Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT bắc ninh - Pdf 41

đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
----------------------------

đào lan h-ơng

NHU CU C TR GIP TM Lí HC NG CA
HC SINH THPT BC NINH

Chuyờn ngnh: TM Lí HC
Mã số : 60 31 80

luận văn thạc sĩ TM Lí HC

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. NGUYễN THị MINH HằNG

Hà Nội 2009

LI CM N !

1


Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới TS. Nguyễn Thị Minh Hằng, người đã
tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh trường THPT Hàn Thuyên, trường THPT
Tiên Du 1 đã tạo điều kiện và nhiệt tình đóng góp ý kiến cho đề tài.
Cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài khoa Tâm lý học đã truyền thụ
cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập.
Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu.

7. Phương pháp nghiên cứu....................................................................9
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ................................................................10
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ..............................10
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................10
1.1.1.Lịch sử nghiên cứu TLHĐ tại nước ngoài ....................................10
1.1.2.Lịch sử nghiên cứu TLHĐ tại Việt Nam ......................................13
1.2.Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu .......................16
1.2.1.Khái niệm “Nhu cầu” ...................................................................16
1.2.1.1.Các lý thuyết nghiên cứu nhu cầu ..............................................16
1.2.1.2.Định nghĩa “Nhu cầu” ................................................................22
1.2.1.3.Đặc điểm của nhu cầu ................................................................24
1.2.1.4.Mối quan hệ giữa nhu cầu và nhận thức ....................................26
1.2.2. Khái niệm “Tâm lý học đường” ..................................................26
1.2.3. Khái niệm “ Trợ giúp tâm lý học đường” ..................................27
1.2.3.1. Định nghĩa “Trợ giúp tâm lý học đường” .................................27
1.2.3.2. Nội dung của hoạt dộng trợ giúp TLHĐ ...................................27
1.2.3.3.Yêu cầu đối với nhà TLHĐ ........................................................29
1.2.4. Khái niệm “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường” .............30
1.2.5. Khái niệm “Học sinh THPT” và đặc điểm tâm lý học sinh THPT

4


1.2.5.1. Khái niệm “học sinh THPT” .....................................................31
1.2.5.2. Đặc điểm tâm lý học sinh THPT...............................................31
1.2.5.3. Những khó khăn tâm lý học sinh THPT thường gặp phải........34
1.3. Các tiêu chí để đánh giá nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học
sinh THPT .............................................................................................36
Chƣơng 2: Tổ chức nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu .........38
2.1. Tổ chức nghiên cứu .......................................................................38

3.3.5.Nhu cầu của học sinh về hình thức trợ giúp TLHĐ ......................105
3.3.6.Nhu cầu của học sinh về thời gian địa điểm trợ giúp tâm lý ........114
3.3.7.Mong đợi của học sinh đối với các chuyên gia tâm lý .................116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................120
Danh mục tài liệu tham khảo ..............................................................123
Phiếu điều tra........................................................................................127
Câu hỏi phỏng vấn sâu.........................................................................135
Phụ lục ...................................................................................................137

6


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh biến đổi xã hội hơn hai thập kỷ qua cùng với cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay nhà trường và gia đình
Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Từ các vấn đề như rối
nhiễu cảm xúc (lo âu, trầm cảm, tức giận…) đến rối nhiễu hành vi (chống đối
xã hội, bạo lực học đường…) cho đến lạm dụng game online, nghiện rượu,
ma tuý, có thai tuổi vị thành niên, bỏ học, tự tử… đều cần các giải pháp
phòng ngừa về mặt lâu dài hoặc can thiệp giúp đỡ khẩn cấp. Thực tế các nước
trên thế giới và Việt Nam trong thời gian gần đây đã cho thấy tâm lý học
đường đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề
nói trên. Ngoài công việc tham vấn tâm lý tại các thành phố lớn ở Việt Nam
mà các cá nhân và tổ chức đang làm, tâm lý học đường có thể tham gia công
tác sàng lọc đánh giá chẩn đoán tâm lý học sinh gặp khó khăn, dự phòng và
phát triển tâm lý học sinh, tham vấn tâm lý, can thiệp, trị liệu cho những học
sinh gặp khó khăn về tâm lý, điều phối, phối hợp với các cơ quan tổ chức
nhằm thiết kế các chương trình phòng ngừa và can thiệp ở cấp độ trường hoặc
rộng hơn…Tất cả các hoạt động này đều trực tiếp đóng góp cho việc xây

phố Hồ Chí Minh. Ngay cả những hình thức trợ giúp này cũng mới chỉ ở hình
thức tham vấn, giải đáp những vướng mắc khó khăn của các em thôi chứ chưa
thực sự trở thành dịch vụ tâm lý học đường chuyên nghiệp và ngay cả việc
thực hiện các phòng tư vấn tâm lý trong trường học cũng gặp rất nhiều khó
khăn.
Thực tế cho thấy, khi các trường phổ thông tổ chức những buổi về tham
vấn, tư vấn tâm lý trực tiếp, những buổi nói chuyện chuyên đề về tâm lý đã
thu hút rất nhiều các em học sinh tham gia, điều này chứng tỏ các em cũng rất
quan tâm đến vấn đề này và có nhu cầu được chia sẻ, giúp đỡ từ các chuyên
gia tâm lý. Tuy nhiên để đánh giá nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinh
đến đâu nhằm đáp ứng nhu cầu này thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể.

8


Rõ ràng, việc thực hiện duy trì các phòng TLHĐ còn gặp rất nhiều khó
khăn. Và theo quan sát của chúng tôi, ở mỗi một địa phương mỗi vùng miền
thì có cách thức tổ chức, trợ giúp khác nhau và nhu cầu được trợ giúp TLHĐ
của học sinh trung học phổ thông cũng rất khác nhau.
Bắc Ninh là một tỉnh giáp ranh với thành phố Hà Nội. Từ trung tâm
thành phố Bắc Ninh đến thủ đô Hà Nội chỉ vẻn vẹn 30km. Được coi là thành
phố vệ tinh của thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh đang có sự phát triển mạnh mẽ và
nhanh chóng với hàng loạt các khu công nghiệp bao quanh tỉnh cùng với sự
đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn như Samsung, Canon…đã khiến cho bộ
mặt kinh tế của Bắc Ninh có nhiều khởi sắc kéo theo đời sống nhân dân được
cải thiện và phát triển. Khi đời sống vật chất được nâng cao kéo theo những
nhu cầu mới về mặt tinh thần cũng như áp lực cuộc sống ngày càng tăng. Con
người cũng cần có nhu cầu được chia sẻ được giúp đỡ khi có các áp lực về
mặt tâm lý, đặc biệt là thế hệ trẻ Bắc Ninh những người đang hàng ngày, hàng
giờ chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ của cuộc sống và chịu ảnh hướng trực

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tiễn sẽ đề xuất một số kiến nghị
nhằm nâng cao tính hiệu quả và tính thiết thực của các phòng tâm lý học
đường trong các trường THPT.
5. Khách thể nghiên cứu
Tổng số lượng khách thể nghiên cứu là 366 học sinh lớp 10 và lớp 11
tại hai trường THPT Hàn Thuyên, Thành phố Bắc Ninh và THPT Tiên Du I,
huyện Tiên Du, Bắc Ninh
Trong đó:
- 168 em trường THPT Hàn Thuyên
- 198 em trường THPT Tiên Du I
6. Giả thuyết khoa học
- Sự phát triển tâm lý, cùng với những khó khăn, áp lực trong học tập
cũng như trong cuộc sống dẫn đến các em học sinh lúng túng, lo lắng, căng
thẳng, do đó phần lớn các em đều có nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường
là khá cao.
10


- Tuy nhiên, phần lớn học sinh vẫn có nhận thức chưa đầy đủ về các
dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường
- Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh là khác nhau ở
mỗi lứa tuổi, giới tính và địa bàn sinh sống.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu:
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
7.4. Phương pháp quan sát
7.5. Phương pháp thống kê toán học

11

tư vấn nghề ở Mỹ. Ông đã cho ra đời cuốn sách “Cẩm nang hướng nghiệp”
12


(Vocational Bureau) nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề
nghiệp, tìm ra cách bắt đầu xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệu
quả. Ông thực sự mong muốn công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp được
đưa vào trường học. (Lê Thị Lan Phương,2003)
Năm 1909, cuốn sách “ Chọn lựa một nghề” (Choosing a Vocation)
được xuất bản được coi là sự cống hiến lớn lao cho công tác hướng dẫn tư vấn
nghề. Boston trở thành địa điểm tổ chức “Hội nghị công tác hướng dẫn tư vấn
nghề nghiệp” đầu tiên và kết quả của hội nghị này đánh dấu sự ra đời của
“Hiệp hội tư vấn hướng nghiệp quốc gia Mỹ” năm 1913, tổ chức tiền nhiệm
của “Hiệp hội tham vấn Mỹ” sau này.
Frank Parsons đã hình dung ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp
có hệ thống trong trường học. Ông cũng thấy được tầm quan trọng của công
tác tham vấn cá nhân. Nguyên tắc của ông trong công tác hướng dẫn tư vấn
nghề đã ảnh hưởng sâu sắc đến những lĩnh vực rộng lớn hơn của công tác
tham vấn. Mục đích chính của Parsons đối với công tác hướng dẫn tư vấn
nghề được thể hiện trong 3 quá trình:
(1) Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng thích hoài
bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của bạn đối với nghề, động lực thúc
đẩy bạn chọn nghề.
(2) Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận
lợi và khó khăn, sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong
giới hạn khác nhau của công việc.
(3) Nguyên nhân thực sự trong mối liên hệ của hai nhóm trong thực tế.
Sau này, mặc dù công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp trong trường
học được phát triển, song nhiều người đã tán thành việc cần có một cách tiếp
cần rộng hơn với tham vấn trong trường học. Những người này cho rằng

viên và cộng đồng ngày được nâng cao.
Đến năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tư vấn
học đường, kể từ đó ngành Tâm lý học đường được xem như là đã hoàn thiện.
Hiện nay, Hiệp hội các nhà tâm lý học đường Mỹ được xem như là
nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tâm lý học đường của hầu
14


hết các nước trên thế giới. Ngày nay, các dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường đã
trở nên phổ biến trong các trường học ở nhiều nước trên thế giới.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại Việt Nam
Tâm lý học đường trên thế giới hiện nay đã có một quá trình phát triển
lâu dài. Tuy nhiên, ở nước ta nó vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ, các hoạt
động trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh còn chưa được đầu tư và quan
tâm đúng mức.
Trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam đã có chương trình khải đạo
trong trường học. Sau ngày thống nhất với sự thay đổi hoàn toàn cách thức
giáo dục thì chương trình khải đạo không còn tồn tại theo đúng nghĩa của nó
nữa.
Năm 1984, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em và tâm bệnh lý NT do
bác sỹ Nguyễn Khắc Viện thành lập trở thành nơi đầu tiên thực hành, phát
triển nghề tham vấn trong đó có lĩnh vực tâm lý trẻ em và gia đình. Phương
châm nghiên cứu của trung tâm là chiết trung, không suy tôn một trường phái
nào, không lấy một học thuyết nào làm chính thống. Phương pháp nghiên cứu
chủ yếu là nghiên cứu sâu từng trường hợp. Ngoài nghiên cứu ứng dụng,
trung tâm còn biên soạn nhiều đầu sách, chương trình đào tạo, dịch và phổ
biến một số phương pháp nghiên cứu tâm lý trẻ em. (Vũ Dũng, 2009)
Trong vòng 10 năm trở lại đây, tình trạng học sinh tự tử, có những rối
nhiễu về tâm lý, bỏ học, sa ngã vào các tệ nạn xã hội… đã khiến các nhà giáo
dục, các nhà tâm lý có cái nhìn quan tâm nhiều hơn đến việc phải cung cấp

2006; Hội thảo khoa học “Hỗ trợ tâm lý cho học sinh sinh viên” do Hội khoa
học tâm lý tỉnh Đồng Nai tổ chức năm 2007; Hội thảo “Tâm lý học đường
triển khai và ứng dụng thực tiễn vào nhà trường Việt Nam” tổ chức năm 2008
do Trường Đại học sư phạm Hà Nội và Viện nghiên cứu sư phạm tiến hành;
và gần đây nhất là hội thảo khoa học quốc tế “Nhu cầu định hướng và đào tạo
tâm lý học đường tại Việt Nam” do nhiều cơ quan tổ chức nghiên cứu và đào
tạo tâm lý diễn ra ngày 3 -4 tháng 8 năm 2009….
Ngoài những cuộc hội thảo toạ đàm về tâm lý học đường, những cơ
quan tổ chức nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành tâm lý học cũng đã có
16


những nghiên cứu về các vấn đề tâm lý học đường ở các cấp độ khác nhau.
Có thể kể ra đây một số nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến vấn đề mà
chúng tôi đang nghiên cứu như:
Luận văn thạc sỹ “Nhu cầu được giáo dục sức khoẻ sinh sản của học
sinh trung học phổ thông” của Nguyễn Hà Thành năm 2007. Ở luận văn này
tác giả đã chỉ ra thực trạng giáo dục sức khoẻ sinh sản ở các trường phổ thông
còn nhiều bất cập và hạn chế mặc dù học sinh rất có nhu cầu được giáo dục về
lĩnh vực này. Từ kết quả nghiên cứu thu được, tác giả đã đưa ra những đề xuất
khuyến nghị để thực hiện hình thức giáo dục này có hiệu quả nhằm đáp ứng
nhu cầu chính đáng của các em học sinh.
Nghiên cứu về “Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh –
sinh viên Việt Nam hiện nay” của Bùi Thị Xuân Mai cho thấy có trên 90% số
người được hỏi cho là cần và rất cần các dịch vụ tham vấn. Nhóm khách thể ở
lứa tuổi vị thành niên thì có nhu cầu tham vấn về học tập, quan hệ bạn bè,
trạng thái tâm lý không cân bằng…nhóm lứa tuổi thanh niên lại quan tâm
nhiều hơn đến vấn đề như công việc, tình bạn, tình yêu, sức khoẻ trong đó có
cả trạng thái tâm lý không cân bằng.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mùi và cộng sự về đề tài “Nhu cầu

chắn trong một thời gian không xa việc nghiên cứu, đào tạo, ứng dụng tâm lý
học đường sẽ được phổ biến một cách rộng rãi.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu:
1.2.1. Khái niệm “nhu cầu”:
1.2.1.1. Các lý thuyết nghiên cứu nhu cầu:
Nhu cầu đã được bắt đầu tiến hành nghiên cứu từ thế kỷ thứ 19 bởi
W.Kohler. E thorndile, N.E.Miller. Các ông nghiên cứu nhu cầu ở động vật,
các kiểu hành vi của con vật được thúc đấy bởi nhu cầu. Họ đã giải thích mối
liên hệ giữa kích thích và phản ứng của cơ thể bằng cái gọi là “luật hiệu ứng”
và từ đó khẳng định nhu cầu cơ thể quyết định hành vi. (Hoàng Thị Thu Hà,
2003)

18


Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các nhà khoa học phương Tây chia
thành nhiều các trường phái nghiên cứu khác nhau và họ bắt đầu tiến hành
nghiên cứu nhu cầu cơ thể của con người.
Luận thuyết xung năng của Clark Hull đề xướng theo cách tiếp cận sinh
học để giải thích về nhu cầu động cơ. Hull cho rằng các nhu cầu sinh lý chi
phối đời sống con người. Tuy nhiên, ông cũng không phủ nhận sự có mặt của
nhu cầu động cơ khác nhau. Luận thuyết xung năng đã sinh vật hoá hệ thống
nhu cầu động cơ của con người, xem nhu cầu là những xung năng mang tính
sinh vật nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, không khí, nước uống. Vì vậy ông
đã quy gán cho các nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã hội đều do nhu cầu sinh vật
tạo ra.
Nghiên cứu của K. Lewin lại cho rằng nhân tố thúc đẩy hoạt động con
người không chỉ có nhu cầu cơ thể (xung năng) mà còn có cả nhu cầu xã hội.
Khi xuất hiện một nhu cầu nào đó đồng thời xuất hiện những liên tưởng có
liên quan đến nhu cầu đó ở chủ thể. Mọi ý nghĩ của con người đều liên quan

2. Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người
3. Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo.
4. Nhu cầu về sự bền vững và hài hoà.
5. Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu.
Những nhu cầu này tạo là thành phần tạo nên nhân cách”.
Nhà tâm lý học Mỹ A. Maslow đã đưa ra luận thuyết thứ bậc về nhu
cầu, động cơ vào năm 1954. Theo ông con người có 5 nhu cầu gốc (những
nhu cầu khác đều là phái sinh từ những nhu cầu này) mang tính bẩm sinh
được sắp xếp thành thứ bậc từ thấp lên cao, chúng hoạt hoá và điều khiển
hành vi con người:
(1): Nhu cầu sinh lý: ăn uống, tình dục
(2): Nhu cầu an toàn: sự an toàn, trật tự và ổn định
(3): Nhu cầu được chấp nhận và yêu thương
(4): Nhu cầu được tôn trọng
(5): Nhu cầu tự thể hiện

20


Maslow mô tả những nhu cầu này như bản năng tự nhiên (chịu ảnh
hưởng lớn của di truyền). Những nhu cầu này tuy là bẩm sinh nhưng những
hành vi mà ta thực hiện để thoả mãn chúng thì ở mỗi người mỗi khác và phải
được học tập, rèn luyện. Maslow đưa ra hình ảnh cái thang để diễn tả lý
thuyết này vì theo ông muốn phát triển nhu cầu ở bậc cao hơn thì ít nhất nhu
cầu ở bậc thấp hơn (liền kề) phải được thoả mãn đến mức độ nhất định. Việc
thoả mãn nhu cầu ở bậc thang thấp hơn sẽ kích thích người ta nghĩ tới việc
phải thoả mãn nhu cầu ở bậc thang cao hơn. Vì vậy theo ông, về nguyên tắc ở
cùng một thời điểm chỉ có một nhu cầu chiếm vị trí nổi trội trong nhân cách
của mỗi người. Sự phát triển của mỗi nhu cầu trong thang đều phụ thuộc vào
những nhu cầu khác có được thoả mãn hay không. Maslow gọi những nhu cầu

Henry Murray khi nghiên cứu vấn đề nhu cầu thì khẳng định nhu cầu là
một tổ chức cơ động hướng dẫn và thúc đẩy hành vi. Nhu cầu ở mỗi người
khác nhau về cường độ, mức độ, đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thế
cũng khác nhau ở mỗi người. Ông đưa ra bảng phân loại nhu cầu của con
người bao gồm 20 nhu cầu cụ thể như nhu cầu thành đạt, tôn trọng, vui chơi,
tự vệ, an toàn…Do ảnh hưởng của phân tâm học ông đã cho rằng nhu cầu quy
định xu hướng nhân cách đều xuất phát từ những libido vô thức. Tuy nhiên,
ông đã đưa ra một quan điểm tiến bộ về nhu cầu: thể nghiệm ban đầu của nhu
cầu là cảm giác băn khoăn luôn ám ảnh như con người có thiếu thốn một cái
gì đó. Nó là sự cần thiết của chủ thể cần cho hoạt động sống và vì thế gây cho
chủ thể một mức độ tích cực nhất định. (Hoàng Thị Thu Hà, 2003)
Các nhà tâm lý học Liên Xô khi nghiên cứu về nhu cầu khẳng định nhu
cầu là yếu tố bên trong, quan trọng đầu tiên thúc đẩy con người hoạt động;
khác hẳn với con vật, mọi nhu cầu của con người (kể cả những nhu cầu sơ
đẳng) đều có bản chất xã hội.
Uznatze là người đầu tiên trong tâm lý học Xô Viết nghiên cứu về nhu
cầu. Ông là người khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi. Ông cho
rằng không có gì có thể đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở
nhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực. Nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra
tính tích cực, nhu cầu xây dựng xu hướng, hành vi.
22


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Ngọc Bích, Tâm lý học nhân cách, Nhà xuất bản đại học Quốc gia,
2006
2. Chỉ thị số 9971/BGD &DT- HSSV của Bộ Giáo dục và đào tạo, Triển khai
công tác tư vấn cho học sinh sinh viên, 28/10/2005
3. Võ Thị Minh Chí, Nghiên cứu tải học của học sinh tiểu học, Đề tài nghiên
cứu cấp bộ năm 1995 – 1997

thần ở bộ môn Tâm lý học lâm sàng, Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn Hà Nội, Kỷ yếu hội thảo “ Chăm sóc sức khoẻ tinh
thần”, 2008
17. Nguyễn Thị Thu Hiền, Nhu cầu tư vấn tâm lý của học sinh trường PTTH
Bán Công Thái Thuỵ Thái Bình, Khoá luận tốt nghiệp 2004
18. Trần Hiệp, Tâm lý học xã hội những vấn đề lý luận, Nhà xuất bản Khoa
học xã hội, Hà Nội 1996
19. Mã Nghĩa Hiệp, Tâm lý học tiêu dùng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội 1998
20. Nguyễn Thị Thu Hoà, Nhu cầu tham vấn của học sinh PTTH thành phố
Điện Biên, Luận văn thạc sỹ 2004
21. Lê Văn Hồng, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nhà xuất bản
Đại học quốc gia Hà Nội, 2001
22. Ngô Thanh Hồi và các cộng sự, Khảo sát sức khoẻ tâm thần học sinh
trường học thành phố Hà Nội, Dự án hợp tác nghiên cứu giữa bệnh viện tâm
thần Mai Hương, Sở Y tế Hà Nội và Trung tâm chăm sóc sức khoẻ tâm thần
quốc tế, Đại Học Melbbourne, 2007
23. Ngô Tất Hợi, Từ điển Anh – Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1998
24. Lê Khanh, Bài giảng tâm lý học nhân cách, 2006
25. Lê Khả Kế, Từ điển học sinh, Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1972
26. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế, Nhu cầu định hướng và đào tạo tâm lý
học đường tại Việt Nam, 2009

24


27. Phạm Minh Lăng, Freud và phân tâm học, Nhà xuất bản Văn hoá thông
tin, Hà Nội 2004
28. Lưu Thị Lịch, Nhu cầu tư vấn trực tuyến về sức khỏe sinh sản , tình dục
và HIV/AIDS của thanh thiếu niên, Khóa luận tốt nghiệp 2003


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status