Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON TP. HỒ CHÍ MINH
30 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Thành phố Saigon ngày nay mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành từ rất lâu…
hơn 300 năm, nhưng đông đúc và sầm uất là từ thế kỷ thứ 19.
Bến Nghé năm xưa, Saigon và thành phố Hồ Chí Minh ngày nay có một vị trí đặc biệt
quan trọng. Hiện nay do hoàn cảnh lịch sử và vị trí địa dư thuận lợi, Saigon – thành phố Hồ Chí
Minh trở thành một trung tâm công nghiệp, một trung tâm văn hóa và khoa học kỹ thuật, một đầu
mối giao thông quan trọng.
Thời gian 30 năm không phải là dài so với lịch sử dân tộc hay lịch sử Saigon – thành
phố Hồ Chí Minh, nhưng 30 năm qua là một khoảng thời gian mang nhiều ý nghĩa to lớn cho sự
phát triển của đất nước, của thành phố Hồ Chí Minh và sự nghiệp giáo dục đào tạo thành phố
trong đó có quá trình xây dựng và phát triển của ngành Giáo dục mầm non thành phố Hồ Chí
Minh.
B. NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON TP.HỒ CHÍ MINH –
30 NĂM HÌNH THÀNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
I. Giáo dục Mầm non ở Saigon trước năm 1975
1) Thời kỳ 1945 – 1954:
Từ năm 1945 đến năm 1954 ở Saigon về giáo dục, rất ít người quan tâm đến nhu cầu,
học tập của con em nhân dân ở độ tuổi ấu thơ (3 đến 6 tuổi) trước khi vào học cấp tiểu học.
Từ năm 1954, trong khi ở nhiều nước Âu Mỹ, ngành mẫu giáo đã phát triển mạnh với
nhiều phương pháp giáo dục mới, tiến bộ của các nhà sư phạm Montessori, Decroly, Freinet…
thì ở Saigon mới có một số ít trường tư thục mở lớp mẫu giáo tiếng Pháp cho con em nhà giàu
như trường Michelet, Calmette, Auroe, Mạnh Mẫu và một số trường công giáo khác như Caritas,
Sainte Enfance…
Trong chương trình giáo dục của chính quyền Saigon lúc bấy giờ không có chương
trình mẫu giáo nên các trường công lập không mở lớp mẫu giáo, cũng không có tư thục về
ngành này.
gian huấn luyện là 6 tháng. Về sau, số giáo viên này làm lực lượng nòng cốt tổ chức hàng chục
trường mẫu giáo ở Saigon, Chợ Lớn. Có thể kể:
Trường mẫu giáo Việt Nam trong cư xá công chức Chí Hoà (1955)
Trường mẫu giáo Việt Nam Chợ Quán trong hẻm xóm lao động Chợ Quán
(1956)
Trường mẫu giáo Hoà Hưng tại nhà bà giáo Phan Thị Của (1956)
Trường mẫu giáo Việt Nam Chim Non tại góc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và
Trần Quang Diệu (1957)
Trường mẫu giáo Mầm non ở Bình Thạnh và đường Nguyễn Tri Phương quận
10 (1958)
Trường mẫu giáo Việt Nam Trần Quốc Toản (1960)
Trường mẫu giáo Việt Nam Phú Lâm (1967)
Trường mẫu giáo Hợp Phố 200 Lê Quang Định, Bình Thạnh (1967)
Các lớp học đều lấy học phí rất nhẹ, vừa đủ trang trải chi phí để con em nhân dân có
thể đi học được. Trong các dịp lễ, Tết các trường tổ chức nhiều buổi nói chuyện với phụ huynh
giải thích thêm về chương trình, phương pháp dạy trẻ mẫu giáo.
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Năm 1960 ông Phan Văn Vệ, Trưởng ty Gia Định hỗ trợ mở lớp tu nghiệp giáo viên
mẫu giáo, học tại hội trường Ty Tiểu học Gia Định, có 200 người tham dự.
Ngày 20/11/1967, Hội Ái hữu Giáo chức bậc Tiểu học, nghiệp đoàn Giáo dục tư thục
Việt Nam, Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ mở lớp tu nghiệp giáo viên mẫu giáo tại
trường tiểu học Phan Đình Phùng (Bàn Cờ) thu hút 300 học viên tham gia, trong đó có cả nữ tu
Thiên chúa giáo, Phật giáo và giáo viên người Hoa.
Năm 1970, tại trường tiểu học Phan Đình Phùng đã mở một đợt hoạt động mẫu giáo.
Triển lãm đồ dùng dạy học tự tạo, trình bày phương pháp dạy mẫu, hướng dẫn các cô dạy hát,
dạy múa, múa rối, kể chuyện cho trẻ từng lứa tuổi. Đến năm 1973, mở một lớp tu nghiệp mẫu
giáo gồm 246 học viên, có nhiều hiệu trưởng các trường mẫu giáo Pháp đã tu nghiệp ở nước
ngoài cũng đến tham dự.
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
1.2 Đối với ngành nhà trẻ.
Sau 30/04/1975, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị tổ chức và
chỉ đạo hoạt động các nhà trẻ.
Cuối năm 1975 đã có 10 nhà trẻ thu nhận 878 cháu với 106 cô nuôi dạy trẻ. Các
quận huyện cũng lần lượt tổ chức các nhà trẻ. Cuối 1976 có 121 nhà trẻ với 631 cô nuôi dạy trẻ
chăm sóc nuôi dạy 5.010 cháu. Đồng thời Sở Thương binh xã hội giao cho Hội 42 Ký nhi viện để
chuyển thành nhà trẻ thu nhận con cán bộ công nhân viên trong độ tuổi từ 2 đến 48 tháng tuổi.
Trong hai năm đầu sau giải phóng, những gì đã làm được là nhằm mục đích
xây dựng được nền móng cho quá trình phát triển lâu dài của sự nghiệp Giáo dục Mầm
non thành phố -> ý nghĩa và giá trị của những thành tích về giáo dục mầm non chính là ở
tầm quan trọng này.
2) Giáo dục mầm non thành phố trong quá trình thực hiện cải cách giáo dục (từ
năm học 1977-1978 đến năm học 1989-1990)
2.1 Thời kỳ phát triển số lượng, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục (năm học
1977-1978 đến năm học 1979-1980)
2.1.1 Khu vực mẫu giáo:
Tốc độ phát triển của ngành mẫu giáo thành phố tăng nhanh trong 3 năm kế tiếp. Đến
năm học 1979-1980, đã có 107.820 học sinh mẫu giáo (đạt tỉ lệ 44% tổng số cháu trong độ tuổi
và tăng gấp hai lần so với năm học 1975-1976). Nếu như trong những năm đầu, cách dạy còn gò
bó, theo nền nếp cũ không phù hợp với tâm, sinh lý tuổi mẫu giáo khiến cho học sinh thiếu linh
hoạt, thiếu mạnh dạn và hồn nhiên thì từ năm 1980, nhờ những cải tiến về phương pháp giáo
dục bắt đầu từ những kinh nghiệm của trường mẫu giáo Măng non I quận 10 được nhân rộng ra
nên chất lượng ngày càng chuyển biến tốt. Trẻ linh hoạt, vui tươi, lễ phép, sạch sẽ, thoải mái,
hồn nhiên trong giao tiếp; có thói quen vệ sinh, lao động tự phục vụ, lao động tập thể và dần dần
hình thành thói quen tốt trong học tập. Sự chuyển biến về chất lượng giáo dục ở các trường, lớp
mẫu giáo đã góp phần chuẩn bị tốt việc đưa trẻ vào lớp 1.
Nhiều đơn vị đã tiến hành song song nhiều biện pháp thiết thực, phù hợp với từng địa
Ngành học mẫu giáo phát triển nhanh nhờ tăng kinh phí đầu tư của thành phố (năm
học 1983-1984 đầu tư 31.700.986 đồng, tăng 30 lần so với năm học 1980-1981) và sự hỗ trợ
tích cực của quỹ phúc lợi các đơn vị (12-15%) và của nhân dân (6-10%).
Chỉ trong vòng 10 năm, trường lớp mẫu giáo đã có ở hầu hết các phường, xã là
một thắng lợi lớn. Mặc dù còn những mặt yếu về tỉ lệ huy động trẻ vào lớp, về quy cách
trường, lớp v v… song kết quả này là biểu hiện tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, được các
tầng lớp nhân dân hoan nghênh và ủng hộ.
Chất lượng nuôi dạy từng bước đã có sự chuyển biến khá chắc, góp phần chuẩn bị
tốt việc đưa trẻ đúng độ tuổi vào lớp một cải cách giáo dục.
Mẫu giáo là một ngành học mới, còn non trẻ. Tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó
khăn. Đời sống nhân dân lao động còn nhiều thiếu thốn. Trong bối cảnh đó, sự phát triển về số
lượng và chất lượng của giáo dục mẫu giáo là một thành tựu to lớn, khẳng định tính ưu việt của
chế độ xã hội chủ nghĩa. Người lao động, chủ yếu là lao động nữ, được giải phóng sức lao động
có điều kiện tăng ngày công, tăng năng suất lao động, nguồn thu nhập được tăng thêm, con cái
được nuôi dạy tốt… đã cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của sự đổi đời, càng thêm tin yêu chế độ,
càng hăng hái lao động sản xuất và góp công, góp sức xây dựng ngành học.
Trong những năm từ 1985 đến 1987, mặc dù chế độ, chính sách đối với giáo viên
quá thiếu thốn, đa số cán bộ, giáo viên ngành học mẫu giáo vẫn phát huy lòng yêu nghề, yêu trẻ,
cố gắng duy trì lớp để nuôi dạy các cháu. Đã chú trọng mở thêm các lớp mẫu giáo ở các quận có
đồng bào Thiên chúa giáo, người Hoa. Lớp mẫu giáo bán trú tăng thêm, có cả ở ngoại thành.
Trong khi cố gắng huy động trẻ ở cả 3 độ tuổi, đã chú trọng huy động thêm số trẻ 5 tuổi đến
trường góp phần đảm bảo tỉ lệ huy động trẻ vào lớp 1. Về chất lượng giáo dục, chuyển biến rõ
nét nhất là ở các trường trọng điểm, trường tiên tiến. Ở những trường này, trong một khung cảnh
sư phạm đẹp có tác động giáo dục thẩm mỹ, với hình thức giáo dục phong phú, linh hoạt phù
hợp với nhu cầu tâm lý của trẻ, dìu dắt trẻ hoạt động, tránh được lối giáo dục gò bó nên các cháu
đã được phát triển tính mạnh dạn, hồn nhiên, vui tươi trong học tập, vui chơi. Các cháu được
chăm sóc toàn diện: khoẻ mạnh, phát triển nhận thức, xây dựng được một số nền nếp học tập và
sinh hoạt, có ý thức tự phục vụ, giữ gìn vệ sinh cá nhân, mạnh dạn, hào hứng tham gia vào các
hoạt động, đặc biệt là hoạt động vui chơi có tính giáo dục - hoạt động chính của trường mẫu
giáo. Nhân cách của trẻ đã bộc lộ và sớm được bồi dưỡng.
123
Học sinh mẫu giáo
(Đơn vị: người)
Địa bàn 1980 1985 1986 1987
Toàn thành
Nội thành
Ngoại thành
109.370
82.210
26.160
122.064
92.593
29.471
131.777
101.346
30.431
135.830
104.594
31.236
2.2.2 Khu vực nhà trẻ:
Năm 1985, có 564 nhà trẻ, 4.850 cô nuôi dạy trẻ, 31.089 cháu. 100% phường, 65%
xã có nhà trẻ. So với năm 1975, số nhà trẻ tăng 56 lần, số cháu tăng 46 lần. Các nhà trẻ đều cải
tạo và xây dựng từ những cơ sở cũ, những nhà ở của tư nhân, nên điều kiện nuôi dạy trẻ gặp rất
nhiều hạn chế. Tranh thủ sự viện trợ của các tổ chức quốc tế, thành phố đã xây dựng được 5
nhà trẻ có quy mô từ 100 đến 300 cháu.
UIPE (Union Internation de Protection des Enfants) giúp xây nhà trẻ Thành phố (số 4,
Trần Quốc Thảo, quận 3) thu nhận 300 cháu. UNICEF giúp xây 4 nhà trẻ quy mô 100 cháu mỗi
trường: nhà trẻ Nguyễn Tất Thành (quận 4), nhà trẻ 19/5 (quận 8), nhà trẻ Hữu Nghị (quận 11),
nhà trẻ Bông Hồng (huyện Củ Chi), tổ chức FCD (Fonds Cooperatin de Dévelopment) của Bỉ
giúp xây nông trại Tân Thắng (phường 16, quận Tân Bình) để cung cấp thịt, cá, trứng, rau xanh
Năm học Nhà trẻ Số trẻ đến trường Mẫu giáo Số trẻ đến trường
84-85 564 31.089 376 114.791
(47% trẻ
trong độ tuổi)
89-90 273 17.126
(9,5% trẻ
trong độ tuổi)
346 87.859
(34,5% trẻ
trong độ tuổi)
Đây là những năm tháng gian nan nhất của ngành học. Tồn tại và phát triển hay
tan rã? Câu hỏi này nếu chưa làm động lòng những ai đã mạnh tay sử dụng những cơ
sở tốt của nhà trẻ, mẫu giáo cho mục đích kinh doanh thì luôn luôn là nỗi day dứt, thôi
thúc các cán bộ giáo dục trước hết là cán bộ, giáo viên nhà trẻ, mẫu giáo suy nghĩ và
hành động nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngành học mầm non – “một bộ
phận rất quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người mới xã
hội chủ nghĩa” – (trích Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục). Cán bộ, giáo
viên đã kiên trì bám trụ để giữ lại trường, lớp có thể giữ được, học sinh nhiều ít vẫn cứ
dạy.
Toàn ngành học mầm non từ đội ngũ cán bộ quản lý đến giáo viên xác định: Chỉ có
một con đường duy nhất để tồn tại và phát triển là phải quyết tâm nâng cao chất lượng nuôi dạy
trẻ bất luận dù khó khăn đến đâu. Chất lượng nuôi dạy trẻ sẽ là một minh chứng hùng hồn cho
sự cần thiết tồn tại và phát triển ngành.
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Cán bộ quản lý ngành học các cấp vừa vận động thuyết phục, vừa đấu tranh có lý, có
tình, đồng thời đề xuất những biện pháp chấn chỉnh, khôi phục và phát triển ngành học.
Và Uỷ ban nhân dân thành phố đã có những chủ trương kịp thời đối với ngành học:
Chuyển nhà trẻ, mẫu giáo cho Phòng Giáo dục quận, huyện quản lý toàn diện.
19/5 của thành phố có tỉ lệ cháu suy dinh dưỡng thấp nhất (nhà trẻ:5,74%, mẫu giáo:8,7%).
Quận 1 và quận 10 là hai đơn vị có tỉ lệ cháu suy dinh dưỡng thấp (quận 1: nhà trẻ 13,4%, mẫu
giáo 15%; quận 10: nhà trẻ 13%, mẫu giáo 20%).
Kết quả chống suy dinh dưỡng và chất lượng nuôi được nâng lên đã tạo được niềm
tin cho cha mẹ các cháu.
Nhờ sự hỗ trợ tích cực của ngành y tế, đã tiêm chủng cho 83,95% trẻ dưới 1 tuổi và
khám sức khoẻ định kỳ cho 83,73% cháu nhà trẻ và 76,8% cháu mẫu giáo.
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Hội thi Bé khoẻ - Bé ngoan đã có tác động tốt trong việc khẳng định chất lượng nuôi
dạy tại các nhà trẻ và trường mẫu giáo chính quy, tạo điều kiện cho toàn xã hội nhận thức đúng
về sự nghiệp giáo dục mầm non đồng thời có tác dụng lớn trong việc nâng cao chất lượng nuôi
dạy. Việc thu một phần học phí một cách linh hoạt tuỳ theo đối tượng, tuỳ theo loại trường và
thực tế từng địa phương là một kinh nghiệm tốt. Từ nguồn thu này đã có thêm điều kiện chăm lo
đời sống các cô, động viên phong trào thi đua và bổ sung thêm trang thiết bị.
Tuy nhiên, vẫn còn những điểm yếu: số học sinh mẫu giáo giảm nhiều (giảm 33.209
cháu so với năm học 1988-1989). Số cháu 5 tuổi ra lớp chỉ mới đạt 48,3% trong độ tuổi. Nguyên
nhân giảm sút là do cha mẹ muốn cho con đi học chữ, học ngoại ngữ ở nhà hoặc học ở những
lớp do tôn giáo mở. Tình trạng tôn giáo tự phát mở các lớp mẫu giáo ở nhiều qụận, huyện nằm
ngoài sự kiểm soát, chỉ đạo của ngành giáo dục cần phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời. Tỉ lệ
cháu suy dinh dưỡng ở ngoại thành và vùng ven còn cao (Bình Chánh, Tân Bình: trên 25%, quận
8, Củ Chi: trên 30%) do tiền ăn quá thấp, không đảm bảo dinh dưỡng cần thiết. Cán bộ phụ trách
giáo dục mầm non ở một số quận, huyện còn thiếu và yếu. Số đông cán bộ quản lý nhà trẻ còn
yếu về nghiệp vụ nên ảnh hưởng đến việc chỉ đạo chuyên môn.
3) Giáo dục Mầm non trong quá trình đổi mới giáo dục
(từ năm học 1990-1991 đến năm học 1994-1995)
Năm học 1990-1991 mở đầu một giai đoạn mới có nhiều thuận lợi cho sự phát
triển giáo dục. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII (tháng 6/1991) đã xác định “Khoa học và công
nghệ, giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Nghị quyết cũng đã nêu: ”Khoa học và giáo dục
Ở khu vực nhà trẻ cũng là năm đầu tiên triển khai đại trà chương trình chỉnh lý
của Bộ Gíáo Dục & Đào Tạo thành phố, cũng đã xây dựng các chuyên đề thành phố cho nhóm
cơm nát, chuyên đề trang bị sân chơi. Chuyên đề sân chơi đã góp phần tích cực trong việc cải
tạo sân chơi, bổ sung đồ chơi ngoài trời vừa đáp ứng yêu cầu giảng dạy, giúp cô tổ chức tốt hoạt
động vui chơi ngoài trời cho trẻ, trẻ có điều kiện hoạt động tích cực, chạy nhảy thoải mái, cháu
chơi ngoài trời tốt nên ăn ngon, ngủ khỏe và lên cân. Mặt khác chuyên đề này cũng tạo điều kiện
cho các nhà trẻ thay da đổi thịt, tạo sức hút đối với phụ huynh và cháu.
Sở Giáo Dục & Đào Tạo phát động phong trào thi vẽ tranh phục vụ chương trình
học. Nhiều giáo viên nhà trẻ đã tích cực hưởng ứng gởi tranh dự thi. Kết quả có các đơn vị sau
đây đạt giải:
• Nhà trẻ Hoa Cúc phường 7 quận 3 đạt giải nhất
• Nhà trẻ 30/4 quận 1 và nhà trẻ 2/9 quận 10 đạt giải nhì.
• Nhà trẻ nhà máy sợi Đông Nam, nhà trẻ P.17, P.1 quận Tân Bình đạt giải
khuyến khích.
Thành phố đã chọn 12 bộ truyện (38 hình) để công ty Sách và Thiết Bị sản xuất
phục vụ ngành.
Ở khu vực mẫu giáo: tập trung nâng chất lượng giảng dạy ở các lớp mẫu giáo 5
tuổi. Thực hiện các chuyên đề Làm quen với Toán và Làm quen chữ cái nhằm rút kinh nghiệm
việc chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng vào lớp 1 phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi. Đồng thời cũng đã tích
cực thực hiện thể nghiệm chương trình cải cách tại các trường: Hoa Lư quận 1, Măng non I quận
10, Bông Sen Củ Chi, Tuổi Ngọc quận Tân Bình để chuẩn bị triển khai chương trình cải cách ra
đại trà.
Hội thi “Bé khoẻ Bé ngoan” đã trở thành hội thi truyền thống của ngành, một
hoạt động thực chất có tác dụng sâu rộng đến từng đơn vị nhà trẻ mẫu giáo và đến tận từng giáo
viên. Hội thi của những mầm non nhỏ nhất xã hội, đã có một ảnh hưởng lớn trong việc phát động
các gia đình, các tổ chức nuôi dạy trẻ cùng toàn xã hội nâng cao chất lượng nuôi dạy cháu để
đạt mục đích chống suy dinh dưỡng, tạo điều kiện cho bé phát triển toàn diện cả về thể chất và
trí tuệ. Kết quả lớn nhất của phong trào thi Bé khoẻ Bé ngoan là đã nâng cao chất lượng nuôi
dạy của giáo viên, đánh giá chính xác phong trào thi đua thông qua kết quả thể hiện trên trẻ, có
tác dụng sâu rộng trong việc tuyên truyền phòng chống suy dinh dưỡng, nâng uy tín các nhà trẻ
Chỉ tính riêng năm học 1993-1994 tổng kinh phí dành cho GDMN sửa chữa, xây mới,
mua sắm trang thiết bị đã lên đến 22.731.300 đồng.
Trong đó
• Xây mới: 16.141.393.640đ
• Sửa chữa: 4.028.474.059đ
• Trang bị: 2.561.632.307đ
Trong đó:
• Ngân sách nhà nước cấp: 20.712.838.716đ
• Phụ huynh đóng góp: 2.018.461.290đ
Vào những năm tiếp theo, hàng loạt trường mầm non được xây dựng mới đúng
quy cách, trang bị đầy đủ, khá hiện đại đã được thực hiện tại các quận, các trường như: Bàu
Cát, MN Quận (Tân Bình), MN 25, MN26 (quận 5), MNTH 19/5.
Năm học 1994-1995, tổng kinh phí xây mới, cải tạo, trang bị cho ngành học mầm non
là: 35.709.090.000đ ( so với năm học trước tăng hơn 12 tỉ). Trong đó ngân sách nhà nước cấp là
23.915.616.000đ và từ các nguồn thu khác và đóng góp của phụ huynh là: 11.793.474.000đ
Trong 5 năm (1990-1995) của quá trình đổi mới giáo dục, ngành GDMN thành
phố đã có một sức bật mạnh mẽ, được ổn định, phát triển mạnh về số lượng, nâng cao
chất lượng nuôi dạy cháu rõ rệt. Việc cải tạo và xây dựng mới nhiều trường lớp khang
trang đẹp đẻ văn minh hiện đại đầy đủ tiện nghi đã làm thay đổi bộ mặt của ngành Giáo
Dục Mầm Non thành phố, ngày càng đáp ứng yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ. Các trường
được xây dựng mới vào thời điểm này cũng chính là những trường vào thập niên 2000 có
đủ điều kiện để được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia.
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Về việc huy động trẻ đến trường
Năm học % cháu vào NT % cháu vào MG % cháu 5 tuổi đi học
90-91 17371
(9,08%)
85802
đổi mới giáo dục và đào tạo, tạo ra cơ hội quan trọng để giáo dục và đào tạo phát triển đáp ứng
yêu cầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngày 22/01/1997, Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã thông qua chương trình hành
động thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về giáo
dục đào tạo. Thành phố đã lấy năm 1999 làm năm giáo dục, một cơ hội tốt cho Giáo Dục Đào
Tạo thành phố có bước phát triển tốt.
Năm học 2001-2002 là năm đầu tiên thành phố thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, tạo
bước chuyển biến quan trọng về số lượng và chất lượng.
Riêng về Giáo Dục Mầm non thành phố, các bậc phụ huynh học sinh đã nhận thức
được tầm quan trọng của việc đưa trẻ đến trường mầm non. Ở các năm 2001, 2002, 2003 số
lượng trẻ được chăm sóc ở các loại hình giáo dục nhà trẻ, nhóm trẻ, trường mẫu giáo, trường
mầm non đã đạt và vượt chỉ tiêu của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo.
Có thể nói ngành học mầm non ngày càng được đa dạng hóa bởi các loại hình
trường lớp như công lập, bán công, dân lập tư thục; trong đó loại hình trường công lập vẫn giữ
vai trò chủ đạo.
Giáo dục Mầm Non đã đầu tư nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ, đồng thời thực hiện đầy đủ và có chất lượng các nội dung chuyên môn do Bộ chỉ
đạo như: đổi mới hình thức tổ chức hoạt động cho trẻ 3-5 tuổi, thực hiện đổi mới môi trường hoạt
động cho trẻ mầm non, thực hiện chuyên đề nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với Toán,
thực hiện chương trình quốc gia “phòng chống suy dinh dưỡng”, chuyên đề phòng chống béo
phì, tăng cường an toàn vệ sinh thực phẩm…
Về nuôi dưỡng và chăm sóc :
+ Học sinh mẫu giáo bán trú : 85%
+ Tỉ lệ học sinh được quản lý sức khỏe bằng phiếu theo dõi sức khỏe trẻ em: 99,5%
+ Tỉ lệ học sinh được khám sức khỏe định kỳ: 96%
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
+ Tỉ lệ hạ suy dinh dưỡng cân nặng: 3,8% trên tổng số trẻ tương đương với 73.7%
so với số trẻ thiếu cân (theo tuổi) đã nhận vào.
1. Về quy mô:
a. Đã phủ kín nhà trẻ, mẫu giáo theo đơn vị phường, xã, thị trấn từ trung tâm
thành phố đến ngoại thành vùng sâu vùng xa.
Tính đến năm 2005-2006 đã huy động 37,29% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 87,87%
trẻ trong độ tuổi mẫu giáo đến trường. Vượt chỉ tiêu phát triển giáo dục mầm non toàn quốc đến
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
năm 2010 (18% trẻ nhà trẻ và 67% trẻ mẫu giáo). Trong đó cháu NT học bán trú là 100%, cháu
mẫu giáo học bán rú trên 80%.
Để có cái nhìn đầy đủ, trọn vẹn về sự phát triển mạnh mẽ của Giáo dục mầm non
thành phố trong quá trình 30 năm hình thành, xây dựng và phát triển, xin được chứng minh bằng
những con số ở những cột mốc phát triển của ngành vào những năm học kết thúc từng giai
đoạn:
Năm học % cháu đến NT %cháu đến MG % cháu học BT % cháu MG 5 t
1976-1977
(kết thúc 2 năm
cải tạo & xây
dựng)
5.010 77.841
21%
2.000
2,56%
1989-1990
(kết thúc quá
trình cải cách
giáo dục)
17.126
9,5%
98,38%
Đây là những con số biết nói, những con số chứng minh hùng hồn về yêu cầu của xã hội
đối với sự phát triển của ngành, đồng thời cũng chứng minh những bước đi vững chắc
của ngành trong 30 năm xây dựng và phát triển, khẳng định với xã hội về sứ mạng chăm
sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non của các trường lớp mà xã hội đã giao phó, khẳng
định uy tín về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của ngành học mầm non thành phố,
khẳng định niềm tin yêu của phụ huynh, của xã hội đối với ngành học mầm non, khẳng
định 30 năm xây dựng phát triển ngành tuy rất gian khổ với nhiều thăng trầm có những
giai đoạn báo trước nguy cơ tan rã ngành giáo dục mầm non nhưng đội ngũ cán bộ quản
lý, giáo viên của ngành đã quyết tâm đứng vững vuợt qua bao khó khăn để xây dựng
ngành học mầm non thành phố phát triển vững chắc những ngày hôm nay.
b. Về trường, lớp bán trú:
Khẳng định chủ trương đứng đắn của Đảng và nhà nước, khẳng định tính ưu việt của
chế độ đối với việc chăm sóc giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non của thành phố. Sau ngày Saigon giải
phóng, hầu hết trường lớp mẫu giáo học một buổi. Từ sau ngày 13/10/1975 Ủy Ban Nhân dân
thành phố có chủ trường dành và nhường những nhà đẹp có điều kiện tổ chức cho trẻ học cả
ngày để cha mẹ bé yên tâm. Kỷ niệm về những ngày đầu sau giải phóng xây dựng trường lớp
mẫu giáo bán trú thật khó quên.
Hưởng ứng chủ trương tổ chức ăn trưa cho các cháu tại trường trong điều kiện
không có bếp, không có phòng ngủ nhưng Ban giám hiệu trường mẫu giáo thực hành đã ý thức
được trách nhiệm trong yêu cầu chăm sóc trẻ cả ngày, giải phóng phụ nữ, giải phóng sức lao
động. Để giữ được các cháu cả ngày, nhà trường đã mua 3 ông táo để nấu cơm, dọn bàn ghế ra
hành lang để ăn cơm và lau dọn lớp sạch sẽ cho cháu ngủ trưa. Chỉ sau 5 ngày chuẩn bị nhà
trường đã tổ chức ăn trưa được cho 140 cháu. Sau đó các quận 1, 3, 5, 10, Phú Nhuận, Thủ
Đức cũng đã triển khai một số lớp bán trú.
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Có những trường ở gần nhau như: Vườn Hồng, Họa Mi, Hòa Bình quận 3 đã tổ chức
bếp ăn chung… Có những trường quá chật hẹp như: trường Đoàn Kết (Nhà Bè) chỉ có 1 căn
có thể sánh được với các trường tiên tiến trong khu vực.
4. Về công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia;
Tính đến tháng 5/2006 đã có 33 trường được thẩm định và công nhận trường đạt
chuẩn quốc gia, trong đó có 05 trường thuộc khu vực nông thôn. Có 18/24 quận huyện đã có
trường đạt chuẩn quốc gia (trong đó có quận 5 đạt 4 trường, huyện Hóc Môn đạt 2 trường).
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Trường Mầm non Họa Mi 1 và Họa Mi 2 quận 5 là những trường trong đợt đầu tiên
cả nước được công nhận đạt chuẩn quốc gia khu vực thành thị giai đọan 2000-2005.
LỜI KẾT
Chặng đường 30 năm cải tạo, xây dựng và phát triển sự nghiệp Giáo dục Mầm non
thành phố là một chặng đường đầy vinh quang nhưng cũng lắm chông gai khó khăn và phức tạp,
đã có những năm tháng đứng trước nguy cơ tan rã của ngành, vừa cải tạo cơ sở giáo dục cũ
của Mỹ ngụy vừa xây dựng, phát triển và đổi mới nền giáo dục xã hội chủ nghĩa theo đường lối
quan điểm giáo dục của Đảng, suốt 30 năm kiên trì phấn đấu qua nhiều bước thăng trầm, ngành
Giáo dục Mầm non thành phố đã từ chỗ hầu như không có gì đến nay đã xây dựng được hệ
thống trường mầm non đều khắp 24 quận huyện đảm nhiệm việc chăm sóc giáo dục trẻ từ 4
tháng đến 72 tháng tuổi đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân lao động được cha mẹ học sinh
và xã hội tín nhiệm, tin yêu.
Tuy vậy, Giáo dục Mầm non thành phố vẫn còn một số bất cập như chưa huy động
được 100% ở vùng khó khăn đến lớp; chất lượng quản lý và giáo dục chưa thật sự đồng đều
nhất là giữa các trường công lập và bán công với các trường tư thục dân lập, nhóm trẻ gia đình;
giữa trường ở trung tâm thành phố với những vùng dân cư khó khăn.
Thành tựu về Giáo dục mầm non thành phố 30 năm qua thật to lớn rất đáng tự hào, là
điểm son của nền giáo dục sau giải phóng. Những kinh nghiệm quý báu từ những thành công và
hạn chế trong chặng đường 30 năm qua giúp cán bộ giáo viên ngành học tự khẳng định mình,
thêm nghị lực, ý chí quyết tâm đưa sự nghiệp giáo dục mầm non thành phố vươn lên mạnh mẽ
sánh vai với giáo dục mầm non các nước trong khu vực, mãi xứng đáng với niềm tin yêu của
Đảng bộ chính quyền và nhân dân thành phố, xứng đáng với sự hy sinh cao cả của đồng bào,