luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường đại học văn hóa hà nội hiện nay - Pdf 35

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ KINH DOANH XUẤT BẢN PHẨM
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XUẤT BẢN

Hà Nội – 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kì công trình nào khác. Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày

tháng
Tác giả

năm 2014



1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
M. Gorki từng nói rằng mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà
khi bước lên, ông tách khỏi con thú và đến tới gần con người, tới gần quan
niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống.
Trải qua hàng nghìn thập kỷ, sách muôn đời vẫn là một người bạn thân

không được phát hành, người ta sẽ không biết đến nó, giới trẻ sẽ không thể
biết, hiểu, và cảm nhận được có một thời điểm như vậy trong lịch sử với
những con người cũng trẻ tuổi như mình nhưng cách sống và cách nghĩ lại
khác hẳn.
Như vậy có thể thấy được rằng, một cuốn sách muốn lôi cuốn người
đọc thì ngoài nội dung và hình thức ra thì khâu phát hành để quảng bá là
khâu vô cùng quan trọng.
Từ thực tiễn ấy, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ phát hành sách nói
riêng và phát hành xuất bản phâm nói chung giỏi kỹ năng nghiệp vụ. Do
đó, nảy sinh yêu cầu phải có cơ sở đào tạo ra loại hình cán bộ này. Bởi vậy,
khoa Xuất bản - Phát hành (tiền thân là khoa Phát hành sách), trường Đại
học Văn hóa Hà Nội đã mở ngành đào tạo phát hành xuất bản phẩm để đáp
ứng thực tiễn yêu cầu ấy.
Tuy nhiên, dưới sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường cùng với
những yêu cầu đổi mới của xã hội, năm 2010, ngành phát hành xuất bản
phẩm được đổi tên thành ngành kinh doanh xuất bản phẩm. Do đó, người
làm công tác kinh doanh xuất bản phẩm được yêu cầu phải có những năng
lực đặc biệt, được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp. Nhưng, trong thực tế
không phải lúc nào các tiêu chí này cũng được đáp ứng, vẫn còn một bộ
phận người làm công tác kinh doanh xuất bản phẩm chưa đáp ứng được
những yêu cầu trên. Bởi vậy, tác giả chọn đề tài “Nâng cao chất lượng


3

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học
Văn hóa Hà Nội hiện nay” nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao
hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng ấy. Hy vọng rằng, kết quả nghiên
cứu sẽ góp phần làm luận chứng cơ sở khoa học cho các chủ trương và
quyết định quản lý đúng đắn của các cấp lãnh đạo trong công tác đào tạo

đào tạo và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, thành phố
hiện nay; đồng thời đưa ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp và kiến nghị
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh,
thành phố giai đoạn 2001 - 2010.
+ Đề tài KH-BĐ(2001)-14: "Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống trường chính trị,
trường đoàn thể ở Trung ương hiện nay", thực hiện năm 2003 do đồng chí
Phạm Văn Thọ - ủy viên Trung ương Đảng – Phó trưởng Ban thường trực
Ban Tổ chức Trung ương là chủ nhiệm. Đề tài này đề cập đến vấn đề nâng
cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính Quốc gia và ở các
trường đào tạo cán bộ của các đoàn thể ở Trung ương trong thời kỳ từ Đại
hội Đảng VII đến Đại hội Đảng IX, chủ yếu từ năm 1996 đến năm 2002.
Ngoài ra còn có một số đề tài như:
- “Đổi mới phương thức quản lý đào tạo giảng viên lý luận Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền” do TS.
Đoàn Phúc Thanh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền làm chủ nhiệm đề tài.
- "Nâng cao hơn nữa chất lượng các hệ đào tạo của Học viện" của
PGS.TS Tô Huy Rứa, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 9 năm 1999.
- "Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác đào tạo huấn luyện cán bộ" của
TS. Nguyễn Văn Sáu, Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 11 năm 1999.
- "Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới" của
PGS.TS Vũ Nhật Khải, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số tháng 9 năm 1999.
- "Hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản
lý - những bước tiến, vấn đề cần khắc phục và kiến nghị" của ThS. Tống
Trần Sinh, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số tháng 9 năm 1999.


5

6

“Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong Trường Đại học Văn hóa Hà
Nội” của TS. Đỗ Thị Quyên, “Nâng cao khả năng thích ứng với thực tiễn
của sinh viên sau khi tốt nghiệp” của TS. Lê Thị Phương Nga, “Nâng
cao vị thế người làm xuất bản, phát hành thời kì hội nhập quốc tế ” của
PGS, TS. Đinh Văn Hường, “Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành xuất
bản hiện nay” của Ths. Trần Thị Thu... Các bài viết trên chủ yếu nêu
một số giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực cho ngành xuất bản hiện nay.
Có thể nói các công trình trên đã nêu về phương diện này hoặc phương
diện khác, đã có nhiều thể hiện liên quan đến đề tài. Tuy nhiên cho đến
nay, chưa có công trình nào thực sự đi sâu nghiên cứu một cách có hệ
thống về việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh
xuất bản phẩm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà
Nội, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất
lượng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác đào tạo cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
ở Trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay.
Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kinh
doanh xuất bản phẩm trong thời kỳ mới ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội.


7

8

Phương pháp so sánh: Đối chiếu dữ liệu thu thập được từ các bảng hỏi
để thấy sự khác biệt trong cách đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
6. Đóng góp mới của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Luận văn đã tập trung khái quát hóa các thuật ngữ liên quan đến vấn
đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản
phẩm, xây dựng các tiêu chí đánh giá liên quan đến vấn đề này
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn đã đánh giá đúng thực trạng và đề ra giải pháp góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần
phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm.
Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp cơ bản góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở
trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay.


9

Chương 1
NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ

hình thức như: mua, bán, phân phát, tặng, cho, cho thuê, cho mượn, triển
lãm, hội chợ, xuất khẩu, nhập khẩu xuất bản phẩm và đưa xuất bản phẩm
lên mạng internet để phổ biến đến người sử dụng.
Phát hành xuất bản phẩm là một khâu nghiệp vụ vô cùng quan trọng
trong hoạt động xuất bản và trở thành một ngành học trong nhiều trường
Cao đẳng, Đại học trong cả nước, cái nôi đào tạo đầu tiên là trường Đại học
Văn hóa Hà Nội. Tuy nhiên, nhằm thống nhất giữa tên ngành và nội dung
đào tạo trong các trường Đại học và Cao đẳng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã ban hành Danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ cao đẳng,
đại học theo Thông tư số 14/2010/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 4 năm 2010
và có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 6 năm 2010. Do đó, ngành Phát hành xuất
bản phẩm được đổi tên thành kinh doanh xuất bản phẩm với mã ngành đào
tạo 51320402 (trình độ Cao đẳng) và 52320402 (trình độ Đại học). kinh
doanh xuất bản phẩm về bản chất cũng chính là phát hành xuất bản phẩm.
Với những khái niệm trên, chúng ta có thể phần nào hình dung được
về chân dung người cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm. Người cán bộ kinh
doanh xuất bản phẩm về cơ bản cũng chính là người cán bộ phát hành xuất
bản phẩm (trước đây là cán bộ Phát hành sách) là người góp phần truyền bá
xuất bản phẩm đến với người tiêu dùng, là cầu nối giữa tác giả và độc giả.
Trải qua quá trình đào tạo, người cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm phải
đạt được yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công việc cũng như
thái độ nghề nghiệp cao để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động.
Tuy nhiên, có một số người cho rằng cán bộ kinh doanh xuất bản
phẩm thực chất chỉ là người bán sách. Quan niệm này chỉ đúng một phần
bởi vì người bán sách chỉ làm một khâu nghiệp vụ là bán sản phẩm ra thị


11

trường còn người cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm phải hoạch định một kế

lượng để đưa đến cho khách hàng và giúp họ loại bỏ những xuất bản phẩm
kém chất lượng, trôi nổi trên thị trường.
Là một tế bào của xã hội, người cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
ngày càng thể hiện được vị trí cũng như vai trò của mình đối với sự phát
triển kinh tế đất nước.
1.2. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh
xuất bản phẩm
1.2.1. Khái niệm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
kinh doanh xuất bản phẩm
“Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực, có khả năng làm việc
theo những tiêu chuẩn nhất định" [32, tr.379]. Như vậy, có thể thấy đào tạo là
một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành hệ thống các
tri thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề
cho họ có thể vào đời hành nghề, có năng suất và hiệu quả cao.
Đối với giáo dục đại học thì đào tạo có thể được hiểu là một quá trình nhằm
trang bị cho người học những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về một ngành, lĩnh
vực đào tạo nhất định cũng như các kiến thức cơ bản về xã hội để người học có
tri thức khoa học về ngành, lĩnh vực đó; đồng thời dạy người học những kỹ năng
hành nghề để sau khi ra trường, người học có khả năng làm việc trong lĩnh vực
đã chọn. Bên cạnh đó, nhà trường còn định hướng cho người học có thái độ đúng
đắn trong học tập và sinh hoạt, trong ứng xử, giao tiếp xã hội, giúp người học
hoàn thiện nhân cách cho bản thân.
Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa thì “Bồi dưỡng là làm tăng thêm
trình độ, năng lực hoặc phẩm chất” [32, tr.118]. Bồi dưỡng cũng là một
quá trình nhưng khác với đào tạo là cung cấp những cái mà cá nhân chưa
có, bồi dưỡng là cung cấp những cái mà cá nhân đã có rồi nhưng ở mức độ
cao hơn. Bồi dưỡng chính là bước phát triển tiếp theo của đào tạo.


13

14

Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng là kết quả của quá trình đào tạo, bồi
dưỡng được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá
trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với
mục tiêu, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo các ngành nghề cụ thể. Qua
đó có thể thấy rằng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng bao gồm 2 khía cạnh:
Thứ nhất: Sản phẩm đào tạo, bồi dưỡng phải đạt được mục tiêu
(chuẩn đầu ra) do nhà trường quy định (kiến thức, kĩ năng, thái độ). Ở khía
cạnh này, chất lượng được xem là "chất lượng bên trong".
Thứ hai: Sản phẩm đào tạo, bồi dưỡng phải đáp ứng được tốt nhất
những đòi hỏi của người sử dụng. Ở khía cạnh này, chất lượng được xem là
"chất lượng bên ngoài".
Như vậy, để hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đạt chất lượng cao, trước hết
phải đạt được chất lượng bên trong, đó sẽ là nền tảng để đạt được chất lượng
bên ngoài.
Trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng thì chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
với đặc trưng sản phẩm là "con người" và được thể hiện ở phẩm chất, giá trị
nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt
nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng của từng ngành đào tạo
trong hệ thống đào tạo. Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường
lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng trong nhà trường
không chỉ gắn những điều kiện đảm bảo nhất định từ bên trong như: cơ sở
vật chất, đội ngũ giảng viên, thư viện, phòng thực hành, thực nghiệm... mà
còn phải được kiểm chứng qua quá trình sử dụng thực tiễn sản phẩm đào tạo,
bồi dưỡng đáp ứng được yêu cầu của thị trường sức lao động.
Trong bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào thì hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng trong mỗi nhà trường cũng nên và cần thiết dựa trên nhu cầu thực tế
của thị trường sức lao động để từ đó xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
cụ thể cho đơn vị mình. Việc xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng bao gồm



16

1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
Về lý thuyết, các nhà giáo dục học đưa ra rất nhiều nhân tố ảnh hưởng
đến chất lượng đào tạo, những nhân tố đó có thể chia thành những nhóm sau:
* Chất lượng hoạt động của nhà trường
- Chất lượng của quá trình dạy học:
+ Mục đích, nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng
+ Hình thức tổ chức dạy học
+ Phương tiện, cơ sở vật chất cho dạy học
+ Công tác kiểm tra, đánh giá...
- Chất lượng của đội ngũ giáo viên/giảng viên
- Chất lượng của công tác quản lý
- Truyền thống và bầu không khí đạo đức trong nhà trường
- Mối quan hệ giữa gia đình - nhà trường và xã hội
* Chất lượng của tập thể học sinh về mặt sinh học và xã hội
* Môi trường xã hội: bao gồm môi trường kinh tế - xã hội, truyền
thống văn hóa của dân tộc, gia đình và cộng đồng...
Các nhân tố trên có thể có mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng. Nó có thể nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng nếu thật sự chúng ta hiểu rõ và biết vận dụng nó vào quá trình dạy
học và ngược lại. Bên cạnh đó bản thân các nhân tố đó cũng có thể vừa đối
lập hoặc vừa cộng hưởng tác động lên chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng dào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh
doanh xuất bản phẩm
Đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng là một khâu quan trọng trong
công tác quản lý giáo dục. Kết quả đánh giá sẽ tạo cơ sở để các nhà quản lý

trường có khả năng đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ


18

với trình độ của chương trình đang đào tạo, bồi dưỡng Bên cạnh đó, nhà
trường cần phối hợp với các khoa chuyên ngành để xây dựng, thiết kế các
chương trình có cấu trúc hợp lý, sắp xếp có hệ thống giữa phần kiến thức giáo
dục đại cương và kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, giữa kiến thức cơ sở ngành
với kiến thức chuyên ngành. Bên cạnh đó, khung chương trình giáo dục,
trong nội dung kiến thức chuyên ngành tự chọn, cần phải có những môn
học cập nhật cho sinh viên kiến thức ngành đang đào tạo, bồi dưỡng.
Ngoài chương trình giáo dục chính quy, các chương trình giáo dục
thường xuyên cũng phải được thiết kế theo quy định, đảm bảo chất lượng
đào tạo, bồi dưỡng.
Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo thời gian sẽ bị lỗi thời vì
không đáp ứng kịp nhu cầu của thị trường lao động. Do đó, chương trình
đào tạo, bồi dưỡng muốn đạt chất lượng, thu hút được người học thì phải
được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên cơ sở tham khảo các chương
trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng lao động,
người tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu
cầu nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hoặc cả nước.
Nếu xây dựng một chương trình đào tạo, bồi dưỡng hẹp thì sinh viên ra
trường sẽ rất khó xin việc, bởi vậy một chương trình đào tạo, bồi dưỡng chất
lượng phải là một chương trình mở, có khả năng liên thông với các chương
trình khác để người học có thêm nhiều cơ hội sau khi kết thúc khóa học.
Cuối cùng, chương trình đào tạo, bồi dưỡng muốn đạt chuẩn chất lượng
thì không thể thiếu sự đánh giá của các nhà tuyển dụng lao động, sinh viên đã
tốt nghiệp và chuẩn bị tốt nghiệp. Bởi họ là những người trực tiếp trải qua
quá trình đào tạo, bồi dưỡng tại trường, trực tiếp sử dụng sản phẩm được

hợp với điều kiện của người học trong thời đại mới. Song song với việc đào
tạo theo phương thức tín chỉ, nhà trường cần có hệ thống để lưu trữ kết quả


20

học tập của sinh viên, đồng thời phải tổ chức các buổi học tập, tập huấn cho
giảng viên và sinh viên để có thể truy câp vào hệ thống một cách dễ dàng.
Đồng thời, kết quả học tập của người học phải được thông báo kịp thời,
được lưu trữ đầy đủ, chính xác và an toàn. Văn bằng, chứng chỉ được cấp
theo quy định và được công bố trên trang thông tin điện tử của nhà trường.
Hồ Chí Minh đã từng nói “có tài mà không có đức là người vô dụng,
có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Chính vì vậy, ngoài
chuyên môn nghiệp vụ giỏi thì giảng viên phải là người có đạo đức trong
sáng. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã từng đưa ra một quy định về đạo đức nhà
giáo, trong đó nhấn mạnh lòng tâm huyết với nghề nghiệp của người làm
công tác giảng dạy. Thầy, cô giáo phải đối xử công bằng, khách quan trong
quá trình đánh giá học sinh, luôn luôn là tấm gương sáng mẫu mực để các
em noi theo.
Ngoài những nhiệm vụ trên thì người giảng viên ở trường đại học phải
có năng lực nghiên cứu khoa học, tìm tòi, phát hiện, sáng tạo ra những cái
mới có khả năng ứng dụng cao trong thực tiễn. Về năng lực này, đòi hỏi
giảng viên phải tự trau dồi để nâng cao khả năng nghiên cứu. Giảng viên
phải trang bị cho mình trình độ tin học và ngoại ngữ để không chỉ tham gia các
hội thảo trong nước mà còn có thể tham gia các hội thảo tầm cỡ quốc tế.
Sau khi giảng viên kết thúc giảng dạy trên lớp, nhà trường cần tiến
hành khảo sát sinh viên về giảng viên với tất cả các lĩnh vực trên để kịp
thời thông báo tới giảng viên để có những điều chỉnh phù hợp.
Ba là: Hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo
Giáo trình và tài liệu tham khảo là công cụ hữu ích để giáo viên truyền

không chỉ là nơi chứa đựng tri thức mà còn là nơi để sinh viên nghiên cứu
và học tập. Như vậy, việc đầu tư cho thư viện là việc làm góp phần đẩy
mạnh sự phát triển của chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.


22

Phòng học đầy đủ, thoáng mát, sạch sẽ là một trong những điều kiện
cần để tạo môi trường học tập thân thiện cho sinh viên. Đối với phương
thức đào tạo tín chỉ thì yêu cầu về phòng học là yêu cầu bắt buộc đối với
các cơ sở đào tạo. Phòng học phải rộng rãi đáp ứng số lượng lớn sinh viên
đăng kí môn học. Bên cạnh đó, phòng học cần phải được trang bị đầy đủ hệ
thống đèn điện chiếu sáng, quạt, hệ thống âm thanh (loa, mic), hệ thống
máy chiếu để thuận lợi cho quá trình giảng dạy. Bởi vậy, trường đại học
cần đáp ứng đủ các tiêu chí về giảng đường để tránh tình trạng sinh viên
phải đi học vào ngày nghỉ.
Để sinh viên có thể phát triển một cách toàn diện, trường đại học cần
phải có các địa điểm cho sinh viên sinh hoạt văn nghệ và các công tác Đoàn,
Hội, có không gian rộng để vui chơi và học tập rèn luyện thể dục, thể thao.
Bên cạnh đó, trường đại học cần phải có kí túc xá để đáp ứng nhu
cầu ăn ở của những sinh viên ở xa, sinh viên thuộc diện khó khăn, gia đình
chính sách xã hội. Kí túc xá của trường cần phải sạch sẽ, đầy đủ những tiện
nghi đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người.
Năm là: Tổ chức quản lý đào tạo, bồi dưỡng
Để quá trình đào tạo, bồi dưỡng đạt hiệu quả, đạt chất lượng cao thì
không thể buông lỏng quản lý. Quản lý đào tạo, bồi dưỡng là việc làm vô cùng
phức tạp và khó khăn. Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần phải có phòng chức
năng chuyên biệt về công việc này.
Ngay từ khâu đầu vào với công tác tuyển sinh, mỗi trường đại học
đều phải có các quy định cụ thể từ việc đón tiếp sinh viên, nhập dữ liệu vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status