ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HẰNG NGA
TỰ ĐÁNH GIÁ VỀ TÍNH CÁCH CỦA
NGƢỜI CAO TUỔI Ở HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TỰ ĐÁNH GIÁ VỀ TÍNH CÁCH
CỦA NGƢỜI CAO TUỔI Ở HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60.31.80
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Mộc Lan
Hà Nội – 2013
DANH MỤC CÁC BẢNG STT
Bảng số liệu
Trang
1
75
9
Bảng 3.9. Đánh giá nét tính cách tiêu cực của người cao tuổi
đối với mọi người
78
10
Bảng 3.10. Đánh giá nét tính cách tích cực của người cao
tuổi đối với bản thân
80
11
Bảng 3.11. So sánh tự đánh giá tính cách đối với bản thân
với các nhóm người cao tuổi
85
12
Bảng 3.12. Đánh giá nét tính cách tiêu cực của người cao
tuổi đối với bản thân
87
13
Bảng 3.13. Hành động của người cao tuổi biểu hiện nét tính
cách
90
14
Bảng 3.14. Tương quan giữa tự đánh giá nét tính cách đối
với xã hội và hành vi ứng xử
100
15
Bảng 3.15. Tương quan giữa tự đánh giá nét tính cách đối
với lao động và hành vi ứng xử
101
16
Trang
1
Biểu đồ 1: Biểu đồ so sánh tự đánh giá nét tính cách tích cực
đối với tập thể, xã hội của người cao tuổi và đánh giá của
người thân
58
2
Biểu đồ 2: Biểu đồ so sánh tự đánh giá nét tính cách tiêu cực
đối với tập thể, xã hội của người cao tuổi và đánh giá của
người thân
60
3
Biểu đồ 3: Biểu đồ so sánh tự đánh giá nét tính cách tích cực
đối với lao động của người cao tuổi và đánh giá của người
thân
67
4
Biểu đồ 4: Biểu đồ so sánh tự đánh giá nét tính cách tiêu cực
đối với lao động của người cao tuổi và đánh giá của người
thân
69
5
Biểu đồ 5: Biểu đồ so sánh tự đánh giá nét tính cách tích cực
đối với mọi người của người cao tuổi và đánh giá của người
thân
77
6
Biểu đồ 6: Biểu đồ so sánh tự đánh giá nét tính cách tiêu cực
đối với mọi người của người cao tuổi và đánh giá của người
1.3.2. Đặc điểm tính cách người cao tuổi……………………………………….26
1.3.2.1. Một số đặc điểm phát triển tâm sinh lý của ngƣời cao tuổi.………26
1.3.2.2. Đặc điểm tính cách ngƣời cao tuổi…………………………………28
1.3.3. Một số đặc điểm tự đánh giá của người cao tuổi nói chung…….….……33
1.3.4. Biểu hiện tự đánh giá về tính cách của người cao tuổi………….………38
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………….…… 41
2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu……………………………………… 41
2.1.1. Người cao tuổi thành phố Hà Nội………………………………….…….41
2.1.2. Trung tâm dưỡng lão……………………………………… 41
2.2. Đặc điểm khách thể nghiên cứu……………………………………… 42
2.3. Tổ chức nghiên cứu……………………………………… ………………….….43
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu……………………………………… ………… …44
24.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu……………………………………… …44
2.4.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi…………………………………… 45
2.4.3 Phỏng vấn sâu ……………………………………… …………………… 45
2.4.4 Trắc nghiệm TST……………………………………… …………………….46
2.4.5. Phương pháp xử lý và phân tích thông tin bằng thống kê toán học… 46
2.5. Cách tính toán các thang đo……………………………………… ………… 46
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN………………………………49
3.1. Tự đánh giá về nét tính cách đối với tập thể và xã hội của ngƣời cao
tuổi……………………………………… ………………………………………48
3.1.1. Nét tính cách tích cực……………………………………… ………………49
3. 1.2. Nét tính cách tiêu cực……………………………………… …………… 59
3.2. Tự đánh giá về các tính cách đối với lao động của ngƣời cao tuổi……… 60
3.2.1. Nét tính cách tích cực……………………………………… ……………….60
3.2.2. Nét tính cách tiêu cực……………………………………… ……………….68
3.3. Tự đánh giá về nét tính cách đối với mọi ngƣời của ngƣời cao tuổi………69
3.3.1. Nét tính cách tích cực……………………………………… ……………….69
3.3.2. Nét tính cách tiêu cực……………………………………… ……………….77
3.4. Tự đánh giá về các tính cách đối với bản thân của ngƣời cao tuổi……… 80
vậy, việc nghiên cứu đặc điểm tự đánh giá đã được rất nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu. Nhìn chung, đa số các tác giả đều quan tâm tới các lứa tuổi nhỏ (trung
học cơ sở, trung học phổ thông, sinh viên,…), song họ lại ít quan tâm nghiên cứu về
tự đánh giá của người trưởng thành trong đó có người cao tuổi.
Già hoá dân số ở Việt Nam đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy mô
ngày càng lớn. Tính đến cuối năm 2007, cả nước có trên 8 triệu người cao tuổi,
chiếm khoảng 9,6% dân số. Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ dân số từ 60
tuổi trở lên ở nước ta sẽ chạm ngưỡng 10% tổng dân số vào năm 2017, tức là dân số
Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017. Đến giữa thế kỷ
XXI, dân số Việt Nam còn ở mức độ già hơn cơ cấu chung của dân số thế giới. Việt
Nam sẽ đứng trước thách thức về già hoá dân số như Nhật Bản, Đài Loan và nhiều
nước phát triển công nghiệp khác trong tương lai gần. Xét về phương diện tâm lý
học, già hoá dân số xuất hiện nhiều vấn đề tâm lý đòi hỏi xã hội cần giải quyết cho
nhóm xã hội này. Đối với người cao tuổi, sự mất cân bằng và rối loạn tâm lý ngày
càng cần được lưu tâm vì những hậu quả tiêu cực nặng nề mà chúng có thể gây nên.
Những hậu quả này ảnh hưởng sâu sắc tới khả năng làm việc, tới sinh hoạt, tới chất
lượng sống của người cao tuổi. Một số nghiên cứu về sự thích nghi của tuổi già cho
rằng đối với người cao tuổi, việc kiểm soát sự lão hoá được coi là một trong những
yếu tố thích nghi quan trọng. Người già thường bị tác động bởi việc mất đi khả năng
kiểm soát, có thể đi kèm với những mất mát thực tế liên quan đến đời sống tinh thần
và thể chất. Việc kiểm soát môi trường sống của mình thay đổi tuỳ theo đặc điểm,
2
tuổi tác của từng người và môi trường riêng của người đó. Một người cao tuổi biết
kiểm soát sẽ hiểu được rằng, hiển nhiên ở tuổi già, việc các cơ quan dần bị lão hoá
là không thể tránh được. Những chức năng tâm vận động sẽ vì thế mà suy giảm đi.
Song cùng với tuổi tác, những người thông thường sẽ ý thức được sự già đi này.
Đồng thời, về khía cạnh xã hội, việc người già phải đối diện với sự nghỉ hưu cũng
có một tác động mạnh; trong gia đình thì con cái dần tách ra sống riêng, khiến cho
họ thấy cô đơn và vô dụng hơn bao giờ hết. Đó là khi mà biểu tượng của người già
- 100 người trưởng thành đang sống cùng hoặc là người thân với người cao tuổi
thuộc diện nghiên cứu.
+ Phỏng vấn sâu 20 người cao tuổi
+ Nghiên cứu 02 trường hợp người cao tuổi điển hình
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu tự đánh giá của người cao tuổi về nét tính cách biểu hiện
thái độ đối với xã hội, đối với lao động, đối với mọi người và đối với bản thân.
- Về khách thể nghiên cứu: người cao tuổi từ 60 tuổi đến 80 tuổi còn minh mẫn
sống cùng gia đình, sống trong nhà dưỡng lão.
- Về địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu ở một số quận (Đống Đa, Thanh Xuân) và 1
trung tâm dưỡng lão ở Hà Nội (trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người cao tuổi
Thiên Phúc tại Xóm 3- xã Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội.).
6. Giả thuyết khoa học:
Người cao tuổi đánh giá bản thân về nét tính cách tích cực cao hơn nét tính cách
tiêu cực. Tự đánh giá của người cao tuổi có khác nhau trong các nhóm tuổi, giới,
sống cùng gia đình và cô đơn. Hệ thống thái độ và hành vi biểu hiện tính cách là
thống nhất với nhau.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Những nguyên tắc phƣơng pháp luận chủ đạo trong nghiên cứu
Nghiên cứu này dựa trên cơ sở phương pháp luận của tâm lý học Macxit. Theo đó,
con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội, tâm lý, ý thức,
nhân cách hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và giao tiếp.
4
7.2. Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phƣơng pháp
nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp đàm thoại
cổ đại giới thiệu với người già lối sống, chế độ ăn uống, ngủ, nghỉ hợp lý như là
những biện pháp phòng ngừa chống lại sự lão hoá sớm.Trong thời kỳ phát triển của
tâm lý học (cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX) sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
tự nhiên tạo điều kiện cho các thực nghiệm khoa học và một số lý luận về tâm lý
người cao tuổi sự được xây dựng. Các nghiên cứu của các nhà khoa học nhằm xác
định nguyên nhân ban đầu của sự lão hoá nhằm tìm kiếm cách thức chủ yếu nhất để
khắc phục sự lão hoá, xây dựng các lý luận mới về sự lão hoá và cùng với đó là
nghiên cứu các khía cạnh tâm lý, xã hội và các chức năng của cơ thể đang lão hoá.
Cùng với những biến đổi nhân khẩu và xã hội cơ bản trong xã hội hiện đại sau chiến
tranh thế giới thứ hai đã xuất hiện lĩnh vực nghiên cứu mới được gọi là lão khoa xã
hội và ra đời bộ môn tâm lý học người cao tuổi ở một loạt các nước Tây Âu và Mỹ.
Lĩnh vực này không chỉ chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các ngành khoa học
xã hội, mà còn gắn liền với khía cạnh y- sinh học của sự lão hoá. Các công trình
nghiên cứu hiện đại về tâm lý người cao tuổi có thể liệt kê sau đây:
- Thuyết nghiên cứu sự thay đổi tâm lý khi nghỉ hưu
Nhà tâm lý học người Mỹ Ann Bowling (1998) đã thống kê ba thuyết chính về sự
lão hóa và nghiên cứu tâm lý của người về hưu. Đó là:
+ Thuyết khủng hoảng, đứt đoạn cho rằng lao động là điều kiện cơ bản của
sự hoà nhập xã hội và nghỉ hưu là mất sự hoà nhập đó.Đối với nhiều người, lao
động không những là nguồn sinh sống mà còn là một yếu tố mà dựa trên đó họ xây
dựng tình cảm về các giá trị tinh thần, về các giá trị tự khẳng định chính bản thân
mình.Đối với mỗi người, vai trò làm người lao động là cơ bản nhất sau đó mới đến
các vai trò xã hội khác như cha mẹ, hàng xóm, thành viên giải trí.Việc về hưu dẫn
đến tâm trạng dễ biến thành khủng hoảng với những biểu hiện như chán chường, lo
6
âu, bi quan, trầm cảm…tạo điều kiện cho một số rối loạn bệnh lý. Tỷ lệ tử vong
tăng rõ rệt vào lứa tuổi 65 lại càng làm cho nhiều người cho thuyết này là đúng.
+ Thuyết liên tục: cho rằng việc ngừng làm việc không nhất thiết dẫn đến sự
khủng hoảng tâm lý. Lao động không phải luôn dễ chịu và có tác dụng tốt với sức
của việc thích nghi thái quá, đó là khi người cao tuổi có ảo tưởng về những khả
năng quá mức của mình trong khi trên thực tế, ở lĩnh vực đó, họ chỉ còn là một cựu
chuyên gia. Việc “thành công” trải qua tuổi già, theo nghĩa đảm bảo rằng mình sống
tốt và có ích, dựa phần lớn vào khả năng mà cá nhân kiểm soát được xã hội quanh
mình và ý thức mà họ có về xã hội đó
- Nghiên cứu về đời sống tình cảm của người cao tuổi
Trong cuốn sách “ Tâm lý học người cao tuổi”, nhà tâm lý học người Nga
D.IA.Raigorodski ( 2004) đã cho rằng tình bạn ở tuổi già được gia tăng. Cảm giác
bị bỏ rơi có thể được bù trừ, bổ khuyết bằng sự tham gia quan hệ với bạn bè . Như
vậy, tình bạn ở tuổi già trở thành quan hệ tình cảm có ý nghĩa lớn đối với họ.
Năm 2000, nhà tâm lý học người Đức Martin Pinquart trong tạp chí “Tâm lý và tuổi
già”, đã làm thực nghiệm nghiên cứu “Tác động của trạng thái, mạng lưới và năng
lực kinh tế - xã hội đối với sự phồn thịnh khách quan trong cuộc sống của người
già”. Một phân tích giả định và đưa ra kết luận như sau: người cao tuổi cảm thấy
được thỏa mãn và hạnh phúc hơn khi sống trong mối quan hệ bạn bè vì họ có cùng
nhóm tuổi và thường chia sẻ những đặc điểm cá nhân, các kinh nghiệm và phong
cách sống. Hơn nữa, họ luôn là nguồn vui của nhau, thường xuyên giao lưu và cùng
nhau nghĩ về quá khứ tốt đẹp.
- Hôn nhân và vai trò của người cao tuổi trong gia đình
Công trình nghiên cứu của Martin Pinquart cho thấy người cao tuổi không
thích sống chung với con cái khi con cái đã trưởng thành. Họ xác định sống trong
những hộ gia đình tách biệt là một cách để duy trì sự độc lập, ủng hộ những tương
tác tự nguyện và tránh xung đột giữa các thế hệ trong gia đình. Trong nghiên cứu
của các nhà tâm lý học Mỹ có đề cập đến vấn đề ở tuổi già, phần lớn hôn nhân có
nguồn gốc là sự luyến tiếc, sự duy trì và sự gần gũi về tinh thần. Các cặp vợ chồng
8
già thường giúp đỡ lẫn nhau và họ hiểu rằng họ rất cần nhau. Chính vì vậy, ở tuổi
này, người già ít ly hôn .
Năm 1998, trong tạp chí “Tâm lý và tuổi già”, ba tác giả Neal Krause,
cuộc khảo sát lớn đầu tiên về sức khỏe của người cao tuổi (trên mẫu gồm 13.399
người từ 60 tuổi trở lên) ở các tỉnh phía Bắc. Cuộc khảo sát cung cấp một bức tranh
về sức khỏe và bệnh tật của người già ở miền Bắc. Kết quả nghiên cứu cho thấy
phần lớn trợ cấp hưu không đủ chi dùng, rất nhiều người nghỉ hưu mang tâm trạng
bị bỏ rơi, không được Nhà nước quan tâm đúng mức.
Năm 1993 các nhà y khoa và xã hội học đã tiến hành nghiên cứu định lượng
trên 196 khách thể là người nghỉ hưu tại Hà Nội. Theo kết quả nghiên cứu, người
già ở Hà Nội có liên hệ khá thân thiết với những người thân, do đó họ nhận được sự
giúp đỡ về vật chất và tinh thần đáng kể. Nghiên cứu cũng cho thấy, người nghỉ hưu
có nhu cầu được người thân chăm sóc khi ốm đau là rất cao. Điều này cho thấy vai
trò quan trọng của gia đình trong cuộc sống của người nghỉ hưu
Trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu cấp quốc gia về nhà ở, vào năm
1983, một nhóm nhà xã hội học đã tiến hành một khảo sát thực nghiệm về đời sống
người nghỉ hưu ở nội thành Hà Nội. Mẫu nghiên cứu là 500 người nghỉ hưu ở bốn
phường nội thành Hà Nội (Kim Liên, Bùi Thị Xuân, Thượng Đình và Hàng Bạc).
Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu việc tổ chức cuộc sống gia đình của người nghỉ
hưu vào các hoạt động của gia đình và xã hội tại nơi ở; sự biến đổi về địa vị và vai
trò của người nghỉ hưu trong gia đình và trong xã hội và những chính sách cần thiết
để vừa phát huy vốn kinh nghiệm và những năng lực phong phú của những người
nghỉ hưu tiếp tục phục vụ xã hội, vừa đảm bảo cho họ một cuộc sống đầy đủ ý
nghĩa lúc tuổi già. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số người nghỉ hưu không thấy có
sự suy giảm uy tín đáng kể trong gia đình sau khi họ về hưu. Người nghỉ hưu vẫn
tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt xã
hội đáng kể giữa những người nghỉ hưu là công nhân, viên chức hay trí thức. Người
công nhân nghỉ hưu ít tập thể dục, thể thao, ít đọc sách báo, nghe đài, xem tivi hơn
so với viên chức, trí thức nghỉ hưu.Về mối quan hệ trong gia đình, một bộ phận lớn
người nghỉ hưu có tâm trạng không hài lòng với con cái sống chung trong gia đình,
10
lý do chủ yếu là do con cái ít quan tâm chăm sóc cha mẹ, thiếu tâm tình cởi mở với
tinh thần 40% các cụ cho rằng cuộc sống tinh thần sau khi nghỉ hưu kém đi. Một số
người nhất là những người có lương hưu cao, có chức vụ khi tại chức, cảm thấy
cuộc sống hưu trí cô đơn, buồn tẻ. Nghiên cứu cho thấy, vai trò và vị thế của người
già trong cộng đồng và gia đình giảm đáng kể so với trước đây.
Trong hai năm 1991 đến 1992 Viện Xã hội học đã triển khai đề tài “Người
cao tuổi và an sinh xã hội” nghiên cứu khá công phu về đời sống của người già ở
nông thôn và thành thị nước ta từ góc độ xã hội học (lao động, thu nhập, hoàn cảnh
kinh tế, tình hình nhà ở và tiện nghi, vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, việc
tham gia công tác xã hội sau khi nghỉ hưu, hệ thống an sinh xã hội và tác động của
hệ thống đó vào hoàn cảnh sống của người già ). Bài viết của Phùng Tố Hạnh
“Giao tiếp xã hội và gia đình ở người cao tuổi”được rút ra từ kết quả của đề tài trên
cho thấy giao tiếp của người nghỉ hưu chủ yếu tập trung vào các mối quan hệ gia
đình và bè bạn – những nhóm phi chính thức hơn là những nhóm chính thức (các tổ
chức xã hội). Việc tham gia vào các tổ chức xã hội của người gia có xu hướng giảm,
các hình thức hoạt động nghèo nàn. Nghiên cứu cũng cho thấy, ở nơi nào có sự hỗ
trợ của chính quyền địa phương thì ở đó số người già tham gia các tổ chức xã hội sẽ
tăng.
Năm 1996, các nhà xã hội học thuộc Viện Xã hội học đã tiến hành cuộc khảo
sát “Người cao tuổi ở đồng bằng Sông Hồng” (trong đó có 16,63% người nghỉ
hưu). Kết quả nghiên cứu cho thấy, đời sống của người già đã khá lên so với nửa
đầu những năm 90. Tuy nhiên do mức lương hưu và trợ cấp thấp không đủ sống nên
nhiều người nghỉ hưu phải đi làm thêm (55,7). Gần 1/3 số người nghỉ hưu được hỏi
(28,2%) cho biết họ có tâm trạng “buồn”. Nghiên cứu cũng cho thấy, đối với người
nghỉ hưu nhu cầu chăm sóc sức khỏe và động viên tinh thần được đặt lên hàng đầu
(80,3%) các cụ hưu trí, mất sức có nhu cầu này.Phần lớn người nghỉ hưu đều mong
muốn đóng góp sức mình để giảm bớt khó khăn cho gia đình và xã hội.
Nghiên cứu của Dương Chí Thiện (1999) về “Sự tham gia hoạt động xã hội
của người cao tuổi ở đồng bằng sông Hồng” rút ra từ kết quả cuộc nghiên cứu trên
đã đề cập đến sự tham gia vào các hoạt động xã hội của người cao tuổi và qua đó
13
giềng ở đô thị bị thiếu hụt do đó giao tiếp của người cao tuổi cũng như người nghỉ
hưu bị bó hẹp trong phạm vi gia đình.
Nghiên cứu của Bế Quỳnh Nga (2000): “Người cao tuổi ở miền Trung và
Nam Bộ Việt Nam năm 2000 – Phác thảo từ một số kết quả nghiên cứu định tính”
cho thấy ở miền Nam các đoàn thể làm công tác từ thiện rất phát triển và số lượng các
cụ bà tham gia Hội người cao tuổi và tham gia hoạt động từ thiện nhiều hơn các cụ
ông. Nghiên cứu này đã phần nào cho thấy sự tích cực của các cụ cao tuổi (trong đó
có người nghỉ hưu) trong việc tham gia các công tác xã hội.
Dự án điều tra cơ bản năm 2003 của Bộ Kế hoạch đầu tư: “ Thực trạng người
cao tuổi Việt nam phát huy tài năng và trí tuệ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước” được tiến hành trên 600 khách thể là người cao tuổi tại ba tỉnh
Hải Dương, Quảng Bình và Đắc Lắc. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy cuộc sống
còn nhiều khó khăn, song đời sống văn hóa tinh thần của người cao tuổi hiện khá đa
dạng và thường xuyên được cải thiện. 71,2% người cao tuổi thường xuyên tham gia
các hoạt động văn hóa, 20,5% không thường xuyên và chỉ có 8,3% chưa bao giờ
tham gia các hoạt động văn hóa (nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện kinh tế còn
khó khăn) (Nguyễn Thế Huệ, Thực trạng sức khỏe và đời sống của người cao tuổi
tại Hải Dương, Quảng Bình và Đắc Lắc, bài viết trên tạp chí dân số và phát triển ố
10 năm 2004 trang 31 – 34)
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và Lê Trung Sơn (2003) về “Thực trạng
người cao tuổi và các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi ở Hà
Tây” cho thấy người cao tuổi ở Hà Tây thỏa mãn tinh thần chủ yếu là vui chơi cùng
con cháu (81,4%). Người cao tuổi ở nông thôn sinh hoạt cùng con cháu thường xuyên
hơn người cao tuổi ở thành thị (83,5% so với 77,4%). Người cao tuổi ở thành thị tiếp
cận với thông tin, tham quan, du lịch, thể dục thể thao và sinh hoạt đoàn thể một cách
thường xuyên hơn nông thôn. Tỷ lệ các cụ ở thành thị tham gia các hoạt động Đảng,
chính quyền cao hơn ở nông thôn. Các cụ ông tham gia nhiều hơn các cụ bà. Đa số
các cụ (80,7%) đều hài lòng với sự chăm sóc của gia đình, con cháu. (Nguyễn Xuân
Cường, Lê Trung Sơn: Thực trạng người cao tuổi và các giải pháp nâng cao chất
Trong khi đó, các cụ bà lại thường đi sinh hoạt lễ chùa và nhà thờ nhiều hơn so với
15
cụ ông. Về quan hệ gia đình, tỷ lệ ý kiến của người cao tuổi cho rằng quan hệ gia
đình hòa thuận giảm đi theo độ tăng của tuổi. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy,
một trong những nhu cầu nổi lên ở người cao tuổi hiện nay là nhu cầu chăm sóc sức
khỏe và nhu cầu được giao tiếp với người khác. Điều này phản ánh mong muốn
được người khác chia sẻ, quan tâm, chăm sóc ở người cao tuổi hiện nay.
1.2. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề tự đánh giá
Tự đánh giá được nghiên cứu từ rất sớm và ngày càng thu được sự quan tâm
của đông đảo các nhà tâm lý học trong và ngoài nước. Có nhiều cách tiếp cận và
quan điểm khác nhau trong nghiên cứu tự đánh giá. Có thể dẫn ra một số công trình
nghiên cứu về tự đánh giá của các nhà tâm lý học như sau:
1.2.1. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài
* Ở Liên Xô (cũ)
A.I.Lipkina và L.A.Rưbak, trong công trình nghiên cứu “Tính phê phán và
tự đánh giá trong hoạt động học tập”, đã xác định bản chất tâm lý của tự đánh giá
là: “hình thức phát triển cao của tự ý thức”, là “thành phần không thể tách rời của tự
ý thức, của sự phản ánh chính bản thân mình cũng như mối quan hệ của mình với
người khác, với thực tế xung quanh.” [12, tr. 12]. Hai tác giả đồng thời vạch ra
nguồn gốc của sự phát triển tự ý thức nói chung và tự đánh giá nói riêng là: “sự phát
triển của lịch sử xã hội tác động vào cá nhân thông qua hoạt động ngày càng phát
triển, càng phức tạp của bản thân”.
Trong cuốn Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm do A.V.Pêtơrôvxki
chủ biên, ông cũng đề cập đến vấn đề tự đánh giá. Song ông chỉ nhận xét những nét
chung chung về tự đánh giá.
V.P.Levcovic viết bài “Sự tự đánh giá và vai trò của nó trong quá trình hình
thành nhân cách” đăng trên tap chí “Giáo dục học Xô Viết”, 1970. Trong bài này,
tác giả nêu rõ vai trò điều khiển, điều chỉnh hành vi con người của sự tự đánh giá và
vạch rõ con đường của sự tự đánh giá trong cuộc sống tập thể và trong giao tiếp.
đánh giá và vai trò của nó trong sự hình thành và phát triển nhân cách cũng như đưa
ra một số phương hướng phát triển khả năng tự đánh giá.
17
* Ở Pháp, thống kê cho thấy chỉ trong vòng hơn 10 năm cuối của thế kỉ XX
đã có hơn 20.000 công trình nghiên cứu về tự đánh giá
* Ở Mỹ, theo hội tâm lý học Mỹ trong vòng 30 năm kể từ 1967 đến 1996 đã
có 13.587 bài viết về tự đánh giá được xuất bản. Trong đó, nổi bật nhất là công trình
nghiên cứu của tác giả Susan Harter. Tác giả cho rằng: “Tự đánh giá là sự đánh giá
tổng thể về giá trị của bản thân với tư cách là con người”. Tác giả đã xác định được
bản chất, nội dung của tự đánh giá và chỉ ra những yếu tố cụ thể cấu thành tự đánh
giá. [13, tr. 33]
Vấn đề tự đánh giá đang là đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu về người cao
tuổi (Duplenk U.K 1985). Phân tích các công trình nghiên cứu về tự đánh giá cho
thấy độ tuổi không ảnh hưởng đến cảm nhận về hạnh phúc, sự hài lòng với cuộc
sống, tính tự trọng (có yếu tố giới: nam giới hài lòng với cuộc sống và tự trọng cao
hơn nữ giới), tình trạng sức khỏe, mức độ tích cực tham gia lao động, công việc xã
hội, độ rộng và chất lượng của mối quan hệ xã hội, định hướng tương lai
(Neugarten B 1986, Cutler S J 1973, Edwards J N, Klemmark D L 1973, Dickie J R
1979). Một số công trình nghiên cứu cho thấy người cao tuổi thường có xu hướng
tự đánh giá thiếu sót của bản thân ít hơn so với những người trẻ tuổi, quan tâm đến
đặc điểm tính cách tích cực và thành tựu trước kia hơn là tình trạng của bản thân
hiện tại ( Gurin G 1960, Newman B M, Newman P R 1975, Kalmok M 1984). Theo
Crandall R (1973), Bromley D (1974) người già tuổi càng cao thì tự đánh giá càng
bi quan về sức khỏe, tự trọng giảm, đánh giá tiêu cực cảm xúc, không hài lòng với
cuộc sống tăng lên. Tự đánh giá các nét tính cách tích cực chung cả hai giới là thật
thà, nhân hậu, khiêm tốn, nhiệt tình, quan tâm; nét tính cách tích cực ở nam giới là
tính nguyên tắc, độc lập, ngăn nắp; nét tính cách tích cực ở nữ giới bao gồm cần cù,
trách nhiệm, tốt bụng, thân ái, thẳng thắn, cởi mở, tế nhị, ham hiểu biết. Tự đánh giá
các nét tính cách tiêu cực ở nữ giới là thiếu kiên trì, bực bội, tủi thân, căng thẳng,