MỤC LỤC
Trang
3
MỞ ĐẦU
Chương 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN LÂM SÀNG
1.1. Những khái niệm cơ bản
15
15
1.2. Nội dung quản lý bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lâm sàng ở Học
viện Quân y
27
1.3. Những yếu tố tác động đến quản lý bồi dưỡng đội ngũ giảng
viên lâm sàng ở Học viện Quân y
32
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG
VIÊN LÂM SÀNG Ở HỌC VIỆN QUÂN Y
36
2.1. Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lâm sàng ở Học
viện Quân y
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
95
PHỤ LỤC
100
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng ta đã xác định mục tiêu cơ bản của GD&ĐT là nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo con người Việt Nam có tri thức,
có kỹ năng, có thái độ ứng xử đáp ứng được công cuộc đổi mới hiện nay; khẳng
định vai trò hết sức quan trọng của sự nghiệp GD&ĐT, trong đó chú trọng đến
công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, giáo viên trong hệ thống các
nhà trường. Trong Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Đảng ta đã khẳng định:
"Nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng và được xã hội tôn vinh”.
Học viện Quân y là nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng có chức
năng đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị, ứng dụng và triển khai những
thành tựu y học tiên tiến trên thế giới, đáp ứng yêu cầu nhân lực y tế cho
Quân đội và xã hội. Trong những năm gần đây, HVQY còn được Nhà nước,
Quân đội giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực y tế phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện nhận
tâm và có nhiều chủ trương, chính sách trong bồi dưỡng ĐNGVLS thông qua
các chính sách về tuyển dụng, đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm, thực hiện các
chính sách đãi ngộ,... nhằm tạo động lực, tăng sự gắn kết sự cống hiến của lực
lượng này với Học viện. Tuy nhiên, thực trạng bồi dưỡng ĐNGVLS và quản
lý bồi dưỡng cho đội ngũ này còn tồn tại khá nhiều bất cập, hạn chế trong
quản lý, bồi dưỡng ĐNGVLS của Học viện. Một trong những nguyên nhân
hạn chế của vấn đề này là do hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi
dưỡng ĐNGVLS chưa thực hiện theo đúng qui trình, còn mang tính kinh
nghiệm, chưa khoa học; việc kết hợp các phương pháp, hình thức bồi dưỡng
ĐNGVLS chưa đa dạng; mặt khác chủ thể chưa tích cực, chủ động tự bồi
dưỡng để nâng cao phẩm chất và năng lực của bản thân,... Vấn đề bồi dưỡng
ĐNGVLS cần phải có sự thống nhất về nhận thức của các tổ chức và lực lượng
trong đội ngũ cán bộ quản lý, chỉ huy lãnh đạo Học viện. Xuất phát từ những
lý do đó, chúng tôi chọn đề tài “Quản lý bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lâm
sàng ở Học viện Quân y” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
4
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nói chung và bồi dưỡng ĐNGV các
trường cao đẳng và đại học trong những năm gần đây được Đảng, Nhà nước và
toàn xã hội quan tâm, là đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa
học. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về bồi
dưỡng đội ngũ giảng viên. Tiêu biểu có các công trình của các tác giả như:
* Nghiên cứu trên thế giới
Ở các quốc gia, giáo dục đại học được nhà nước rất coi trọng. Do vậy,
nhiều chủ thể nghiên cứu thường nhận thấy sự cần thiết phải quan tâm đến trí
thức nhà giáo, nhất là đội ngũ giảng viên.
J.Vial (1993) nhà giáo dục Pháp, trong cuốn “Lịch sử và Thời sự về các
nhưng lời lẽ phải rõ ràng và nên có thật nhiều thí dụ để học sinh nhận thức được
đầy đủ sự bổ ích rộng lớn của nó”.
Dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin các nghiên cứu của:
B.M. Chieplôp; X.L. Rubinstêin; X.I. Kixêgốp; A.N. Lêonchiev; N.X. Lâytex;
A.G. Côvaliov; Ph.N. Gônôbôlin; B.G. Ananhiev; A.V. Pêtrovxki và một số tác
giả khác đã có những nghiên cứu tương đối toàn diện về năng lực sư phạm. Đây là
những cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu năng lực dạy học của người giáo
viên. Nhưng đáng chú ý là A.S. Makarencô, nhà giáo dục nổi tiếng từng nhấn
mạnh rằng, những người làm công tác dạy học, giáo dục phải có phẩm chất và
năng lực, đặc biệt là tri thức và nghệ thuật dạy học, giáo dục. Để trở thành
nhà giáo dục chân chính, Ông yêu cầu phải thực sự coi trọng nghề nghiệp,
tích cực làm việc, rèn luyện trau dồi tri thức toàn diện.
Như vậy, các tác giả đã có những khẳng định tầm quan trọng của hoạt
động giảng dạy và đưa ra những yêu cầu về năng lực giảng dạy đối với người
thầy. Nhưng các ông chưa chỉ ra được con đường, cách thức để bồi dưỡng năng
lực dạy học cho người giáo viên cũng như chưa làm rõ các nội dung của năng
lực dạy học và người thầy cần làm thế nào để có được năng lực đó.
Trong thời kỳ Chủ nghĩa Tư bản phát triển mạnh mẽ, đã có nhiều nhà
nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau đi sâu nghiên cứu về năng lực
nói chung và năng lực dạy học nói riêng.
6
* Nghiên cứu trong nước
- Nhóm nghiên cứu về năng lực dạy học của giảng viên
Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về bồi dưỡng giảng viên của các tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khánh Bằng,
Phan Thanh Bình. Các tác giả quan niệm, năng lực dạy học là một phương
diện của năng lực sư phạm, có sự nhấn mạnh năng lực truyền đạt tri thức, khả
về cơ cấu. Trong đó, chuẩn về chất lượng giáo viên cần đạt chuẩn ở ba khía cạnh:
chuẩn về trình độ chuyên môn sư phạm (học vấn), chuẩn về trình độ nghiệp vụ sư
phạm, chuẩn về đạo đức tư cách người giáo viên [21].
Tác giả Trần Kiểm, khi bàn về bồi dưỡng ĐNGV trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã nhấn mạnh: Muốn bồi dưỡng phát
triển ĐNGV phải xác định được trình độ hiện có của đội ngũ người thầy giáo
trong tương lai; yêu cầu đặt ra cho sự phát triển ĐNGV trong thời kỳ mới trở
thành những thách thức không nhỏ. Việc vượt qua những thách thức đó, đến lượt
nó trở thành nhân tố quyết định chất lượng giáo dục theo yêu cầu xã hội. Việc
bồi dưỡng phát triển ĐNGV là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, trong
đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo [30; 31].
Công trình khoa học: “Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên khoa học
xã hội nhân văn trong quân đội hiện nay” (2005), do tác giả Đặng Đức Thắng
chủ nhiệm đã khẳng định vị trí, vai trò đội ngũ nhà giáo, đồng thời xây dựng một
hệ thống tiêu chí đánh giá cũng như đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng và phát
triển ĐNGV khoa học xã hội nhân văn đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá ở các nhà
trường quân đội hiện nay.
Tác giả Trần Đình Tuấn nghiên cứu biện pháp “Chuẩn hoá chất lượng
đội ngũ nhà giáo Quân đội” từ việc xác định cấu trúc nhân cách của nhà giáo
Quân đội bao gồm các phẩm chất nhân cách của người chỉ huy và các phẩm chất
nhân cách của nhà sư phạm để khi phối hợp hoạt động quân sự và hoạt động sư
phạm sẽ tạo ra loại hình hoạt động mới là hoạt động sư phạm quân sự, làm nảy
sinh những nét tính cách mới, những phẩm chất mới... Trên cơ sở đó tác giả xác
8
định một số biện pháp chuẩn hoá chất lượng đội ngũ nhà giáo Quân đội cho phù
hợp với tình hình mới và xu thế đổi mới giáo dục.
- Nhóm công trình nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
và quyền hạn của người giảng viên; xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển
ĐNGV nhằm đảm bảo đủ số lượng, chuẩn về chất lượng và đồng bộ về cơ
cấu; xây dựng tiêu chí tuyển chọn giảng viên; sử dụng ĐNGV hợp lý, khoa
học, đảm bảo đúng chuyên môn, nghiệp vụ; xây dựng tiêu chí đánh giá giảng
viên; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên; xây dựng các chính sách
đảm bảo phát triển đội ngũ giảng viên [39].
Quản lý bồi dưỡng ĐNGV không chỉ được thể hiện qua các công trình
nghiên cứu mà còn được nhiều tác giả đề cập thông qua các bài báo khoa học
đăng trên các tạp chí, tiêu biểu như: “Đổi mới cách dạy và cách học các môn
nghiệp vụ trong trường sư phạm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo
viên” của Nguyễn Văn Khải; “Mấy vấn đề xây dựng đội ngũ nhà giáo Quân
đội trong tình hình mới dưới ánh sáng nghị quyết của Đảng” của Nguyễn
Hùng Oanh; “Xây dựng, phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu mới của đào tạo
quân sự” của Ngô Minh Tuấn; “Bồi dưỡng kinh nghiệm thực tiễn cho GV,
giáo viên trẻ ở các nhà trường Quân đội” của Nguyễn Ngọc Sáng; “Rèn
luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm cho đội ngũ GV, giáo viên trẻ” của Đặng
Văn Khương, Đặng Thị Hồng Thắng; “Chuẩn hóa chất lượng đội ngũ nhà
giáo Quân đội” của Trần Đình Tuấn ...
Từ sự khái quát những nghiên cứu liên quan đến quản lý, bồi dưỡng
ĐNGV chúng tôi nhận thấy:
Một là, những nghiên cứu đều cho rằng bồi dưỡng ĐNGVvà quản lý
bồi dưỡng ĐNGV giữ vai trò quan trọng, là biện pháp có hiệu quả nhất để
nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Hai là, để nâng cao chất lượng GD&ĐT phải bồi dưỡng đội ngũ nhà
giáo theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ số lượng, đồng
10
bộ về cơ cấu. Đặc biệt là cần nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức,
Đề xuất các biện pháp quản lý bồi dưỡng ĐNGVLS ở HVQY hiện nay.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Bồi dưỡng ĐNGV ở HVQY.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý bồi dưỡng ĐNGVLS ở HVQY hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn bồi dưỡng quản
lý bồi dưỡng ĐNGVLS ở HVQY. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản
lý nhằm nâng cao chất lượng ĐNGVLS hiện nay.
Đối tượng khảo sát là cán bộ quản lý, các bộ môn, khoa, giảng viên lâm
sàng và học viên của HVQY. Thời gian khảo sát, các số liệu nghiên cứu từ
năm 2011 đến năm 2014.
5. Giả thuyết khoa học
Quản lý bồi dưỡng ĐNGVLS ở HVQY phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Nếu trong thực tiễn quản lý bồi dưỡng ĐNGVLS, các chủ thể quản lý đề xuất
và thực hiện tốt các biện pháp như: Nâng cao nhận thức và phát huy vai trò,
trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng sư phạm; xây dựng và thực hiện tốt kế
hoạch bồi dưỡng; đa dạng hóa nội dung, hình thức, phương pháp quản lý bồi
dưỡng; phát huy tính tích cực, tự giác của giảng viên trong tự bồi dưỡng; thực
hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng thì chất lượng, hiệu quả
bồi dưỡng sẽ tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng ĐNGVLS của Học viện
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học
viện trong giai đoạn mới.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác -Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
13
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý
về một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan tới việc nghiên cứu đề tài; học
tập trao đổi kinh nghiệm các học viện, nhà trường trong và ngoài Quân đội.
- Phương pháp hỗ trợ
Sử dụng toán thống kê để xử lý kết quả khảo sát nhằm rút ra các kết
luận khoa học khái quát cho đề tài.
7. Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu thành công đề tài có ý nghĩa quan trọng trong bồi dưỡng
ĐNGVLS của Học viện, giúp cho các chủ thể quản lí có tầm nhìn trong tổ chức
quy hoạch phát triển ĐNGVLS hiện tại cũng như tương lai.
Có thể làm tài liệu nghiên cứu giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các
học viện trường đại học có đào tạo nhân lực y tế.
8. Kết cấu của đề tài
Đề tài có kết cấu gồm 3 chương (9 tiết); Kết luận và kiến nghị; Danh
mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.
14
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÂM SÀNG
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1. Giảng viên lâm sàng
Nhà giáo là người lao động trí óc chuyên nghiệp, thực hiện nhiệm vụ giảng
dạy trong các nhà trường phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp. Luật Giáo dục 2005
luật; các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật.
Lâm sàng có nghĩa là “giường bệnh”, còn trong ngành y thì lâm sàng là
thuật ngữ y học dùng để chỉ hành động thăm, khám, điều trị cho bệnh nhân
trực tiếp tại giường bệnh. Lâm sàng là một khâu quan trọng trong quá trình
khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh.
Ở các trường đại học y khoa, sau giai đoạn đào tạo tiền lâm sàng, giai
đoạn mà sinh viên y khoa được học và thực hành trên những mô hình có đáp
ứng như con người tùy theo các tình huống cần xử trí, họ bước vào giai đoạn
đào tạo lâm sàng. Đó là giai đoạn đào tạo, sinh viên y khoa được trực tiếp tiếp
xúc với người bệnh, vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được
trang bị và rèn luyên vào thăm khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân. Chính
vì vậy, đào tạo lâm sàng luôn được các trường đại học y quan tâm đặc biệt.
Những giảng viên giảng dạy trong giai đoạn đào tạo lâm sàng được gọi là
giảng viên lâm sàng.
Như vậy có thể hiểu: Giảng viên lâm sàng HVQY là những người giảng
dạy các môn lâm sàng, cận lâm sàng tại các cơ sở điều trị trong và ngoài Quân đội,
phục vụ cho việc đào tạo nhân lực y tế cho Quân đội và Quốc gia.
Giảng viên lâm sàng HVQY phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt
đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Có tinh thần trách nhiệm
trong công tác, yêu ngành, yêu nghề, có trình độ lý luận chính trị và chuyên môn
nghiệp vụ cao, có năng lực nghiên cứu khoa học, tư duy sáng tạo, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ giảng dạy các bậc học, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ
được giao [25]. Giảng viên lâm sàng của HVQY phải giảng dạy có chất lượng
16
theo mục tiêu, chương trình đào tạo của nhà trường; nghiên cứu, phát triển ứng
dụng khoa học; điều trị bệnh nhân; học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận
chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy.
Đặc thù của giảng dạy lâm sàng đó là phần lý thuyết liên quan rất rộng bao
gồm: Khoa học cơ bản, y học cơ sở, triệu chứng học, bệnh học, điều trị học...vận
dụng các tình huống cụ thể, trên người bệnh phong phú và đa dạng, để có thái độ
xử trí đúng đắn. Vì vậy, công tác đào tạo học viên Y khoa được xem như một
trong những ngành đào tạo khó nhất, có những yêu cầu rất nghiêm ngặt.
* Tiêu chuẩn GVLS của HVQY
Đối với trợ giảng (giảng dạy thực hành): Có bằng tốt nghiệp đại học dài
hạn chính quy loại khá trở lên.
Đối với giảng viên (giảng dạy cả lý thuyết và thực hành): có bằng tốt
nghiệp thạc sĩ trở lên; đối với giảng viên giảng dạy chuyên khoa I, chuyên
khoa II phải có bằng chuyên khoa II; đối với giảng viên giảng dạy thạc sĩ, tiến
sĩ phải có bằng tiến sĩ.
Sử dụng thành thạo ít nhất một loại ngoại ngữ phục vụ cho công tác chuyên
môn và giao tiếp được bằng tiếng Anh (được tiểu ban ngoại ngữ - tin học của Học
viện đánh giá đạt hoặc có chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh Toefl BPT từ 450 điểm,
Toefl IBP từ 45 điểm, IELTS từ 4,5 điểm, chứng chỉ B1 Châu Âu trở lên hoặc đã
được đào tạo từ trình độ đại học trở lên tại nước ngoài).
Có tham gia nghiên cứu khoa học hoặc sáng kiến cải tiến kĩ thuật ở cấp
Bộ môn. Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và thời gian công tác
tại Bộ môn, Khoa ít nhất là 2 năm đối với trợ giảng; là trợ giảng ít nhất 2 năm
đối với giảng viên, đối với cán bộ đã tốt nghiệp bác sĩ nội trú, chuyên khoa II,
thạc sĩ, tiến sĩ, có thể được xem xét thông qua giảng viên sớm hơn quy định
nếu cấp uỷ, chỉ huy Bộ môn đề nghị nhưng không dưới ½ thời gian quy định
(trợ giảng > 1 năm, giảng viên > 2 năm tính từ khi về Bộ môn, Khoa). Tham
gia dự giờ giảng của Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm bộ môn, khoa ít nhất 3 lần.
18
Nhiệm vụ cụ thể của giảng viên lâm sàng: Giảng dạy có chất lượng
khái niệm đội ngũ được sử dụng rộng rãi như: Đội ngũ giảng viên, đội ngũ
CBQL, đội ngũ sinh viên, đội ngũ học viên…
Trong mỗi tổ chức, cá nhân được đặt ở một vị trí nhất định nhằm thực
hiện một hoặc một số chức năng, nhiệm vụ nào đó của tổ chức. Hoạt động của
họ là một trong những yếu tố tạo nên hoạt động và kết quả hoạt động của tổ
chức. Mỗi người thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình là điều kiện để
người khác trong tổ chức thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của họ. Như vậy,
muốn một tổ chức nào đó hoạt động có hiệu quả phải có một đội ngũ đồng bộ.
Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: "Đội ngũ giáo viên trong ngành
giáo dục là tập thể người, bao gồm cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân
viên; nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội
ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục" [12, tr.16].
Nhìn chung, cách quan niệm về đội ngũ giáo viên được hiểu khá rộng
đó là tập hợp người làm nghề dạy học, giáo dục, được tổ chức thành một lực
lượng, cùng chung nhiệm vụ là thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập
thể đó, tổ chức đó.
Đội ngũ giảng viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo
dục ở các trường đại học. Họ được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung
một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhà giáo cùng thực hiện các
nhiệm vụ và được định hướng các quyền lợi theo Luật Giáo dục và các Luật
khác được Nhà nước quy định. ĐNGV là lực lượng tham gia trực tiếp vào quá
trình giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, bồi
dưỡng và phát triển nhân tài cho đất nước.
Để tạo thành đội ngũ, trước hết phải có một số lượng giảng viên nhất
định. Việc xác định số lượng không nhất thiết không phải theo ý muốn chủ
quan của một cá nhân nào mà phải xuất phát từ nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và
quy định của cấp trên về việc tổ chức lao động sư phạm của mỗi nhà trường.
Chất lượng ĐNGV được thể hiện ở chất lượng của từng người. Đó là phẩm
20
cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ” [13, tr. 58].
21
Trong bài viết: “Quản lý nhân sự trong giáo dục, đào tạo”, tác giả Mạc Văn
Trang có nêu: “Bồi dưỡng là nâng cao trình độ về kiến thức và kỹ năng lên một bước
mới”
Unesco định nghĩa: Bồi dưỡng có nghĩa là nâng cao trình độ nghề
nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao
kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng
nhu cầu lao động nghề nghiệp.
Bồi dưỡng được hiểu là "Làm cho tăng thêm trình độ, năng lực hoặc
phẩm chất, sức khỏe” với nhiều hình thức, mức độ khác nhau. Bồi dưỡng
không đòi hỏi chặt chẽ chính qui như đào tạo và được thực hiện trong thời
gian ngắn. Như vậy đối tượng bồi dưỡng là những người đã được đào tạo và
đã có trình độ chuyên môn nhất định. Bồi dưỡng là quá trình bổ sung kiến
thức, kĩ năng (những nội dung liên quan đến nghề nghiệp) để nâng cao trình
độ trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn nhất định. Giúp đối tượng bồi
dưỡng có cơ hội củng cố, mở rộng hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công
việc đang làm.
Từ những phân tích trên, có thể quan niệm: Bồi dưỡng ĐNGVLS là tổng
hợp các biện pháp tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể bồi
dưỡng đến ĐNGVLS để bổ sung, cập nhật kiến thức, năng lực sư phạm, năng
lực chuyên môn, năng lực nghiên cứu khoa học, nâng cao phẩm chất chính trị, y
đức, đáp ứng yêu cầu nhân lực y tế của Quân đội và Quốc gia.
Mục đích bồi dưỡng: Là nhằm từng bước xây dựng và hoàn thiện phẩm
chất, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của người giảng viên lâm sàng, góp phần
phát triển ĐNGV của HVQY.
dưỡng dài hạn, kế hoạch quản lý ngắn hạn, kế hoạch bồi dưỡng theo chu trình.
1.1.4. Quản lý bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lâm sàng Học viện Quân y
23
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý là “chức năng và hoạt động của
hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kĩ thuật, xã hội), bảo đảm giữ
gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện
những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [29, tr. 580].
Hiện nay, quản lý được định nghĩa rõ hơn. Theo tác giả Nguyễn Ngọc
Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập
thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện
được những mục tiêu dự kiến” [44, tr.87].
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét
cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình
“Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý”
gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển” [3, tr.89].
Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều chỉnh các quá
trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với
qui luật, đạt tới mục đích đề ra và đúng ý chí của người quản lý.
Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý để
tạo ra một sự chuyển biến toàn bộ hệ thống nhằm đạt đến một mục đích nhất
định. Tóm lại, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song về cơ
bản đều cho rằng: Quản lý là một loại hoạt động xã hội, luôn gắn liền với một
nhóm người hay một tổ chức xã hội nào đó. Bản chất của hoạt động quản lý,
là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông
qua các chức năng quản lý là kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra giúp
cho hệ thống ổn định, thích ứng, tăng trưởng và phát triển.
Từ những phân tích trên, có thể quan niệm: Quản lý bồi dưỡng ĐNGVLS
bồi dưỡng được tổ chức khoa học.
Quản lý bồi dưỡng ĐNGVLS ở HVQY ngoài những đặc trưng chung của
hoạt động quản lý bồi dưỡng nói chung, quản lý quá trình bồi dưỡng ĐNGVLS
của HVQY còn bị chi phối bởi các yếu tố cụ thể tạo nên những đặc trưng riêng
của quá trình này, bao gồm:
Một là, quản lý bồi dưỡng ĐNGVLS luôn gắn chặt với mục tiêu, yêu
cầu GD&ĐT của HVQY, Bệnh viện Quân y 103, Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu
25
Trác… và quan hệ chặt chẽ với quá trình bồi dưỡng chính trị - tư tưởng; bồi
dưỡng phẩm chất đạo đức, y đức và văn hóa; bồi dưỡng phong cách, tác
phong công tác; bồi dưỡng ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật; bồi dưỡng
năng lực nghiên cứu khoa học; bồi dưỡng giá trị cộng đồng, giá trị truyền
thống cho đội ngũ giảng viên. Mục tiêu của các quá trình nêu trên là nâng cao
chất lượng toàn diện cho ĐNGV nhằm đạt chuẩn chức danh nhà giáo theo
quy định của Bộ Quốc phòng và Bộ GD&ĐT.
Hai là, nội dung bồi dưỡng ĐNGVLS của HVQY vừa là nội dung cơ bản
trong chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, vừa là nội dung bồi dưỡng
giảng viên thường xuyên. Do vậy, quản lý quá trình bồi dưỡng ĐNGVLS không
bó hẹp trong quản lý nội dung bồi dưỡng theo chương trình do Bộ GD&ĐT, Bộ
Quốc phòng quy định, mà còn quản lý tổng hợp cả quá trình bồi dưỡng cho
giảng viên bao gồm cả hoạt động của các cơ quan, bộ môn, các tập thể lãnh đạo,
chỉ huy các cấp. Đó là sự tác động phối hợp nỗ lực của các chủ thể và đối tượng
bồi dưỡng nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu bồi dưỡng giảng viên lâm sàng.
Ba là, quản lý bồi dưỡng ĐNGVLS không tách rời quá trình tự quản lý, tự
bồi dưỡng của ĐNGVLS; phát huy vai trò của giảng viên với tư cách vừa là chủ
thể quản lý, vừa là đối tượng quản lý trong quá trình nâng cao trình độ phẩm chất
chính trị, y đức, chuyên môn nghiệp vụ.