐĐ cho học sinh Trường THPT Kim Liên, Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và biện pháp quản lý GDĐĐ cho

- Bao gồm các PP: Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, hệ
thống hoá các vấn đề thông qua sự nghiên cứu hệ thống tài liệu lý luận,
chuyên khảo, các bài báo khoa học thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Bao gồm các PP:
- Tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu các văn bản, báo cáo tổng kết của
Nhà trường, các cơ quan thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội.
- Quan sát sư phạm: tiến hành quan sát hoạt động GDĐĐ cho học sinh
Trường THPT Kim Liên, Hà Nội hiện nay.
- Điều tra xã hội học: Xây dựng bộ phiếu điều tra, khảo sát với các đối
tượng là học sinh, giáo viên, CBQL Trường THPT Kim Liên, Hà Nội và cán
bộ thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hà Nội.
- Phương pháp tọa đàm trao đổi: Xây dựng mẫu hỏi và tổ chức tọa đàm,
trao đổi với học sinh, giáo viên, CBQL Trường THPT Kim Liên Hà Nội.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên
gia giáo dục và giáo viên có uy tín, kinh nghiệm.
- Phương pháp khảo nghiệm: Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch
khảo nghiệm tại Trường THPT Kim Liên, Hà Nội
- Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng PP toán thống kê để xử lí các số liệu
điều tra.
7. Ý nghĩa của đề tài

11


Bổ sung, làm rõ những vấn đề lý luận về GDĐĐ; quản lý GDĐĐ cho
học sinh Trường THPT. Đồng thời, đề xuất các biện pháp có tính đồng bộ,
khả thi góp phần nâng cao hiệu quả quản lý GDĐĐ cho học sinh Trường
THPT Kim Liên, Hà Nội hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể cung cấp những cứ liệu, luận cứ

Dưới góc độ Giáo dục học: "'đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan
hệ của con người với con người" [12].
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì đạo đức: "là phép tắc về quan hệ giữa
người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội" [34].
Theo quan điểm Mác - Lênin thì đạo đức là một hình thái ý thức xã hội,
có nguồn gốc từ lao động, từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống cộng đồng xã
hội. Đạo đức phản ánh và chị sự chi phối của tồn tại xã hội. Mỗi phương thức
sản xuất lại làm nảy sinh một dạng đạo đức tương ứng và do vậy đạo đức có
tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.
13


Ngày nay trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, thì khái
niệm "Đạo đức" cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới. Tuy nhiên,
không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các
giá trị đạo đức mới. Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo
đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc
với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại. Đó là tinh thần cần cù lao
động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội,
sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có nếp sống văn minh lành
mạnh, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả. Đạo đức là một hình
thái ý thức xã hội, chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế vật chất xã hội, đồng
thời nó cũng có quan hệ tương tác với các hình thái ý thức xã hội khác như
pháp luật, văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học…
Các quan niệm về đạo đức kể trên tuy có cách hiểu khác nhau tùy theo
góc độ tiếp cận, nhưng về mặt tổng quát đều có những điểm cơ bản thống
nhất như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội,
phản ánh hiện thực đời sống xã hội. Đây là một phương thức điều chỉnh hành
vi của con người, giúp con người ngày càng hoàn thiện hơn theo tiểu chuẩn

mọi phương diện, mọi lực lượng trong xã hội. Trong đó, nhà trường đóng vai
trò hết sức quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức học sinh; Là một
quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức của nhân cách dưới
tác động, ảnh hưởng có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có sự lựa chọn về
nội dung, PP, hình thức.
GDĐĐ trong trường phổ thông là một bộ phận của của quá trình giáo
dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục khác như giáo
dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và giáo
dục hướng nghiệp nhằm hình thành cho học sinh niềm tin, thói quen, hành vi,
chuẩn mực về đạo đức. GDĐĐ học sinh là quá trình tác động tới học sinh của
nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình
cảm, niềm tin đạo đức và xây dựng thể hiện được những thói quen, hành vi
đạo đức trong đời sống xã hội. Song giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ
đạo định hướng.
15


Từ cách hiểu trên, có thể quan niệm, GDĐĐ cho học sinh THPT là quá
trình tác động liên tục có mục đích, có kế hoạch của các lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường đến học sinh nhằm hình thành ở các em ý thức,
tình cảm, niềm tin đạo đức và rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức phù hợp
với yêu cầu chuẩn mực xã hội.
Bản chất GDĐĐ là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục
và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng, tạo lập tình
cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen, hành vi văn minh trong
cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội.
Trong quá trình giáo dục nhà giáo dục và đối tượng giáo dục có quan
hệ tương tác; những tác động của nhà giáo dục đóng vai trò định hướng, sự
tiếp nhận và chuyển hoá có ý thức các giá trị của đối tượng giáo dục đóng
vai trò quyết định sự thành công của quá trình giáo dục. Ở nhà trường phổ

nền đạo đức xã hội. PP GDĐĐ cho học sinh THPT rất đa dạng và phong
phú. Các nhà giáo dục và quản lý giáo dục phải vận dụng linh hoạt cho
phù hợp với mục đích, đối tượng và tình huống cụ thể như thuyết phục;
nêu gương; đối thoại, tranh luận; tổ chức rèn luyện, hình thành thói quen
hành vi tốt đẹp, tạo tình huống giáo dục; đòi hỏi sư phạm; PP thi đua,
khen thưởng, trách phạt…
Hình thức GDĐĐ. GDĐĐ cho học sinh THPT là một phận của quá
trình giáo dục tổng thể, nó được tiến hành thông qua các hình thức như:
Thông qua giảng dạy học tập môn GDCD và các bộ môn khác theo
chương trình; thông qua việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp,
hoạt động ngoại khoá, tham quan dã ngoại; thông qua các buổi sinh hoạt
truyền thống, sinh hoạt dưới cờ vào thứ hai hàng tuần; thông qua các
phong trào thi đua của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh; qua hoạt
động văn hoá, văn nghệ; qua hoạt động từ thiện, đền ơn đáp nghĩa và
GDĐĐ bằng cách “củng cố tăng cường giáo dục ở gia đình và cộng đồng,
kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường”....
17


1.1.2. Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường
trung học phổ thông
* Quản lý
Theo nghĩa rộng, “quản lý là hoạt động có mục đích của con người. Quản
lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của
những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn” [19] . Quản lý còn được
hiểu là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối
tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất
định. Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng
dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục
đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan [28].

Ở các cơ sở giáo dục, thì “quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự
giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể
quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và
các giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu
quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [5]. Tiêu điểm của nhà trường là quá trình
giáo dục nên cũng có thể hiểu quản lý giáo dục thực chất là những tác động của
chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học
sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các xã hội nhằm hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
GDĐĐ là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể của nhà trường.
Đây cũng là một trong những nội dung quản lý quan trọng đặc biệt của Hiệu
trưởng ở các trường phổ thông hiện nay.
Quản lý GDĐĐ là quá trình tác động có định hướng của chủ thể giáo
dục lên đối tượng giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra. Đây là
quá trình chủ đạo, điều hành hoạt động GDĐĐ của chủ thể giáo dục tác động
đến đối tượng giáo dục để hình thành những phẩm chất đạo đức của học sinh,
đảm bảo quá trình GDĐĐ đúng hướng, phù hợp với những chuẩn mực, quy
tắc đạo đức được xã hội thừa nhận.
19


Quản lý GDĐĐ cho học sinh còn là một quá trình huy động các lực
lượng giáo dục, các điều kiện phương tiện giáo dục, phù hợp các môi trường
giáo dục, giúp học sinh có được tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức và hình
thành hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Từ cách tiếp cận trên, đề tài cho rằng: Quản lý GDĐĐ cho học sinh
THPT là sự tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý đối với toàn bộ quá trình
GDĐĐ cho học sinh, nhằm đảm bảo cho quá trình GDĐĐ diễn ra theo đúng
kế hoạch và đạt được hiệu quả tối ưu đáp ứng mục tiêu, yêu cầu dạy học giáo dục của các trường phổ thông.
Về bản chất, quản lý GDĐĐ cho học sinh là quá trình tác động có định

học sinh. Trong những chủ thể quản lý nói trên thì cấp ủy, BGH nhà trường,
đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên trong nhà trường là chủ thể trực tiếp,
thường xuyên và quan trong nhất.
Khách thể quản lý GDĐĐ: Là học sinh, tập thể học sinh, chịu sự tác
động, điều khiển, quản lý của chủ thể lãnh đạo, quản lý trong suốt quá trình
học tập, rèn luyên ở nhà trường. Như vậy, học sinh và tập thể học sinh vừa là
khách thể (đối tượng chịu sự quản lý của chủ thể) vừa là chủ thể trong quá
trình tổ chức tự quản lý, tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của bản thân.
Nội dung quản lý: Bao gồm quản lý việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ; thực
hiện nội dung, PP, hình thức GDĐĐ; quản lý; quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả
GDĐĐ; quản lý sự PH các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong GDĐĐ cho
học sinh; quản lý quá trình tự tu dưỡng, tự rèn luyện của học sinh; quản lý các điều
kiện đảm bảo cho quá trình GDĐĐ...
Phương pháp quản lý GDĐĐ: bao gồm toàn bộ những cách thức, biện
pháp tác động, điều khiển của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng hệ
thống công cụ, phương tiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã xác định. Hệ
thống công cụ quản lý gồm: các chỉ thị, nghị quyết của các tổ chức đảng;
pháp luật của Nhà nước; điều lệ trường THPT; quy chế GDĐT và chương
trình, kế hoạch, mệnh lệnh của chỉ huy các cấp. Sử dụng đồng bộ nhiều PP
21


quản lý, song cần tập trung vào ba PP chủ yếu, đó là: PP hành chính; PP tâm
lý xã hội; PP kích thích bằng vật chất, tinh thần...
1.2. Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung
học phổ thông
1.2.1. Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh
Việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho học sinh là việc làm quan trọng,
cần thiết trong công tác quản lý giáo dục. Đây là một quá trình xác định
những mục tiêu và các biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó.

thực thi kế hoạch, đặc biệt chú trọng việc đổi mới nội dung, hình thức, PP
GDĐĐ cho phù hợp. Chú trọng quản lý nâng cao chất lượng dạy học môn
GDCD, tích hợp GDĐĐ trong các môn học khác và trong các hoạt động
ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khoá…Ngoài ra, người Hiệu trưởng phải
luôn để ý, giám sát các hoạt động GDĐĐ được thực hiện bởi các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nhà trường để điều chỉnh, động viên, kích thích và uốn
nắn việc thực thi kế hoạch đề ra.
1.2.3. Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đạo đức học sinh
Kiểm tra, đánh giá kết quả GDĐĐ học sinh khâu cuối cùng của hoạt động
GDĐĐ. Thực chất quản lý kết quả GDĐĐ là hoạt động kiểm tra, đánh giá mức
đạt được của mục tiêu GDĐĐ ở từng giai đoạn và tổng thể chương trình.
Việc quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả GDĐĐ là quá trình chủ thể
quản lý tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng của toàn bộ quá trình GDĐĐ
theo những tiêu chí về mục tiêu, yêu cầu của chương trình, nội dung và kế
hoạch GDĐĐ đã được xác định trong từng tuần, tháng, học kỳ, năm học.
Kiểm tra, đánh giá phải chính xác, khách quan, toàn diện, công khai và công
bằng, căn cứ vào các tiêu chí đã được xác định, loại bỏ các yếu tố chủ quan,
tranh tư tưởng nể nang, thành tích. Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả
GDĐĐ không dừng lại ở kết quả cuối cùng mà tiến hành kiểm tra đánh giá
tất cả các khâu: mục tiêu, chương trình nội dung; hình thức và kế hoạch
trong quá trình GDĐĐ cho học sinh
23


Cách kiểm tra: Kiểm tra từ trên xuống những hoạt động của các tổ
chức, cá nhân có liên quan đến GDĐĐ cho học sinh, kiểm tra qua các bài thi
tìm hiểu, kiểm tra qua quan sát, tự kiểm tra đánh giá của đội thanh niên, đội tự
quản của học sinh, kiểm tra qua các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể của từng hoạt
động, kiểm tra qua các tình huống.
Đánh giá: Đánh giá thi đua, khen thưởng theo nhiều mức độ khác nhau,

hoạt động giáo dục trong nhà trường nói chung, hoạt động GDĐĐ nói riêng.
1.2.5. Theo dõi, điều chỉnh quá trình tự tu dưỡng, tự rèn luyện đạo
đức của học sinh
Kết quả của quá trình GDĐĐ cho học sinh phụ thuộc rất lớn vào khả
năng tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của chính học sinh, những tác động của
các lực lượng giáo dục chỉ là những yếu tố bên ngoài. Nếu học sinh không
phát huy được vai trò năng động, chủ quan trong tiếp nhận những tác động
giáo dục và tự tự tu dưỡng, tự rèn luyện đạo đức thì không thể hình thành các
thói quen hành vi, đạo đức. Vì vậy, quá trình tự tự tu dưỡng, tự rèn luyện đạo
đức của học sinh cần có sự quản lý chặt chẽ của cấp ủy, BGH, đội ngũ cán bộ,
giáo viên, nhân viên trong nhà trường. Quản lý quá trình tự tu dưỡng, tự rèn
luyện đạo đức nhằm khơi dậy động cơ, nhu cầu, kích thích tích cực, sáng tạo
của mỗi học sinh trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Chuyển hóa những yêu
cầu, chuẩn mực đạo đức bên ngoài thành ý thức, thái độ hành vi bên trong
mỗi học sinh. Cần chú trọng vào hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch kế
hoạch tự giáo dục, tự rèn luyện; kết hợp bồi dưỡng động cơ TGD đúng đắn
cho học sinh với trang bị cho học sinh PP, cách thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện
đạo đức và khả năng tự đánh giá bản thân so với yêu cầu chuẩn mực xã hội.
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh
Trường Trung học phổ thông Kim Liên, Hà Nội
1.3.1. Tác động của môi trường kinh tế xã hội hiện nay, đặc biệt là mặt
trái của kinh tế thị trường

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status