Một số kỹ năng giao tiếp trong công tác vận động kế hoạch hóa gia đình của cộng tác viên dân số - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC
NGUYỄN THỊ THU HIỀN

MỘT SỐ KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG
KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH CỦA CỘNG TÁC VIÊN DÂN SỐ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Chuyờn ngành Tõm lý học
Mó số: 60.31.80

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN NGỌC PHÚ
1.2.6 Kỹ năng giao tiếp trong cụng tỏc vận động ngi dõn thc hin
KHHGĐ 41
1.3 Đặc điểm tâm lý của ng-ời dân ch-a mun thực hiện KHHGĐ 42
1.4 Phẩm chất c trng của CTVDS 44
1.5 Cỏc nhúm kỹ năng giao tiếp trong công tác vận động KHHGĐ của
CTVDS
45
1.5.1 Nhóm kỹ năng định h-ớng giao tip trong công tác vận động KHHGĐ 45
1.5.2 Nhóm kỹ năng định vị giao tip trong cụng tỏc vận động KHHGĐ 46
1.5.3 Nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp trong cụng tỏc vận động
KHHGĐ 48
1.6 Những giai đoạn của quá trình giao tiếp và những biểu hiện của kỹ năng
giao tip trong vận động KHHG 50
Ch-ơng 2: T chc nghiờn cu
2.1 Vi nột v khỏch th nghiờn cu 53
2.2 Các ph-ơng pháp nghiên cứu đ-ợc sử dụng trong đề tài 54
2.2.1 Ph-ơng pháp nghiên cứu tài liệu 54
2.2.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi 54
2.2.3 Ph-ơng pháp phỏng vấn sâu 57
2.2.4 Ph-ơng pháp quan sát 57
2.2.5 Ph-ơng pháp thống kê toán học 58
2.3. T chc quỏ trỡnh nghiờn cu 58
Ch-ơng 3: Phân tích kết quả nghiên cứu
3.1 Kết quả khảo sát xác định các kỹ năng giao tiếp 60
3.2 Kết quả khảo sát nhúm kỹ năng định h-ớng giao tiếp trong công tác
vận động KHHGĐ 64
3.2.1 Kt qu kho sỏt k nng nh hng ni dung vn ng i tng 64
3.2.2 Kt qu kho sỏt k nng nh hng cỏch thc vn ng i tng 72
3.3 Kết quả khảo sát nhúm kỹ năng định vị giao tiếp trong công tác
vận động KHHGĐ 77

NGHĨA ĐẦY ĐỦ
CTVDS
CBCT
KHHGĐ
ĐTB
THPT
THCS
Cộng tỏc viờn dõn số
Cỏn bộ chuyờn trỏch
Kế hoạch hoá gia đỡnh
Điểm trung bỡnh
Trung học phổ thụng
Trung học cơ sở
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam tỷ lệ sinh cao gây áp
lực lớn đến kinh tế - xã hội nên hầu hết những nước này đã thiết kế chính
sách DSKHHGĐ nhằm hạn chế gia tăng dân số.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề gia tăng dân số, ngay từ
năm 1961 жng vµ Nhµ n-íc ta đã đề ra chủ chương vận động sinh đẻ có kế

ng v Nh nc v cụng tỏc vn ng KHHG, chỳng tụi ó la chn
ti: Mt s k nng giao tip trong cụng tỏc vn ng k hoch hoỏ gia
ỡnh ca cng tỏc viờn dõn s.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận giải một số kỹ năng giao tiếp cơ bản của CTVDS trong công tác
vận động KHHGĐ, chỉ ra thực trạng thực hiện các kỹ năng này trong vận
động KHHGĐ của CTVDS, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp, kiến nghị
nhằm nâng cao chất l-ợng công tác KHHGĐ theo đúng chủ tr-ơng chính
sách của Đảng và Nhà n-ớc.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu đã nêu trên, đề tài tập trung giải
quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:
3.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận có liên quan đến kỹ năng giao
tiếp khỏi quỏt mt s kỹ năng giao tiếp c bn trong vận động đối t-ợng
thực hiện KHHGĐ của CTVDS.
3.2 Lm rừ thực trạng của việc thực hiện các kỹ năng này trong công
tác vận động KHHGĐ của CTVDS một địa ph-ơng trong diện nghiên cứu.
3.3 Trên cơ sở đó đ-a ra những kết luận và kiến nghị cn thit nhằm
bồi d-ỡng kỹ năng giao tiếp cho CTVDS trong công tác vận động KHHGĐ,
to iu kin cho vic, thực hiện tốt chủ tr-ơng, chính sách của Đảng và
Nhà n-ớc trên lĩnh vực này.
4. Gii hn phm vi nghiờn cu:
ti c gii hn trong phm vi ca mt tnh. ú l tnh Thỏi
Bỡnh.
5. Đối t-ợng nghiên cứu
Kỹ năng giao tiếp. Đề tài đi vào làm rõ kỹ năng giao tiếp trong công
tác vận động ng-ời dân thực hiện KHHGĐ.
6. Khách thể nghiên cứu
+ Cộng tác viên dân số: 180 ng-ời
+ Cán bộ chuyên trách : 60 ng-ời

cnh, hoc a ra ý kin ch quan ca bn thõn mỡnh cho vn hoc hin
tng ó c a ra.
Vi phng phỏp ny chỳng tụi ó xõy dng mt b cỏc cõu hi
nhm mc ớch t nhng cõu tr li thu nhp thụng tin v k nng giao
tip ca cng tỏc viờn dõn s trong vn ng KHHG
8.2.3 Phng phỏp quan sỏt:
Thc hnh cỏc quan sỏt v ngi dõn cú cỏc hon cnh ộo le khỏc
nhau trong thc hin KHHG; quan sỏt cụng vic thng ngy ca cỏc
CTVDS…, đặc biệt trong các tiếp xúc của CTVDS với người dân… trên cơ
sở đó thu thập các số liệu, luận cứ cần thiết.
8.2.4. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện với CTVDS và CBCT
nhằm thăm dò ý kiến của khách thể bằng cách trao đổi trực tiếp giữa người
phỏng vấn và khách thể nhằm nghiên cứu sâu hơn các kỹ năng giao tiếp của
cộng tác viên, cắt nghĩa nguyên nhân thành công cũng như thất bại của các
trường hợp cụ thể.
8.2.5. Phương pháp phân tích số liệu thống kê;
Số liệu điều tra được xử lý bởi chương trình thống kê SPSS dùng cho
mọi trường hợp Windows phiên bản 15.0
Phân tích sử dụng thống kê suy luận
Phân tích đơn chiều:
Phân tích đơn chiều giúp chúng ta khai thác một cách chung nhất các
số liệu thu thập như: Sự phân bố các số liệu, tần số xuất hiện, giá trị trung
bình, độ lệch chuẩn …

triết học đã quan tâm nghiên cứu hiện tượng giao tiếp. Nhìn chung, các tác
giả đều đánh giá giao tiếp như một nhu cầu xã hội tất yếu của con người và
có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự hình thành và phát triển của cá nhân
cũng như của xã hội. Tư tưởng này đã trở thành phương pháp luận cho
những nghiên cứu về con người và xã hội.
-Vào giữa thế kỷ XX: “ Điều khiển học”, một khoa học mới ra đời,
mở đầu bằng một số tác phẩm của N.Vina, nhà bác học Mĩ viết cuốn “Lí
thuyết toán học của quá trình thông tin”. Năm 1950, thuyết hệ thống ra đời
với công trình: “ Phác hoạ lý thuyết chung về hệ thống”, phát hiện ra rằng
các thành tố trong tổ hợp các quan hệ qua lại với nhau, về bản chất các mối
quan hệ này không phải là ngẫu nhiên . Từ đây việc nghiên cứu giao tiếp
chịu ảnh hưởng nhiều của điều khiển học, lí thuyết thông tin và lí thuyết hệ
thống. Các tác giả này coi giao tiếp là một tổ hợp hành vi, là một quá trình
xã hội diễn ra giữa người và người bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ( cử chỉ,
điệu bộ, nét mặt…)
-Vào những năm đầu của thể kỷ XX, khoa học tâm lý đã bắt đầu chú ý
nghiên cứu giao tiếp. Bác sỹ tâm thần người Aó S.Freud (1856-1939) đã
nghiên cứu mối quan hệ giữa giao tiếp và giấc mơ, ông chú ý đến các yếu tố
“ chuyển giao”, “ngoại xuất” và “ đồng nhất” trong giao tiếp. Khi giao tiếp,
có người phát tín hiệu, có người nhận thông tin và cả hai bên đều muốn tìm
hiểu nhau và có tác động lên nhau.
-Các nhà tâm lý học Gestalt quan tâm đến hiện tượng giao tiếp như
một cấu trúc trọn vẹn, họ đã phân tích giao tiếp thành các yếu tố và đặt
chúng trong một hệ thống các yếu tố rộng hơn các quan hệ xã hội.
- Bateson (Pháp), khi nghiên cứu các yếu tố của giao tiếp đã phân biệt
hai phương thức giao tiếp là giao tiếp đối xứng và giao tiếp bổ sung. Theo
ông, mọi giao tiếp được biểu hiện ra ở một trong những phương thức ấy, nó
có tính hệ thống khi thiết lập được sự bình đẳng hay sự tương hỗ, nó có tính
bổ sung khi thể hiện sự khác nhau.
Trong tâm lý học Mỹ đã xuất hiện nhiều tác giả nghiên cứu về nghệ

Cuộc điều tra được giữ kín, cần giải thích rõ tính khuyết danh của các dữ
liệu.
Người được phỏng vấn là người tự nguyện. Những người bị phỏng
vấn có cơ hội từ chối dù người phỏng vấn có thuyết phục họ hợp
tác.[34,trang119]
-Dale Carnegie đã trình bày những nghệ thuật, bí quyết trong quan hệ
giao tiếp giữa con người với con người trong cuốn “ Đắc nhân tâm”. Theo
ông, để thu hút được đối tượng giao tiếp, con người có nghệ thuật và kỹ
năng giao tiếp nhất định. Ông đã đưa ra 6 cách gây thiện cảm trong giao
tiếp: Thành thật chú ý đến người khác; giữ nụ cười trên môi; cố gắng biết tên
đối tượng và xưng tên họ khi tiếp xúc; biết chăm chú lắng nghe, khuyến
khích đối tượng nói chuyện về họ; nói với người ấy về những gì thuộc về sở
thích, hoài bão của họ; thành thật làm cho họ thấy sự quan trọng của họ
[9,trang 98]
Từ những công trình nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận được, chúng
tôi cho rằng: Các nghiên cứu về giao tiếp ở các nước phương tây ngày càng
phát triển theo hướng ứng dụng vào các lĩnh vực hoạt động cụ thể như giao
tiếp trong kinh doanh, trong quản lý, trong tiếp xúc xã hội hàng ngày…
Những nghiên cứu như vậy có ý nghĩa thực tiễn. Song, nghiên cứu sâu về kỹ
năng giao tiếp, đặc biệt kỹ năng giao tiếp trong hoạt động chính trị xã hội ít
được các tác giả quan tâm.
1.1.2 Nghiên cứu giao tiếp, kỹ năng giao tiếp ở Liên Xô (trƣớc đây)
Ở Liên Xô, vào nửa sau của thế kỷ XX, đó xuất hiện một loạt công
trình nghiên cứu về giao tiếp. Có thể quy vào 2 hướng chính:
Hướng thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề chung về giao tiếp như:
bản chất, cấu trúc giao tiếp, cơ chế giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và
hoạt động…Vào thời gian này đã có một số công trình nghiên cứu giao tíêp
được xuất bản; có thể kể ra một số công trình sau: “ Tâm lý học về các mối
quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ” (1976) của I.L Kolominxki, “Tâm lý học
giao tiếp” (1978) của A.A Leonchiev, “Giao tiếp trong tâm lý học” (1981)

lớp học sinh trong quá trình chuẩn bị hoạt động), tổ chức (nhà giáo dục phải
tổ chức gặp trực tiếp ngay từ lúc đầu tiên tác động đến học sinh), định hướng
giao tiếp trong quá trình hoạt động và điều khiển giao tiếp trong quá trình
hoạt động.
Trên cơ sở phân tích cấu trúc của giao tiếp sư phạm, ông chia thành
năm giai đoạn, bao gồm: giai đoạn định hướng đầu tiên, giai đoạn định
hướng chung, giai đoạn “ thăm dò tâm hồn đối tượng”, giai đoạn thu hút sự
chú ý của học sinh và giai đoạn cuối cùng là giao tiếp ngôn ngữ, lời nói, bài
giảng, tạo sự chú ý của học sinh.
Theo V.A.Cancalich: mỗi giai đoạn có những kỹ năng giao tiếp nhất
định và ông đã đưa ra một hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư
phạm, luyện kỹ năng hành động một cách có tổ chức triệt để ở nơi công
cộng, luyện kỹ năng tạo bầu không khí xúc cảm thích hợp ở trong lớp, luyện
kỹ năng đối thoại ngắn, thay đổi điệu bộ, giọng nói ….
A.A Leonchiev đã liệt kê một số kỹ năng giao tiếp sư phạm như: kỹ
năng điều khiển hành vi bản thân, kỹ năng quan sát (phẩm chất chú ý linh
hoạt), kỹ năng nhạy cảm xã hội, biết phán đoán nét mặt người khác, kỹ năng
đọc, hiểu, mô hình hóa nhân cách học sinh, kỹ năng làm gương cho học sinh
noi theo, kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng kiến tạo sự tiếp xúc, kỹ năng
nhận thức (thu nhận, hệ thống hoá và truyền đạt thông tin).
- I.P.Dakharov đã đề xuất trắc nghiệm nghiên cứu các kỹ năng giao
tiếp. Nội dung trắc nghiệm nghiên cứu các kỹ năng giao tiếp sau: kỹ năng
tiếp xúc, thiết lập mối quan hệ lẫn nhau trong giao tiếp; kỹ năng biết cân
bằng nhu cầu của cá nhân với đối tượng giao tiếp; kỹ năng biết nghe và biết
lắng nghe; kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra người khác; kỹ năng tự chủ cảm
xúc, hành vi; kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, ngắn gọn, mạch lạc; kỹ năng mềm
dẻo linh hoạt trong giao tiếp; kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp; kỹ
năng chủ động điều khiển quá trình giao tiếp và kỹ năng nhạy cảm trong
giao tiếp.
Trên cơ sở những nghiên cứu đó đạt được, có thể kết luận: Các nhà

sư phạm, giao tiếp trong cộng đồng, trong gia đình, trong bán hàng và trong
kinh doanh khách sạn du lịch [23] ; “ Một số vấn đề về giao tiếp” của
Nguyễn Tiến Trọng đề cập đến vấn đề giao tiếp trong xã hội, hình thức giao
tiếp ngoại giao giữa các nhà nước…[39]; “ Giao tiếp trong kinh doanh” của
Vũ Thị Phượng và Dương Quang Huy trình bày những kỹ năng và phương
pháp cơ bản để giao tiếp trong kinh doanh đạt hiệu quả [31].
Hiện nay giao tiếp đang là một chương trình quan trọng trong các
giáo trình tâm lý học của nhiều trường cao đẳng, đại học. Mai Thanh Thế:
“Giáo trình tâm lý học xã hôi- những vấn đề lí luận” tác giả đã đề cập đến
khái niệm chức năng và tác động qua lại của con người trong giao tiếp [35,
trang 94] và của Trần Hiệp (chủ biên) về cuốn “Giáo trình tâm lý học xã
hội- những vấn đề lý luận” [17] ; “ Nhập môn khoa học giao tiếp” tập bài
giảng dùng cho sinh viên hệ cao đẳng chuyên ngành công tác xã hội của Bùi
Thị Xuân Mai (2001) [26]; “Giáo trình giao tiếp ứng xử và kỹ năng bán
hàng” dùng cho các trường chuyên ngành bưu điện [12] .Trong thời gian gần
đây khoa tâm lý giáo dục trường Đại học sư phạm 1 Hà Nội là nơi có nhiều
công trình nghiên cứu về giao tiếp sư phạm như “ Đặc điểm giao tiếp sư
phạm” của Trần Trọng Thuỷ, “Giao tiếp và ứng xử sư phạm” của Ngô
Công Hoàn (1992), và “ Giao tiếp sư phạm” của Hoàng Anh và Vũ Kim
Thanh (1997) nói đến tri thức cơ bản về giao tiếp sư phạm, kỹ năng giao tiếp
sư phạm, đặc điểm nhu cầu giao tiếp của học sinh bậc trung học [3] ; “Giao
tiếp sư phạm” của Ngô Công Hoàn và Hoàng Anh (1999) nói đến vấn đề
chung về giao tiếp sư phạm, khái niệm, quá trỡnh, phương tiện, nguyên tắc,
phong cách, kỹ năng thực hành về giao tiếp sư phạm [19].
Gần đây đã có rất nhiều luận văn thạc sĩ, luận ỏn tiến sĩ viết về giao
tiếp và giao tiếp sư phạm, như: “Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo
trong nhóm chơi không cùng độ tuổi” (1994) của Lê Xuân Hồng; “ Những
khó khăn tâm lý trong giao tiếp sư phạm” của Nguyễn Thanh Bình (1997); “
Đặc điểm giao tiếp của người cảnh sát khu vực” của Hoàng Văn Học (1998);
“Giao tiếp và sự hình thành nhân cách thiếu niên” của Đào Thị Oanh (1999).

ứng xử và một số nghi thức và tập quán giao tiếp tiêu biểu của các nước trên
thế giới [10]; “Giáo trỡnh kỹ năng giao tiếp” của Chu Văn Đức (chủ biên)
giới thiệu về phong cách giao tiếp trong đời sống xó hội như cấu trúc,
phương tiện và phong cách giao tiếp, các kỹ năng giao tiếp cơ bản trong
những nghề cụ thể như giao tiếp qua điện thoại, thư tín, văn phũng [11]
Tác giả Mai Hữu Khuê (chủ biên) trong cuốn “Kỹ năng giao tiếp
trong hành chính nói về tầm quan trọng của giao tiếp trong công tác hành
chính, nguyên tắc và kỹ năng giao tiếp, nhu cầu giao tiếp có hiệu quả của
người quản lý [20] và trong cuốn “ Những cơ sở khoa học của quản lý kinh
tế” tập 2 (1988) khi phân tích giao tiếp của người lãnh đạo đã phân thành 2
loại: giao tiếp công việc và giao tiếp cá nhân người lãnh đạo cần một số kỹ
năng giao tiếp sau “Kỹ năng hiểu nhu cầu lo lắng của đối tượng, giúp cán bộ
quản lý xác định hành động khi gặp gỡ. Kỹ năng thể hiện sự quan tâm với
cấp dưới. Kỹ năng lắng nghe. Kỹ năng nghiên cứu con người.” [21,trang
98].
Về “ Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên” của Hoàng Thị Anh và
cỏc tỏc giả đã nêu ra ba nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm như sau:
1.Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp: nhận thấy sự thay đổi trạng
thái tâm lý qua nét mặt, ánh mắt; nhận thấy sự thay đổi trạng thái tâm lý qua
lời nói; phán đoán nhanh được ý định của đối phương; biết chuyển từ tri giác
bên ngoài đến xác định tính độc đáo của nhân cách; phán đoán nhanh chóng
thái độ của đối tượng đối với mình.
2. Nhóm kỹ năng điều khiển bản thân (kỹ năng định vị): biết chủ
động đề xuất giao tiếp theo mục đích của mình; biết tự kiềm chế; biết thay
đổi nét mặt khi cần; biết thay đổi giọng nói (nghi ngờ, ra lệnh, tin tưởng …);
biết kết thúc giao tiếp hợp lý
3.Kỹ năng điều khiển đối tượng: Biết hướng hoạt động của học sinh
theo ý mình để đạt mục đích giao tiếp; biết kích thích hứng thú học tập của
học sinh trên lớp; biết kích thích trí sáng tạo của mọi người và biết làm giảm
căng thẳng trong giao tiếp. [ dẫn theo 2, trang 38]

năng này, phân tích thùc tr¹ng, trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị cần thiết
nhằm bồi dưỡng rèn luyện nâng cao hiệu quả công tác cho cỏc cộng tác viên
dân số.
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Khái niệm giao tiếp
a. Xác định khái niệm
Ở nước ngoài, khi tìm hiểu, khám phá bản chất giao tiếp, các nhà tâm
lý học nước ngoài đã có nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu núi rừ các hướng sau:
Hướng thứ nhất: Thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao tiếp.
- Xu hướng thu hẹp khái niệm giao tiếp chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh
thông tin trong giao tiếp giữa người với người. Chẳng hạn một số các quan
điểm của các tác giả như:
E.E.Ac-gýt- Nhà tâm lý học Mỹ- nói đến sự tác động, sự truyền, sự
tiếp nhận thông báo và sự trao đổi thông tin của con người trong giao tiếp.
Mácgain- Nhà tâm lý học Anh- xem giao tiếp như là quá trình hai mặt
của sự thông báo- đó là quá trình thiết lập sự tiếp xúc và trao đổi thông tin.
Georgen Thines (1975) cho rằng giao tiếp là sự truyền đạt thông tin,
qua các trạng thái của hệ thống phát thông tin phát huy ảnh hưởng đến trạng
thái của hệ thống nhận thông tin.
J.P.Gruere (1982) nêu lên một định nghĩa có tính chất vật lý, xác định
sự giao tiếp là một quá trình chuẩn, trong đó một thông điệp được truyền tải
từ một bộ phát tới một bộ thu thông qua một chuỗi các yếu tố được gọi là
nguồn, kênh, địa chỉ.
Hai định nghĩa của Georgen Thines và J.P.Gruere chỉ nhấn mạnh đến
khâu truyền thông tin mà không tính đến vai trò chủ thể của người nhận
thông tin.
Laswell lại xác định: giao tiếp theo định nghĩa hẹp là truyền đi một
thông điệp nhưng nay phải được hiểu là sự làm cho hai người cũng chấp
nhận một cái gì là chung nhờ một quá trình hai chiều. Như vậy, định nghĩa
này đã quan tâm đến tính hai chiều trong quá trình giao tiếp, một thực tế

Chúng tôi cho rằng những quan điểm nêu trên chưa thật đầy đủ vì chỉ
đề cập đến giao tiếp bằng lời. Trong thực tế con người còn giao tiếp với
nhau qua ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, hành vi …
Trong bài báo “Tâm lý học giao tiếp”, V.N.Phanpherốp định nghĩa
giao tiếp như là sự tác động qua lại của con người, nội dung của nó là sự
nhận thức qua lại trao đổi thông tin nhờ sự giúp đỡ của những phương tiện
khác nhau của sự thông báo với mục đích xây dựng mối quan hệ qua lại có
lợi đối với quá trình hoạt động chung. Panpherốp đã chia giao tiếp làm bốn
thời điểm:
- Tiếp xúc hoặc liên hệ
- Tác động lẫn nhau
- Nhận thức lẫn nhau

Trích đoạn Ph-ơng pháp nghiên cứu tài liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status