Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------------------
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NHUNG
CHUYÊN NGÀNH : GIÁO DỤC HỌC
L
L
THÁI NGUYÊN – 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5. Giả thuyết khoa học 3
6. Các phương pháp nghiên cứu 3
7. Phạm vi và giới hạn của đề tài 3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH
3.2. Một số biện pháp đề xuất 92
3.3. Khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đề xuất
98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
100
1. KẾT LUẬN CHUNG 100
2. KIẾN NGHỊ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
PHỤ LỤC
107
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Lời cảm ơn
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới thầy giáo
- TS. Nông Khánh Bằng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, các thầy
cô giáo khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái
Nguyên, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên, khích lệ
tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, thầy cô giáo và các em học
sinh trường THCS Thị Trấn Ngô Đồng và trường THCS xã Giao Hà đã
nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình điều tra thực
trạng, thu thập thông tin, số liệu phục vụ luận văn.
Dù đã có nhiều cố gắng, song do điều kiện và thời gian hạn chế nên
trong luận văn của em chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót. Em rất
mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo để
luận văn của em được hoàn chỉnh hơn.
Dân số DS
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, V.I. Lênin: “Cùng với việc
xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia
đình cũng đƣợc coi là cấp bách”.
Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do chủ tịch hội đồng bộ
trƣởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung
học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên
quan xây dựng chƣơng trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dƣỡng
cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình
và nuôi dạy con cái”.
Trong xu thế đổi mới con ngƣời Việt Nam vừa là mục tiêu vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Vấn đề con ngƣời
là một trong những vấn đề luôn đƣợc xã hội coi trọng và quan tâm ở mọi
thời đại. Trong giai đoạn đổi mới hiện nay của đất nƣớc ta, việc coi trọng
chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời Việt Nam đã và đang trở thành mục
tiêu, động lực của chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp GDSKSS cho học sinh lớp 9 huyện Giao Thủy- Nam Định
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề GDSKSS cho học sinh lớp 9.
4.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng GDSKSS cho học sinh lớp 9 huyện
Giao Thủy- Nam Định.
4.3. Đề xuất một số biện pháp có tính khả thi góp phần nâng cao chất
lƣợng GDSKSS cho học sinh lớp 9 huyện Giao Thủy - Nam Định.
5. Giả thuyết khoa học
Công tác GDSKSS cho học sinh lớp 9 đã đƣợc quan tâm nhƣng chƣa
có hệ thống, chƣa đƣợc tổ chức thực hiện một cách thƣờng xuyên. Nếu đề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
xuất đƣợc một số biện pháp mang tính khoa học và thích hợp sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả công tác GDSKSS cho học sinh lớp 9 huyện Giao Thủy
- Nam Định.
6. Các phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa các
tài liệu lý luận về vấn đề nghiên cứu.
- Phƣơng pháp lịch sử.
6.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp quan sát sƣ phạm
- Phƣơng pháp điều tra (phiếu anket, trò chuyện…)
- Phƣơng pháp khảo nghiệm (lấy ý kiến chuyên gia)
6.3. Nhóm phƣơng pháp xử lý số liệu và phân tích sƣ phạm
7. Phạm vi và giới hạn của đề tài
- Đề tài nghiên cứu các biện pháp GDSKSS cho học sinh lớp 9 huyện
Giao Thủy- Nam Định.
- Khảo sát cán bộ, giáo viên và học sinh lớp 9 trƣờng THCS Thị Trấn
tầm quan trọng và sự cần thiết phải GDGT cho thế hệ trẻ, giúp họ làm chủ
quá trình sinh sản của mình một cách khoa học, phù hợp với tiến bộ xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
GDDS đã đƣợc thực hiện ở một số nƣớc trên thế giới, đặc biệt ở các
nƣớc đang phát triển. Tuy nhiên, trƣớc năm 1994 chính sách dân số và nội
dung GDDS của các nƣớc đều tập trung vào các vấn đề dân số phát triển
(quy mô dân số, di cƣ, chuyên cƣ, KHHGĐ…).
Năm 1994, Hội nghị ICPD (Intenation Conference on Population
Development) ở Cairo đã đánh dấu một mốc quan trọng trong sự thay đổi
chính sách dân số ở các quốc gia. Tuyên ngôn của ICPD đã kêu gọi các
nƣớc đặt vai trò chất lƣợng dân số là ƣu tiên hang đầu, trong đó các vấn đề
SKSS , đặc biệt là vấn đề SKSS VTN. Từ đây mục tiêu GDDS của các
nƣớc đã thay đổi.
Nếu trƣớc năm1994, GDDS nhấn mạnh đến các nội dung dân số phát
triển thì từ sau năm 1994, GDDS nhấn mạnh tới các nôi dung SKSSVTN
nhƣ là một ƣu tiên.
GDSKSS và SKSSVTN là những vấn đền mới chính thức đƣợc thừa
nhận tại hội nghị quốc tế về “Dân số và phát triển” ở Cairo - Ai Cập
(1994). SKSS đƣợc coi là định hƣớng chỉ đạo của hầu hết các chƣơng trình
dân số thế giới. Hội nghị này đã thống nhất một chƣơng trình hành động về
dân số và phát triển trong 20 năm tới, nó đã đƣa ra một khái niệm chiến
lƣợc mới về SKSS, đề ra 15 nguyên tắc khẳng định con ngƣời mới là trung
tâm đối với sự phát triển bền vững. Cũng chính tại hội nghị này, một khái
niệm mới về SKSS bao GDSKS gồm tất cả các nội dung liên quan tới tình
trạng sức khỏe, quá trình sinh sản và chất lƣợng cuộc sống đã đƣợc trình
bày cặn kẽ trong chƣơng trình hành động của ICPD. Sau hội nghị này, hàng
loạt các quốc gia trên thế giới cũng lần lƣợt tổ chức nhiều hội nghị bàn về
vấn đề SKSSVTN nhƣ:
- Hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh ( 1995)
hƣớng dẫn sinh đẻ có kế họach, văn bản đầu tiên của Nhà nƣớc Việt Nam
về DS - KHHGĐ đã ghi rõ: “Vì sức khỏe của ngƣời mẹ, vì hạnh phúc và sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
hài hòa của gia đình để cho việc giáo dục và chăm sóc sức khỏe con cái
đƣợc tốt hơn, việc sinh đẻ của nhân dân cần đƣợc hƣớng dẫn một cách
thích hợp”.
Nghị định đầu tiên 216/CP của Đảng và Nhà nƣớc ta về vấn đề SKSS
do thủ tƣớng Phạm Văn Đồng ký ngày 26/12/1961 (đƣợc lấy làm ngày Dân
số Việt Nam) có nội dung “Vì sức khỏe ngƣời mẹ, vì hạnh phúc và sự hòa
thuận của gia đình để cho việc nuôi dạy con cái đƣợc tốt. Việc sinh đẻ của
nhân dân đƣợc quan tâm, hƣớng dẫn một cách thích hợp”.
Thủ tƣớng chính phủ ban hành chỉ thị 99/TTG phát động cuộc vận
động sinh đẻ có kế hoạch, thành lập ủy ban Bảo vệ bà mẹ trẻ em từ trung
ƣơng đến địa phƣơng.
Ngày 24/12/1968 chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng đã có chỉ thị 176A với
nội dung chỉ đạo: “Bộ giáo dục, Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp,
tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chƣơng
trình chính khóa nhằm bồi dƣỡng cho học sinh những kiến thức khoa học
về giới tính, về hôn nhân gia đình, về nuôi dạy con cái”.
Sau khi nhà nƣớc thống nhất, năm 1976 ngay trong nghị quyết Đaị
hội toàn quốc lần thứ IVcủa Đảng đã ghi rõ: “Đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận
động sinh đẻ có kế hoạch, ra sức phòng và chữa bệnh phụ khoa và các bệnh
nghề nghiệp của phụ nữ”. Sau khi có nghị quyết Trung ƣơng IV về chính
sách DS - KHHGĐ và chiến lƣợc DS - KHHGĐ đến năm 2000, do đó có
sự cộng hƣởng của nhiều yếu tố lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cƣờng kinh phí và
đổi mới cơ chế quản lý, củng cố hệ thống tổ chức, đẩy mạnh cung cấp dịch
vụ truyền thông và KHHGĐ, sự tham gia của các nghành, đoàn thể vì công
tác DS - KHHGĐ, sự tham gia của các nghành, các đoàn thể vì công tác DS
- KHHGĐ đã có chuyển biến rõ rệt, đạt đƣợc những kết quả rất đáng kích
trong giai đoạn này ở các trƣờng phổ thông gồm: Xây dựng chƣơng trình
tích hợp GDDS mới phù hợp với trƣơng trình giao dục phổ thông sau năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
2000 trên tinh thần nhấn mạnh tới SKSSVTN; xây dựng các tài liệu hƣớng
dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo và các tài liệu trực quan; tập huấn giáo
viên… song chúng ta vẫn chƣa xây dựng đƣợc chƣơng trình GDDS và
SKSS cho THCS mặc dù các mục tiêu cho cấp học này đã đƣợc xác định.
Ủy ban phòng chống AIDS đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông,
hoạt động can thiệp tại cộng đồng, tổ chức nghiên cứu, khảo sát thức trạng
tình hình… nhằm bảo vệ VTN, nâng cao hiểu biết và kỹ năng dự phòng của
VTN trƣớc sự tấn công của đại dịch HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội. Thông
qua các hoạt động đó cũng góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDSKSS
cho VTN.
Ủy ban Dân số gia đình và Trẻ em cũng rất quan tâm đến việc
GDSKSS cho VTN, trong chiến lƣợc dân số Việt Nam giai đoạn 2001- 2010
nêu rõ: “Tạo sự chuyển đổi hành vi bền vững về dân số, SKSS, KHHGĐ
trên cơ sở cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin với nội dung và hình thức
phù hợp với từng vùng, từng khu vực và từng nhóm đối tƣợng. Chú trọng
hình thức tƣ vấn, đối thoại, vận động trực tiếp các cặp vợ chồng trong độ
tuổi sinh đẻ, nam giới, thanh niên và những ngƣời chƣa thành niên”.
Năm 2004, Ủy ban dân số gia đình và trẻ em triển khai đề án “Mô
hình cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/ KHHGĐ cho VTN và thanh
niên” tại 10 tỉnh thành phố. Năm 2006 mở rộng ra 28 tỉnh thành phố. Mục
tiêu chính của đề án nhằm nâng cao nhận thức về SKSS/ KHHGĐ, bao
gồm các vấn đề liên quan về giới, giới tính, tình dục an toàn, BLTQĐTD,
HIV/AIDS góp phần làm giảm các hành vi gây tác hại đến SKSSVTN.
Ngoài ra trong những năm gần đây, có thể kể đến nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề SKSS nhƣ:
- Dự án VIE/97/P13 của Bộ giáo dục - đào tạo đã sản xuất tài liệu:
đối với từng hành động của mình. Theo tổ chức Y tế thế giới (WTO), VTN
là những ngƣời trong độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Tuổi VTN đƣợc chia thành 3 nhóm tuổi:
- VTN sớm từ 10 đến 14 tuổi
- VTN trung bình từ 15 đến 17 tuổi
- VTN muộn từ 18 đến 19 tuổi
Theo ông Phạm Song - Chủ tịch Hội KHHGĐ Việt Nam đã khẳng
định, không phải là vấn đề phân loại mà là xác định đúng đối tƣợng để tác
động thích hợp. Theo ông, quá trình dậy thì của tuổi VTN đƣợc chia làm 3
thời kỳ:
- Thời kỳ đầu từ 10 đến 13 tuổi
- Thời kỳ giữa từ 14 đến 16 tuổi
- Thời kỳ cuối từ 17 đến 21 tuổi
Ở mỗi nƣớc khác nhau căn cứ vào những điều kiện của mình mà trong
luật hôn nhân và gia đình quy định và chia tuổi VTN cũng khác nhau ở mỗi
nƣớc. Còn ở Việt Nam hiện nay, tuổi VTN theo quy định của Đoàn thanh
niên là từ 15 đến 28 tuổi. Theo Vụ bảo vệ sức khỏe bà mẹ và KHHGĐ
thuộc Bộ Y tế thì tuổi VTN đƣợc chia thành 2 nhóm tuổi nhƣ sau:
- Nhóm 1 từ 10 – 14 tuổi
- Nhóm 2 từ 15 – 19 tuổi
Do mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài chỉ nghiên cứu trong
phạm vi là học sinh THCS (lớp 9) nên tôi nghiên cứu nhóm tuổi từ 14 – 15
tuổi, thay thế đối tƣợng nghiên cứu bằng thuật ngữ VTN.
1.2.1.2. Sức khỏe sinh sản
Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển năm 1994 tại Cairô (ICPD)
đã định nghĩa: “SKSS là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh
thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của
bộ máy sinh sản, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn
hợp với các nguyên tắc về phát triển kinh tế - xã hội.
- Giảm tỉ lệ nạo phá thai ở tất cả các lứa tuổi sinh đẻ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
- Giảm các bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh sản ở phụ nữ.
- Phòng chống nguy cơ mắc các bệnh lây nhiễm qua đƣờng tình dục,
đặc biệt là HIV/AIDS.
- Giáo dục giới tính rộng rãi cho thanh thiếu niên.
- Điều trị và phòng chống các bệnh lien quan đến vô sinh.
- Điều trị và phát hiện sớm các bệnh ung thƣ vú và đƣờng sinh dục.
- Chăm sóc SKSS VTN.
- Thông tin giáo dục truyền thông về SKSS nhằm hƣớng dẫn thay đổi
nhận thức và hành vi của cộng đồng.
Theo Chiến lƣợc chăm sóc SKSS Việt Nam giai đoạn từ năm 2001
đến 2010 thì SKSS bao gồm 7 vấn đề cần đƣợc ƣu tiên đó là:
- Quyền sinh sản.
- KHHGĐ, giảm phá thai và phá thai an toàn.
- Làm mẹ an toàn và chăm sóc trẻ sơ sinh.
- BLTQĐTD, kể cả HIV/AIDS và vô sinh.
- Phòng và chữa ung thƣ đƣờng sinh sản.
- Sức khỏe sinh sản vị thành niên.
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm SKSS.
Điều này chứng tỏ rằng, chúng ta không chỉ quan tâm đến KHHGĐ
mà còn phải giải quyết nhiều vấn đề hơn nhằm bảo vệ và chăm sóc SKSS
của nhân dân.
1.2.1.3. Sức khỏe sinh sản vị thành niên
Trong quan niện xƣa vấn đề SKSS ngƣời ta cho rằng chỉ liên quan
đến những ngƣời đã có gia đình, những cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ.
Nhƣng trên thực tế (đặc biệt là trong sự phát triển xã hội nhƣ hiện nay) ta
thấy rằng, thanh thiếu niên chƣa có gia đình chƣa có gia đình cũng đã có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Trong cuộc sống hiện nay, VTN gặp rất nhiều khó khăn trong học tập,
trong sinh hoạt, trong quan hệ với bố mẹ, bạn bè và trong vấn đề SKSS. Có
thể thấy những khó khăn mà VTN đang phải đối mặt, đó là:
- Những lo lắng về thay đổi cơ thể và tâm lí.
- Bối rối trƣớc những cảm xúc nảy sinh từ tình bạn khác giới.
- Băn khoăn trƣớc câu hỏi: “Có phải tình yêu luôn đi đôi với tình dục
không?”.
- Nguy cơ bị xâm hại tình dục.
- Lo lắng không biết mình có bị mang thai hay không, và làm thế nào
để phòng tránh; Nguy cơ nhiễm BLTQĐTD và HIV/AIDS.
- Bị ép lấy vợ, lấy chồng sớm (tảo hôn).
- Lo lắng không biết hỏi ai, tâm sự với ai về những điều băn khoăn, lo
lắng mình đang gặp phải.
Từ những yếu tố trên mà những ngƣời lớn, những bậc cha mẹ cần
phải hiều đƣợc những khó khăn mà lứa tuổi VTN gặp phải để từ đó có sự
quan tâm kịp thời. Và bản thân VTN cũng phải nhận thấy những thay đổi
mạnh mẽ về thể chất cũng nhƣ tâm lí của bản thân để đối phó một cách tích
cực với những tác động mạnh mẽ của môi trƣờng xung quanh.
1.2.1.4. Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
GDSKSSVTN đƣợc coi là một nội dung quan trọng trong GDDS.
Mƣời năm trở lại đây vấn đề này mới đƣợc đƣa vào trong chƣơng trình của
nhà trƣờng, dạy lồng ghép vào nội dung của một số môn học. Từ sau Hội
nghị quốc tế Cairo (1994), Bộ Giáo dục - Đào tạo đã nhất trí vấn đề trọng
tâm của công tác giáo dục phải là GDSKSS cho VTN.
“GDSKSSVTN là một quá trình cung cấp các thông tin thích hợp
bằng moi phƣơng tiện, nhằm mục đích chính là nâng cao nhận thức và sự
hiểu biết của VTN đối với một số vấn đề sức khỏe nhất định nhằm động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tuổi này còn chƣa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn điệu
kéo dài.
Một đặc điểm nữa cần chú ý ở lứa tuổi này này, đó là thời kỳ phát
dục. Sự phát dục của các em là. Sự một hiện tƣợng bình thƣờng, diễn ra
theo quy luật sinh học và chịu ảnh hƣởng của môi trƣờng tự nhiên và xã
hội. Sự phát dục ở các em trai vào khoảng 15,16 tuổi, ở các em nữ vào
khoảng 13, 14 tuổi. Biểu hiện của thời kỳ này là các cơ quan sinh dục phát
triển và xuất hiện những dấu hiệu phụ của giới tính. Thời kỳ phát dục sớm
hay muộn phụ thuộc vào yếu tố dân tộc và yếu tố khí hậu. Đến 15, 16 tuổi
giai đoạn phát dục đã kết thúc, vì thế các em đã có khả năng sinh đẻ.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng VTN có khả năng sinh sản đƣợc nếu có
sinh hoạt tình dục. Và vấn đề SKSS không chỉ liên quan đến những ai đã
lập gia đình, VTN lúc này đang đứng trƣớc nhiều mối đe dọa, nếu nhƣ
không có sự hƣớng dẫn, chăm sóc thì nguy cơ lớn nhất đối với SKSS của
VTN là có thai sớm nếu có QHTD và nhiễm BLTQĐTD.
1.2.2.2. Đặc điểm tâm lý
Không chỉ có những biến đổi về mặt sinh lý mà VTN cũng có những
biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý. Do sự phát triển không cân đối của hệ
xƣơng đã gây cho các em một biểu hiện tâm lý khó chịu. Các em ý thức
đƣợc sự lóng ngóng, vụng về của mình, mà cố che dấu bằng những điệu bộ
không tự nhiên, cầu kì, tỏ ra mạnh bạo, can đảm để ngƣời khác không chú
ý đến vẻ bề ngoài của mình. Chỉ một sự mỉa mai chế giễu nhẹ nhàng về
hình thể, tƣ thế, tƣ thế đi đứng của các em đều gây cho các em những phản
ứng mạnh mẽ.
Tuyến nội tiết hoạt động mạnh, điều đó đã làm cho các em dễ xúc
động, dễ bực tức, nổi khùng. Vì thế, ta thấy ở các em thƣờng có những
phản ứng gay gắt, mạnh mẽ và có những xúc động mạnh. Hệ thần kinh của
VTN còn chƣa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn điệu,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Một điều đặc biệt dễ nhận thấy ở giai đoạn này đó là bắt đầu xuất hiện
những cảm giác mới lạ, có sự nhạy cảm về giới và cảm xúc giới tính. Các
em thƣờng quan tâm đến các bạn khác giới và cũng mong bạn khác giới để
ý đến mình. Điều này khiến các em quan tâm đến vóc dáng của mình, hay
đứng trƣớc gƣơng để gắm vuốt. Các em bắt đầu thích đọc truyện tình cảm,
những tác phẩm viết về những mối tình say mê, quan tâm đến các nhân vật
trong truyện, trong phim làm quen nhau nhƣ thế nào, thích nhau ra sao và
tại sao lại hành động nhƣ vậy… và vô tình các em tự tạo nên những rung
cảm yêu đƣơng trong tƣởng tƣởng trong suy tƣ. Có em trở nên sao nhãng
việc học tập.
1.2.3. Xu hƣớng GDSKSS VTN của một số nƣớc trên thế giới và chiến
lƣợc quốc gia về GDSKSS VTN ở Việt Nam.
1.2.3.1. Xu hƣớng GDSKSS VTN của một số nƣớc trên thế giới.
Vấn đề GDSKSS VTN đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm, nó
đƣợc thể hiện rõ ở những vấn đề cơ bản sau:
Thứ 1: Giáo dục tình dục cho học sinh trong và ngoài nhà trƣờng.
Thứ 2: Cung cấp dịch vụ KHHGĐ theo nhu cầu sử dụng.
Cụ thể:
Bồ Đào Nha: Cho phép thành lập các trung tâm tƣ vấn dành cho tuổi
VTN ở các trung tâm tƣ vấn và bệnh viện nhằm:
- Cung cấp thông tin chung về họat động tình dục.
- Chuẩn bị cho VTN có hành vi đúng trong cuộc sống tình dục.
- Cung cấp thông tin về giải phẫu sinh lý và sinh lý học sinh sản.
- Cung cấp các phƣơng tiện tránh thai.
- Tất cả thanh niên đều đƣợc tƣ vấn và hƣớng dẫn KHHGĐ tại các
trung tâm miễn phí.
Sau hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển ở Cairo (1994) ở nhiều
quốc gia đã có nhiều chuyển biến tích cực về định hƣớng trong chƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20