Nhận thức cuả phụ nữ nông thôn Hà Tây về bình đẳng giới trong gia đình hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** NGUYỄN THỊ THOAN
NHẬN THỨC CỦA PHỤ NỮ
NÔNG THÔN HÀ TÂY VỀ BÌNH
ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TÂM LÝ
Người hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG MỘC LAN

HÀ NỘI 2007 1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu 5
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 6
4.1. Đối tượng nghiên cứu 6
4.2. Khách thể nghiên cứu 6
5. Phạm vi nghiên cứu 6
6. Giả thuyết khoa học 7

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 57
2.3.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi 57
2.3.3. Phương pháp phỏng vấn sâu 58
2.3.4. Phương pháp quan sát 58
2.3.5. Phương pháp thống kê toán học 58
2.4. Tiến trình nghiên cứu 58
Tiểu kết chương 2 60
CHƢƠNG 3: Kết quả nghiên cứu 61
3.1. Nhận thức chung của phụ nữ nông thôn Hà Tây về BĐG trong gia đình
61
3.1.1. Nhận thức về khái niệm BĐG trong gia đình 61
3.1.2. Nhận thức về BGĐ trong gia đình thông qua sự tự đánh giá về
mối quan hệ giới trong gia đình
3.1.3. Nhận thức về mục tiêu cuối cùng của BĐG trong gia đình 68
3.1.4. Nhận thức về vai trò, trách nhiệm của từng giới trong gia đình
71
3.1.5. Nhận thức về đối tượng gánh chịu bất BĐG trong gia đình

3
3.1.5.1. Nhận thức chung về đối tượng gánh chịu sự bất BĐG trong
gia đình 74
3.1.5.2. Nhận thức về đối tượng đang gánh chịu bất BĐG trong các
lĩnh vực của cuộc sống gia đình 77
3.1.5.3. Nhận thức về sự cần thiết thay đổi thực trạng bất BĐG
trong gia đình 83
3.2. Nhận thức về các biểu hiện của BĐG trong gia đình 84
3.2.1. Nhận thức về BĐG trong gia đình qua vấn đề bạo lực gia đình
85
3.2.2. Nhận thức về BĐG trong giao tiếp gia đình 99
3.2.3. Nhận thức về BĐG trong lĩnh vực tái sinh sản (bao gồm cả

- Hội LHPN : Hội Liên hiệp Phụ nữ
- Luật HN&GĐ : Luật Hôn nhân và Gia đình 4 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
BĐG là một trong những vấn đề được đặt ra từ lâu ở nhiều quốc gia
trên thế giới. Đến nay, đây vẫn là vấn đề bức xúc đang cần được quan tâm
giải quyết, đặc biệt ở các nước đang phát triển và chậm phát triển.
Trong quá trình phát triển của xã hội hay của bất cứ một cộng đồng
nào dù lớn hay nhỏ cũng đều phải giải quyết các mối quan hệ xã hội mang
tính chất giới. Và để phụ nữ và nam giới thực sự bình đẳng với nhau không
chỉ cần có những điều kiện bình đẳng về kinh tế hay các cơ may xã hội mà
còn cần có sự bình đẳng trong nhận thức của chính bản thân họ và của toàn
xã hội về địa vị và vai trò của họ ở trong và ngoài gia đình.
Ở Việt Nam, được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, các vấn đề về
giới và BĐG đã và đang được đề cập đến ở nhiều góc độ của xã hội. Do
nước ta duy trì thể chế chính trị phong kiến quá lâu và chịu ảnh hưởng khá
nhiều tư tưởng của Nho giáo, cho nên tư tưởng trọng nam khinh nữ đến nay
vẫn còn in đậm trong đời sống tâm lý của người dân. Mặc dù xã hội Việt Nam
đã thay đổi rất nhiều, đặc biệt là sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vị trí
vai trò của người phụ nữ trong xã hội, trong gia đình đã được coi trọng hơn, tuy
nhiên, trong nhận thức của mỗi người, vấn đề BĐG vẫn chưa thực sự được rõ
ràng. Không ít người trong xã hội ta hiện nay, đặc biệt là người nông dân, nhận
thức của họ về vấn đề này vẫn còn rất nhiều hạn chế.
Cho tới nay, đã có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả về các vấn đề
liên quan đến phụ nữ và BĐG. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung nhiều

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhận thức của ngƣời phụ nữ nông
thôn tỉnh Hà Tây về BĐG trong gia đình hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu

6
Phát hiện thực trạng nhận thức về vấn đề BĐG của người phụ nữ nông
thôn trên địa bàn tỉnh Hà Tây, tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng
này, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của người phụ nữ
nông thôn về thực hiện bình đẳng nam - nữ trong cuộc sống gia đình.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan nghiên cứu vấn đề về phụ nữ và BĐG trong gia đình.
- Làm rõ các khái niệm
+ Khái niệm nhận thức
+ Khái niệm giới, BĐG
+ Khái niệm gia đình
- Khảo sát thực trạng nhận thức của phụ nữ nông thôn tỉnh Hà Tây về
BĐG trong gia đình, chỉ ra các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến nhận thức của
người phụ nữ nông thôn Hà Tây về vấn đề này.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức cho người phụ
nữ nông thôn về BĐG trong gia đình.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của người phụ nữ nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Tây về
BĐG trong gia đình hiện nay.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- 300 phụ nữ nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Tây
- 10 cán bộ hội phụ nữ xã, huyện/thị xã, tỉnh
5. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu nhận thức của phụ
nữ nông thôn về BĐG trong gia đình thông qua: phân công lao động trong

nhấn mạnh đặc điểm phát triển gia đình không tách rời các điều kiện chính
trị, xã hội rộng lớn hơn và quan hệ quyền lực gia trưởng của gia đình là cản
trở lớn đối với phát triển của phụ nữ và bình đẳng trong gia đình.
Qua phân tích cách thức xã hội truyền thống áp bức phụ nữ và đối xử với
họ như nô lệ, Mill J.S đi tới kết luận rằng cần giải quyết tình trạng này bằng việc
đảm bảo các quyền bình đẳng. Phụ nữ cần hưởng quyền tham gia bầu cử, quyền
bình đẳng pháp lý trong hôn nhân, giáo dục và việc làm. Điều đáng lưu ý là tác
giả Mill J.S. chủ yếu đề cập đến phụ nữ đã lập gia đình và lập luận theo hướng
khuyến khích họ chấp nhận vai trò hiện trạng ở gia đình. Ông cho rằng phụ nữ
vốn có vai trò quan trọng trong gia đình và vì vậy họ vẫn cần giành thời gian,
sức lực ưu tiên nhiều hơn cho gia đình. “Gia đình là trường học tiềm năng phát
triển đạo đức” cho các thành viên. Nếu không có công bằng trong gia đình, đặc
biệt giữa vợ và chồng, sẽ không hy vọng nhiều về việc đạt tới công bằng ở các
lĩnh vực rộng lớn hơn như đời sống chính trị và xã hội.
Ngược lại, Taylor H. phản bác quan niệm xã hội phổ biến cho rằng “Mọi
phụ nữ đều là những người mẹ tiềm năng”. Bà đặc biệt nhấn mạnh vai trò phụ
nữ trong gia đình là bất bình đẳng và cần mở rộng cơ hội việc làm cho phụ nữ.
Phụ nữ có gia đình cần tham gia vào lực lượng lao động xã hội để khẳng định vị
thế kinh tế và chỉ như vậy mới có thể cải thiện địa vị của họ ở gia đình. [33]
* “Giới và cuộc sống gia đình” của Tony Chapman, giảng viên Viện
Khoa học xã hội học về cuộc sống gia đình của Trường Đại học Teesside
(Mỹ), là một công trình nhấn mạnh đến vai trò giới và công việc gia đình.
Tác giả đã nghiên cứu gia đình và công việc gia đình trong tương quan giới

9
để làm rõ sự bất bình đẳng còn tồn tại trong phân công lao động, kinh
nghiệm của nam giới và phụ nữ cũng như trách nhiệm và mối quan hệ của
họ về cuộc sống gia đình. Tác giả đã làm rõ vai trò và khả năng của nam
giới và phụ nữ trong việc làm thay đổi định kiến giới về lĩnh vực gia đình
trong tương lai.

vai trò của phụ nữ trong các công việc gia đình. Tuy vẫn chưa đạt được sự
bình đẳng trong cơ hội việc làm ở thị trường lao động nhưng phụ nữ đã có
thể chủ động hơn trong việc làm và độc lập hơn về kinh tế. Nhưng như vậy,
phụ nữ lại “vô tình” đặt lên vai mình một “vai trò kép”, họ vừa phải đảm
nhiệm công việc ngoài xã hội, vừa phải đảm đương công việc gia đình. [31].
* Nhật báo Trung Quốc số ra ngày 19/9/2003 đã gióng lên hồi chuông
báo động về tình trạng bạo lực trong gia đình ở quốc gia này. Theo thống kê
thì mỗi năm có 100.000 gia đình xảy ra bạo lực trong gia đình, chiếm 60%
các vụ ly hôn diễn ra trong cả nước. Kết quả điều tra do Mạng phụ nữ có tên
là Hongye Women’s Hotline – một tổ chức phi Chính phủ có trụ sở tại Bắc
Kinh tiến hành cho thấy bạo lực xảy ra ở phần lớn gia đình người chồng có
trình độ học vấn cao. Cuộc điều tra này đã tập hợp 100 vụ hồ sơ về những
người đàn ông đánh vợ và kết quả cho thấy có 62% những người thực hiện
hành vi bạo lực trên đều có trình độ học vấn cao.
Cuối năm 2002, Hội Phụ nữ Bắc Kinh đã tổ chức một cuộc điều tra để
tìm ra nguyên nhân đằng sau vấn đề bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ.
Trả lời của 338 cán bộ làm công tác pháp luật ở trong và ngoài Bắc Kinh về
các câu hỏi được nêu ra cho thấy tư tưởng truyền thống “trọng nam” là một
nguyên nhân chủ yếu. [36]
* Một số học giả của Trung Quốc (Xius, Yang và Fei, Gui 1999) khi
nghiên cứu hiên tượng di cư ở Trung Quốc đã chỉ ra rằng ở các nước theo
đạo Khổng, xã hội đặt trách nhiệm kiếm tiền nuôi sống gia đình lên vai
người đàn ông và nuôi nấng, chăm sóc con cái, chăm sóc người ốm và người
già lên vai phụ nữ. “Vai trò kinh tế” của người đàn ông đòi hỏi họ phải ra đi
kiếm tiền, còn “vai trò gia đình” của phụ nữ buộc họ phải ở lại gánh vác

11
công việc nội trợ, chăm sóc con cái. Sự ra đi của nam giới không chỉ làm
thay đổi cấu trúc của hộ gia đình mà còn làm thay đổi tương quan giới trong
quan hệ gia đình, trong phân công lao động và thay đổi cách thức sử dụng

vậy họ không chỉ cam tâm chịu đựng mà còn tự nguyện hy sinh cho đến khi
nào không còn sức lực. Họ cũng không còn thời gian để tham gia các hoạt
động văn hoá xã hội. Như vậy, đồng nghĩa với việc họ không còn thời gian,
cơ hội để nâng cao văn hoá. Tất cả tạo thành một vòng tròn lẩn quẩn trói
buộc người phụ nữ suốt cuộc đời vào cái xiềng tự tạo trong gia đình.
Một dạng bạo lực gia đình nhìn thấy được và diễn ra phổ biến là người
phụ nữ bị chồng đánh đập cũng xảy ra khá nhiều. Điều này phản ánh tình trạng
bất bình đẳng về giới sâu sắc. Tuy nhiên, sự bất BĐG đã ẩn giấu bên dưới các
nguyên nhân bề mặt đa dạng của bạo lực gia đình. Nhiều người phụ nữ bị
chồng đánh nhưng họ vẫn mụ mị đổ lỗi cho hoàn cảnh kinh tế, nguỵ biện cho
hành vi bạo lực của chồng là do khó khăn kinh tế mà chồng phải đánh vợ, hoặc
do bản thân mình không biết chiều chồng, không biết “nhịn” khi chồng nóng
giận… mà không nhìn nhận thấy bản chất của sự việc. [39, tr17].
*Tháng 6/1999, đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu thực trạng và nhận thức về
BĐG của phụ nữ một xã miền núi” tại xã Quân Khê, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú
Thọ của nhóm nghiên cứu Đặng Thanh Trúc (Viện Xã hội học) và Nguyễn
Phương Thảo (Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ) cũng chỉ
ra rằng, những bất BĐG còn tồn tại trong đời sống gia đình của người dân một
phần nguyên nhân là do chính họ mang nặng định kiến, nhận thức không đúng
về BĐG.
Nghiên cứu này thu được kết quả là đa số nam giới và phụ nữ tại địa
bàn điều tra được hỏi đều cho rằng: Bình đẳng nam nữ trong gia đình là
người phụ nữ phải nhường nhịn chồng; là người chồng quyết định mọi việc
trong gia đình; là nên để phụ nữ và nam giới làm những việc mà họ đã quen
làm. Và rất ít ý kiến đồng tình với quan điểm cho rằng bình đẳng là vợ
chồng cùng bàn bạc, cùng quyết định và cùng làm.

13
Những suy nghĩ lệch lạc, mang nặng thiên kiến về giới này xuất phát
từ những quan niệm về phân công lao động theo giới sau: Cả nam giới và

người có liên quan trên 4 chủ đề chính: (1) Giai đoạn sống còn, (2) Mối quan hệ
nuôi dưỡng, (3) Bình đẳng và hoà nhập, (4) Trẻ học và phát triển.
Kết quả cho thấy, một trong những khía cạnh của BĐG trong gia đình đó
là thông qua việc nhận thức và thực hành trong chăm sóc trẻ đã không được đảm
bảo công bằng, bình đẳng giữa trẻ trai và trẻ gái.
Trên thực tế, những quan niệm về bất BĐG còn tồn tại khá nặng nề ở
những người nuôi dạy trẻ (cả cha mẹ, ông bà, cô giáo và anh chị trong gia đình).
Những quan niệm này được thể hiện cụ thể thông qua các hành vi chăm sóc và
giáo dục trong quá trình nuôi dạy trẻ như: Phân công lao động trong gia đình,
quan niệm về những việc trẻ em trai và trẻ em gái nên làm hoặc không nên làm,
định hướng và cho phép hoặc không cho phép trẻ được làm hoặc chơi theo giới.
Số người cho rằng trong gia đình đã có sự đối xử bình đẳng với con trai
và con gái chỉ đạt 46,7%. Sự đối xử bất bình đẳng giữa con trai và con gái luôn
diễn ra theo hướng có lợi cho con trai như: 1. Trẻ em gái nói riêng và phụ nữ nói
chung ít được đi học ở những bậc học cao hơn so với trẻ em trai và nam giới; 2.
Con gái phải làm công việc nội trợ gia đình nhiều hơn con trai và độ tuổi bắt đầu
làm việc nhà của con gái cũng sớm hơn so với con trai; 3. Khi gia đình gặp khó
khăn, nếu cần phải có sự lựa chọn, cha mẹ sẽ ưu tiên cho con trai đi học cao hơn.
Các lý do được đưa ra để lý giải sự phân biệt đối xử theo hướng bất lợi cho
con gái: Thứ nhất là do quan niệm về dòng tộc. Người ta vẫn cho rằng con gái lớn
lấy chồng là xuất giá tòng phu, là người của nhà khác, là con người ta, cha mẹ gả
bán một lần là xong, chỉ có con trai mới chính là con của gia đình, có quyền thừa
kế trong gia đình, và con trai là người nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên. Thứ
hai, là do quan điểm về vai trò giới. Con trai giúp đỡ cha mẹ lúc tuổi già nên cha
mẹ quan tâm đầu tư cho con trai nhiều hơn; con trai là trụ cột gia đình, gánh vác
trách nhiệm chính trong gia đình nên con trai không làm các công việc “nhẹ” (như
không nội trợ gia đình). Con gái đi học không được lợi ích gì, con gái sau này
không đi ra ngoài xã hội nhiều nên không cần học nhiều, chỉ cần học đến mức độ

15

* Nghiên cứu của Trung tâm khoa học xã hội & Nhân văn Quốc gia
thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ (2003) đã chỉ
ra rằng, phụ nữ đảm trách rất nhiều vai trò quan trọng trong gia đình như
phát triển kinh tế, thực hiện công việc nội trợ, tham gia các hoạt động xã
hội, cộng đồng… Nhưng hình như xã hội nói chung và nam giới nói riêng
vẫn định kiến đánh giá vai trò của họ còn thấp.
Gánh nặng công việc nội trợ vẫn đè nặng lên vai phụ nữ và hầu như
chưa có sự chia sẻ của người chồng, của nam giới. Rõ ràng, vai trò của phụ
nữ trở nên hết sức quan trọng trong việc thực hiện những công việc nhằm
nuôi dưỡng và tái sản xuất sức lao động của các thành viên gia đình. Nhưng
việc đồng thời phải thực hiện hai vai trò quan trọng là kinh tế và nội trợ gia
đình đã vắt kiệt sức lực và trí tuệ của người phụ nữ. Dễ nhận thấy là mặc dù
các quan hệ kinh tế – xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng quan hệ giới hầu
như chưa có những chuyển biến kịp thời. Do vậy, phụ nữ thay vì được giải
phóng, được chia sẻ trong xã hội hiện đại thì vô hình trung họ lại trở thành
người phải gánh chịu nhiều trách nhiệm và chịu nhiều thiệt thòi. [14, tr42].
* Trong nghiên cứu về “Tương quan giới trong phân công lao động
gia đình ở Hà Nội” của Trung tâm khoa học xã hội & Nhân văn Quốc gia
thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ đã chỉ ra những
hạn chế cản trở sự BĐG trong gia đình, trong đó, nhận thức đóng vai trò
quan trọng trong sự tạo lập quan hệ BĐG.
Nghiên cứu này cho rằng, cùng với việc nâng cao dân trí bằng giáo
dục theo hệ thống nhà trường cần tăng cường tuyên truyền giáo dục cộng
đồng nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của mọi người, nhất là giáo dục các
quan hệ giữa người và người theo xu hướng xã hội hoá cá nhân. [15, tr104].

17
* Một nghiên cứu khác của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia
đình và phụ nữ là “Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị
trường”, NXB Chính trị Quốc gia, 1996. Nghiên cứu này đi sâu tìm hiểu

hoạt động đã thu hút được 800 khách hàng từ bệnh viện và cộng đồng đến
xin tư vấn. Nhìn chung những kết quả đánh giá cho thấy can thiệp đã mang
lại những thay đổi to lớn cho việc nâng cao nhận thức về giới và bạo lực gia
đình của các đối tượng khác nhau.
Tuy vậy, vẫn còn quá nhiều những khoảng cách giữa kiến thức thu nhận
được và sự thay đổi hành vi ở mỗi người. Bà Nguyễn Vân Anh – GĐ Trung tâm
nghiên cứu và ứng dụng khoa học về giới, phụ nữ và vị thành niên (CSAGA)
cho biết: Nhận thức về vấn đề BĐG của người dân, của hệ thống các cán bộ của
chúng ta vẫn chưa tốt lắm. Trong khi bạo hành giới và gia đình vẫn đang lan
rộng thì rất nhiều cán bộ thực thi pháp luật vẫn cho rằng bạo hành giới và bạo
hành trong gia đình là việc riêng của mỗi người chứ không phải là vấn đề của xã
hội. Nhiều người phụ nữ vì chưa có nhận thức đầy đủ về pháp luật và quyền con
người của chính mình, luôn nghĩ rằng mình bị đánh là đúng rồi “vì mình nói lắm
quá”, “vì mình thua đàn ông”… Trong một khảo sát gần đây của CSAGA ở
Sơn La, có những người vợ đã nói: “Đầu của chồng to hơn mình nên họ phải ăn
nhiều hơn mình và có quyền quyết định mọi thứ, còn mình là đàn bà thì ngu lắm,
chồng bảo gì thì mình phải nghe thế, nếu có bị chồng đánh thì cố chịu một tí,
đàn ông ai chẳng đánh vợ…”.
Theo T.S Trần Thị Vân Anh, chừng nào mà người ta còn có những
suy nghĩ là người phụ nữ phải có những tam tòng tứ đức, phải đẹp, phải nấu
ăn ngon, phải chăm con chiều chồng mà không được học cao biết rộng,
không được quan hệ xã hội rộng thì chừng đó chúng ta còn gặp rất nhiều
khó khăn trong việc chống bạo hành giới và gia đình. [35, tr12].
* Tài liệu “Định kiến và phân biệt đối xử theo giới, lý thuyết và thực
tiễn” do PGS.TS Trần Thị Minh Đức chủ biên, đã chỉ ra các nguyên nhân dẫn
đến định kiến, phân biệt đối xử với người phụ nữ trong gia đình. Không phải chỉ
đàn ông định kiến phân biệt đối xử với giới nữ, mà ngay chính bản thân người

19
phụ nữ họ cũng định kiến về địa vị của mình trong gia đình, ngoài xã hội. Họ

ông vẫn chiếm ưu thế. Tình trạng này trước hết là do ảnh hưởng của Nho
giáo. Cùng với sự ảnh hưởng này, quan niệm “trọng nam khinh nữ” vẫn còn
tồn tại một cách dai dẳng và là một trong những thách thức lớn với các
chương trình dân số và sức khoẻ sinh sản ở VN.
Thứ hai là do ảnh hưởng của sự chuyển đổi của nền kinh tế. Quan
niệm “trọng nam khinh nữ” có phần mờ nhạt đi trong giai đoạn bao cấp
HTX với sự tham gia và đóng góp tích cực của phụ nữ trong phát triển kinh
tế đất nước thì trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường với cấu trúc xã
hội quay trở lại việc lấy gia đình hạt nhân làm trọng tâm, các quan niệm
phân biệt giới này như lại có cơ hội phát triển mạnh hơn. Có sự thay đổi này
là vì ở các vùng nông thôn bên cạnh công việc truyền thống người nam giới
có nhiều cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế khác mang lại thu nhập
đáng kể cải thiện kinh tế gia đình hơn người phụ nữ. Đóng góp nhiều hơn
vào kinh tế gia đình đã đem lại cho người nam giới một vị trí quan trọng và
tiếng nói có trọng lượng trong gia đình.
Nhiều khi, những trọng trách trên lại xuất phát từ chính yếu tố tâm lý
của người phụ nữ. Trong khi nam giới gắn kết nhiều hơn với những hoạt
động xã hội thì tâm lý người phụ nữ bị chi phối chủ yếu bởi những mối quan
hệ tình cảm trong gia đình. [34, tr39]. Khi người phụ nữ ra một quyết định
gì, bao giờ họ cũng cân nhắc những vấn đề “được” và “mất” liên quan đến
tình cảm và các mối quan hệ. Có lẽ chính vì thế mà người phụ nữ luôn cố
gắng nhẫn nhịn trong mọi trường hợp có căng thẳng trong mối quan hệ vợ
chồng để giữ yên ấm trong gia đình.
Thêm vào đó là áp lực từ các mối quan hệ ràng buộc với gia đình và
họ hàng hai bên và với làng xã. Người phụ nữ luôn phải lo giữ gìn danh dự
cho gia đình chồng và cho chồng nên họ luôn phải cố gắng cam chịu, nhẫn
nhịn. [22,tr102+103]

21
1.2. Một số khái niệm của đề tài

trường xã hội, đòi hỏi con người phải nhận thức được những quy luật của tự
nhiên và các quy luật của xã hội để hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã
hội và cải tạo chính bản thân con người. [28,tr6].
Tâm lý học xem nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống
tâm lý con người. Nhận thức có mối quan hệ với thái độ và hành vi. Trong
đó nhận thức vừa là cơ sở, vừa là điều kiện, tiền đề, phương tiện hình thành
thái độ và hành vi. Nhận thức đúng là cơ sở của thái độ đúng và hành vi
đúng.
Nhận thức là một hoạt động gồm nhiều quá trình khác nhau, biểu hiện ở
những mức độ khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực
khách quan. Nhận thức bao gồm các quá trình cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư
duy, tưởng tượng. Quá trình này phản ánh và tái tạo lại hiện thực ở trong tư
duy của con người. Như vậy, quá trình nhận thức được hiểu là quá trình tiếp
cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào vì
không bao giờ nắm hết toàn bộ hiện thực. Quá trình này diễn ra liên tục và
không bao giờ ngừng bởi hiện thực khách quan là vô cùng và luôn luôn phát
triển.
Nhìn chung có rất nhiều quan niệm khác nhau khi bàn về nhận thức.
Điểm chung của các quan niệm nhận thức là đề cập đến mặt tích cực của con
người, đề cập đến khả năng phản ánh những thuộc tính, những mối quan hệ
bản chất của hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của chủ thể.
Con người sống trong điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội, muốn tồn tại và
phát triển đòi hỏi con người phải nhận thức được quy luật của tự nhiên và xã
hội, để cải tạo nó đồng thời cũng chính là cải tạo bản thân mình.
Các quan niệm của các nhà TLH cho chúng ta thấy rằng: nhận thức là sự
phản ánh chủ quan về thế giới khách quan trong đầu óc con người, bao gồm các
quá trình từ biết (nhận biết, ghi nhớ, nhắc lại), đến hiểu (có thể áp dụng kiến thức
vào giải quyết tình huống mới). Quá trình nhận thức vận động, phát triển liên tục
không ngừng, mang bản chất xã hội, lịch sử. Kết quả cuối cùng của quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status