ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
…………………………………………
LÊ THU TRÀ NHẬN THỨC VỀ NHÂN CÁCH NGƯỜI CHA
CỦA TRẺ CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM PHÁP
TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG SỐ 2 NINH BÌNH Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60.31.80 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng
1.1.1. Hướng tiếp cận phân tâm học 10
1.1.2. Hướng tiếp cận tâm lý – xã hội 11
1.1.3. Hướng tiếp cận nhận thức 13
1.1.4. Hướng tiếp cận văn hóa-lịch sử 14
1.1.5. Hướng tiếp cận hành vi 15
1.1.6 Thuyết học tập xã hội – một xu hướng của tiếp cận hành vi 15
1.1.7 Hướng tiếp cận môi trường sinh thái 16
1.2 Các nghiên cứu về người chưa thành niên phạm tội 17
1.2.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 17
1.2.2. Các nghiên cứu trong nước 22
1.3. Các khái niệm cơ bản của đề tài 26
1.3.1. Khái niệm nhận thức 26
1.3.2. Khái niệm nhân cách 29
1.3.3. Khái niệm người cha và vai trò của người cha trong gia đình 36
1.3.4. Khái niệm trẻ phạm tội và trẻ trong trường giáo dưỡng 40
2.3.6. Phương pháp hoàn thiện câu 59
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
3.1. Nhận thức về nhân cách người cha nói chung của trẻ vị thành niên
phạm pháp 60
3.2. Nhận thức của trẻ vị thành niên phạm pháp về nhân cách người cha
thực của mình 75
3.3. Một vài yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức của trẻ vị thành niên phạm
pháp về nhân cách người cha của mình 90
3.4. Phân tích một số trường hợp được phỏng vấn sâu tại Trường Giáo
dưỡng số 02 Ninh Bình 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110
1. Kết luận 110
2. Kiến nghị 112
2.1 Đối với nhà trường giáo dưỡng 112
2.2. Đối với gia đình 114
2.3. Đối với các em học sinh trường giáo dưỡng 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
4,11%
2002 60321 4,23%
2003 14948 4,22%
2004 15858 4,51%
2005 17804 3,56%
(Theo cuốn “Người chưa thành niên phạm tội và các giải pháp phòng
ngừa của cảnh sát nhân dân trong tình hình hịên nay” – NXB công an
nhân dân-2007).[20]
Một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng người
chưa thành niên phạm tội (Theo điều tra của cục cảnh sát) đó là những
yếu tố về gia đình. Môi trường gia đình đó là môi trường có ý nghĩa trọng
yếu ban đầu. Trong mỗi gia đình, hình ảnh người cha, người mẹ có tác
động mạnh mẽ đến tâm tư, tình cảm nguyện vọng, suy nghĩ của trẻ, đặc
biệt là người cha với nhân cách và phẩm chất của mình có tác động rất
lớn. Quyền uy chỉ có ở người cha là một cơ chế giúp trẻ tự điều chỉnh
hành động của mình. Mặt khác, người cha là đối tượng để trẻ em nam tự
đống nhất nhằm phát triển bản sắc nam tính của mình. Cũng không phải
ngẫu nhiên, đối với trẻ em gái hầu như tất cả đều muốn “lấy bố” hay lấy
một người như bố khi chúng lớn lên. Như vậy có thể thấy vai trò của
người cha trong đời sống tình cảm và định hướng hành động của trẻ rất
quan trọng. Rất nhiều các vụ án trẻ phạm tội gây ra do chán cảnh gia đình,
căm ghét người cha vì ông không phải là một tấm gương tốt.
Trên thực tế, hiện nay có rất nhiều cá nhân và tổ chức xã hội quan
tâm nghiên cứu đến vấn đề gia đình của trẻ phạm tội, tuy nhiên các nghiên
cứu về sự nhìn nhận của trẻ về nhân cách người cha còn chưa được nghiên
cứu nhiều. Trong khi đó, nhận thức của trẻ về nhân cách người cha hết
sức có ý nghĩa bởi đây là yếu tố quyết định mạnh mẽ đến sự hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện của trẻ, là cơ sở định hướng cho những
em trong trường giáo dưỡng ở ba mặt:
+ Về đạo đức
+ Về mặt tình cảm
+ Về mặt ý chí, uy quyền.
- Về khách thể nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu trẻ phạm pháp
đang sống và học tập trong trường giáo dưỡng số 02 Ninh Bình.
7. Giả thuyết khoa học
- Nhận thức về nhân cách của người cha của trẻ có nhiều nét thiếu
tích cực. Nhận thức này có ảnh hưởng đến lòng yêu quí, kính trọng của trẻ
dành cho cha và ảnh hưởng một phần đến hành động phạm tội của trẻ.
- Nhận thức về nhân cách người cha của trẻ trong trường giáo dưỡng
số 02 Ninh Bình có chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố: thái độ của các
thành viên trong gia đình đối với người cha, thái độ của những người
xung quanh đối với người cha, hoàn cảnh gia đình, mức độ tình cảm mà
người cha thể hiện với trẻ.
8. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bằng hỏi:
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
- Phương pháp xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 16.0
- Phương pháp hoàn thiện câu
6 tuổi trẻ dần tiếp thu được những chuẩn mực đạo đức từ cha mẹ, rồi
chúng làm theo những chỉ dẫn của các chuẩn mực này và coi đó là chuẩn
mực cho chính mình”. Freud khẳng định nhiệm vụ của cha mẹ phải đối
mặt khi nuôi dạy một đứa trẻ là đảm bảo rằng đứa trẻ đó hình thành được
cái siêu tôi ổn định. “Người kiểm duyệt bên trong này rất có thể là một cỗ
máy ngăn chặn không cho con người bộc lộ những bản năng tính dục và
hiếu chiến theo cách có thể gây ảnh hưởng xấu đến xã hội và trật tự xã hôi
[6; tr253]
Trong nghiên cứu về phát triển nhân cách, Freud cho rằng, con
người trải qua năm giai đoạn phát triển tâm lý tính dục. Giai đoạn cuối
cùng diễn ra từ thời kỳ chưa thành niên trở đi (giai đoạn phát dục từ dậy
thì trở đi) được ông gọi là “giai đoạn sinh dục”. Theo ông, người chưa
thành niên có đặc điểm tâm lý là: Căng thẳng, xung đột, đặc biệt là xung
đột với cha mẹ và có nhu cầu rất lớn giao tiếp với bạn bè rất lớn. Và đó
chính là những nguyên nhân tâm lý cơ bản nhất dẫn đến các hành vi vượt
quá qui định pháp luật của trẻ vị thành niên.
1.1.2. Hướng tiếp cận tâm lý – xã hội
Khác với Freud cho rằng nhân cách của chúng ta hình thành
trong những năm đầu đời, thì Eric H.Ericson lại nhấn mạnh những thay
đổi diễn ra trong suốt cả đời người. Ông phân chia đời người ra làm tám
giai đoạn. Mỗi giai đoạn xuất hiện một loại khủng hoảng tâm lý- xã hội sẽ
dẫn đến sự chuyển hóa trong các mối quan hệ xã hội quan trọng. Nhân
cách được phát triển qua mỗi lần giải quyết hiệu quả xung đột giữa những
nhu cầu của cá nhân và những đòi hỏi của xã hội.
Theo ông thì giai đoạn thứ năm – khẳng định chính mình hoặc mơ
hồ về vai trò của mình, về bản thân. Giai đoạn này diễn ra trong thời kỳ
chưa thành niên (12-18 tuổi). Đây là “ngã tư đường” giữa trẻ con và
người lớn. Lúc này các em bắt đầu lo lắng tìm hiểu mình là ai? Mình sẽ
thành người như thế nào? Mình quan tâm đến điều gì và mình sẽ đi đâu
trong cuộc đời. Trẻ chưa thành niên bắt đầu đối diện với nhiều vai trò mới
tưởng mới. Theo ông, ở lứa tuổi chưa thành niên (từ 12-15 tuổi), cá nhân
đã vượt qua những kinh nghiệm cụ thể để suy nghĩ một cách trừu tượng
và logic hơn. Cá nhân mở rộng khả năng suy nghĩ tới những lĩnh vực xã
hội và nhận thức, chứ không chỉ lấy những kinh nghiệm cụ thể, có thật
làm mấu bám nữa. Người chưa thành niên có thể hình dung ra những tình
huống đáng tin, những sự kiện giả thuyết đơn thuần hoặc trừu tượng và cố
lý giải về chúng một cách logic. Thay vì nghĩ theo cách cụ thể, hoặc về
những điều có thật, giới hạn thì trẻ chưa thành niên bắt đầu mở rộng sự
suy luận ở góc độ lý tưởng những điều họ mong ước ở mình và những
người khác.[1]. Chính điều này dẫn đến việc trẻ chưa thành niên hay so
sánh mình với người khác dựa vào những tiêu chuẩn lý tưởng và họ. Việc
trẻ nôn nóng hướng tới những chuẩn mực lý tưởng mới tuy nhiên trẻ lại
bối rối không biết nên theo chuẩn mực nào là tiền đề cho những hành vi
không phù hợp với chuẩn mực xã hội và qui định của pháp luật của các
em.
1.1.4. Hướng tiếp cận văn hóa-lịch sử
Nhà tâm lý học người Nga L.Vưgôtxki (1896-1934) cho rằng, trẻ
chưa thành niên tự xây dựng kiến thức cho mình, Theo ông, kiến thức là
theo hoàn cảnh và cộng hưởng, nó được hình thành từ con người và môi
trường. Điều này cho thấy sự hiểu biết tốt nhất là thông qua sự tương tác,
phối hợp hoạt động với người khác. Ngoài ra, Vưgôtxki còn nêu lên giả
thuyết về sự không trùng lặp nhau của ba phương diện trưởng thành ở tuổi
thành niên, đó là trưởng thành về giới tính, trưởng thành về cơ thể nói
chung và trưởng thành về mặt xã hội. Đây chính là mâu thuẫn cơ bản của
tuổi chưa thành niên, cũng từ mâu thuẫn này nẩy sinh sự khủng hoảng.
Ông cho rằng khủng hoảng ở giai đoạn chưa thành niên là khủng hoảng
lứa tuổi lớn nhất trong cuộc đời con người. Trong giai đoạn này trẻ rất
khó tiếp xúc, khó giáo dục. Trong giai đoạn phổ thông, trẻ lâm vào giai
đoạn khủng hoảng thường giảm thành tích học tập, ít lý thú với công việc,
cuộc sống nội tâm thường có mâu thuẫn…[1;558]. Sự mất cân đối trong
thức có thể thay đổi hành vi của cá nhân và ngược lại. Nó bao gồm niềm
tin bản thân có thể kiểm soát một tình huống và tạo ra những kết quả tích
cực, những kỹ năng suy nghĩ và lập kế hoạch. Theo Bandura, bắt chước là
một cơ chế hình thành hành vi. Theo đó nếu những người xung quanh có
những hành vi tiêu cực thì trẻ dễ bắt chước các hành vi đó. Đặc điểm của
lứa tuổi chưa thành niên là dễ bắt chước các hàng vi tiêu cực. Học thông
qua quan sát là quan trọng nhất, qua đó người chưa thành niên hình thành
ý kiến về hành vi của người khác và có thể bắt chước hay không bắt
chước.[6;154]
1.1.6 Hướng tiếp cận môi trường sinh thái
Urie Bronfenbrenner là đại diện cho trường phái này. Theo ông, có
bốn hệ thống môi trường sinh thái ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của
trẻ chưa thành niên. Môi trường này được trải dài từ mối quan hệ xã hội
gần gũi với mối quan hệ văn hóa rộng lớn đó là:
+ Hệ thống thứ nhất, môi trường sống của cá nhân, gồm gia đình, bạn bè
cùng lứa tuổi, trường học và hàng xóm láng giềng. Ví dụ: trẻ giao tiếp với
cha mẹ, thầy cô, bạn bè,…
+ Hệ thống thứ hai gồm: mối quan hệ giữa các môi trường với nhau. Ví
dụ: giữa gia đình và nhà trường, giữa trường học và công sở, giữa gia
đình và bạn của trẻ chưa thành niên. Trẻ chưa thành niên bị cha mẹ bỏ rơi
có thể phát triển mối quan hệ tiêu cực đối với giáo viên.
+ Hệ thống thứ ba gồm: những kinh nghiệm của một môi trường xã hội
mà trẻ chưa thành niên không có vai trò chủ động ảnh hưởng tới môi
trường khác của họ. Ví dụ: kinh nghiệm nơi công sở có thể ảnh hưởng tới
mối quan hệ của cha mẹ và đứa con tuổi chưa thành niên. Mẹ được thăng
tiến nên phải đi đây đi đó nhiều, khiến cho những xung đột trong hôn
nhân có thể tăng cao và làm thay đổi khuôn mẫu quan hệ cha mẹ-trẻ chưa
thành niên.
+ Hệ thống thứ tư gồm: nền văn hóa trong đó trẻ chưa thành niên sống.
Nền văn hóa ám chỉ những khuôn mẫu hành vi, niềm tin, và tất cả những
quan trọng trong việc phán đoán khả năng phạm tội ở trẻ , điều này có thể
xác định từ rất sớm , đồng thời thiểu năng trí tuệ cũng là đặc điểm đặc
trưng của người chưa thành niên phạm pháp, tái phạm và phạm tội từ rất
sớm(10-13 tuổi). Theo ông, những trẻ em thiểu năng trí tuệ phạm tội bởi
vì họ thiếu khả năng lường trước hậu quả các sự việc cũng như thiếu khả
năng xác định cảm nghĩ của nạn nhân.
Nhà tâm lý học xã hội Richard Jessor cùng các đồng nghiệp của ông
cho rằng, những nguyên nhân chính dẫn đến sự xáo trộn tâm lý và hành
động tiêu cực ở lứa tuổi thanh niên bắt nguồn từ bản chất và môi trường
tác động lên đời sống của các em. Nói đến bản chất tức là đề cập đến tâm
lý nóng giận, ích kỷ, mặc cảm, thiếu tự tin và những môi trường tác động
bên ngoài do sự liên hệ với cha mẹ, bạn bè, báo chí, phim ảnh, môi
trường học đường và tôn giáo
Theo một số chuyên gia tâm lý học nước ngoài về tuổi chưa thành
niên, thì những tác động tiêu cực phần lớn ở lứa tuổi chưa thành niên
thường trải qua, nhìn chung được chia làm hai loại chính: 1) Những xáo
trộn tâm lý như buồn rầu, hồi hộp, lo âu và chán nản. 2) Những hành vi
bất ổn thể hiện ra bên ngoài như bỏ học, uống rượu, cờ bạc, bạo hành,
phạm pháp và những hoạt động tình dục bất chính. Hai loại chính này liên
hệ và tác động lẫn nhau. Ví dụ: em A buồn rầu vì thấy cha mẹ thường cãi
vã lẫn nhau, em liền tìm rượu để giải sầu.
Dựa trên kết quả nghiên cứu của mình, nhà tâm lý học tội phạm
người Nga A.I Đongova đã đưa ra nhận định rằng, những người chưa
thành niên phạm tội thường có tính phô trương, khoe khoang, trưng bày
phẩm chất tiêu cực thiếu lành mạnh của mình, làm ra vẻ anh hùng rơm…
Chúng thường thỏa hiệp với những nét tính cách của mình như: Sống
không có lý tưởng, hoài bão, dễ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ những người
khác, thiếu tính điềm đạm, bình tĩnh mà chỉ quen ăn chơi, đàng điếm, lười
biếng , nghiện ngập.
Nhiều công trình nghiên cứu đã thừa nhận rằng, người chưa thành
Theo số liệu điều tra của tác giả V.M Koromosikov cho thấy, trong các
gia đình của người chưa thành niên phạm tội thì số gia đình có cuộc cãi
cọ, va chạm chiếm tỉ lệ 39% và ¼ trong số đó là các trường hợp cãi nhau
đi đến đánh nhau. Số gia đình có mối quan hệ thù ghét giữa cha mẹ chiếm
12% và chỉ có 24% các trường hợp còn lại là giữ được mối quan hệ bình
thường. Mặt khác, những người chưa thành niên phạm tội cũng thường rơi
vào những gia đình không hoàn thiện (trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, hoặc mồ
côi cha, hoặc mồ côi mẹ, cha mẹ ly dị, ly thân …)
Các nhà tâm lý học Margot Prior (2000), Rutter Giller (1983) và
Sarnecki (1985) cho rằng sự không quản lý chặt chẽ con cái của cha mẹ là
một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi phạm tội của
người chưa thành niên. Một nghiên cứu ở Anh tiến hành với gần 400 em
trai sống cùng với gia đình lớn cho thấy việc phạm tội của trẻ có mối quan
hệ mật thiết với sự quản lý lỏng lẻo của cha mẹ. Tác giả Joan Maccord
tiến hành điều tra 1000 người chưa thành niên phạm tội ở Boston cho thấy
tỷ lệ phạm tội tương đối cao trong số trẻ em trai không được cha mẹ quan
tâm chu đáo (62%).
Nghiên cứu tình trạng phạm tội của người chưa thành niên, các nhà
tâm lý cho rằng phương pháp giáo dục không đúng của cha mẹ đối với
con cái có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách
của trẻ. Các tác giả Rumani cho rằng sự bất đồng ý kiến giữa cha mẹ về
phương pháp giáo dục của mỗi người góp phần làm phát sinh hành vi
chống đối xã hội của trẻ. Theo các tác giả Ba Lan, việc áp dụng các biện
pháp giáo dục sai lầm thường dẫn đến sự xuất hiện ở trẻ những tình cảm
bực dọc, tâm trạng căng thẳng, dần dần chuyển sang trạng thái thô bạo và
chống lại uy quyền của cha mẹ. Từ đó giữa trẻ và cha mẹ thường nảy sinh
xung đột gay gắt, tình cảm cha mẹ và con cái ngày càng trở nên lạnh nhạt,
kết quả là các em bỏ nhà đi lang thang và thậm chí bước vào con đường
phạm tội.
Qua các nghiên cứu ở nước ngoài có thể thấy có nhiều cách nhìn nhận
động cơ và mục đích đơn giản. Hành vi của các em thuộc hành vi dễ bị
ảnh hưởng của sự rung cảm, nhạy cảm về tinh thần và cộng vào đó là tính
hay đua đòi, bắt chước, khả năng tự kiềm chế kém cùng thái độ coi
thường các chuẩn mực đạo đức và pháp luật.[14]
Theo tác giả Trần Trọng Thủy, ở phần lớn các thiếu niên phạm pháp,
phẩm chất tiêu cực chiếm ưu thế trong cấu trúc nhân cách, đó là: thiếu
quyết tâm, vô trách nhiệm, hay bắt chước một cách mù quáng, thô lỗ, gây
gổ.
Trong quá trình nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Duy Xi là một
nhà tâm lý học làm công tác quản lý trại giam của Bộ Công An đã đưa ra
một số nhận xét cơ bản về đặc điểm tâm lý của trẻ em làm trái pháp luật
như sau:
- Về trí tuệ, ở trẻ làm trái pháp luật có sự phát triển chậm, tư duy trừu
tượng kém hơn trẻ bình thường, không biết phân tích đánh giá đúng một
số hiện tượng mà nặng về tư duy cụ thể thực dụng và rất khéo léo “mưu
trí” trong thực hiện hành vi trái pháp luật như kỹ xảo ăn cắp, móc túi, che
dấu, đối phó với sự theo dõi phát hiện của nhà chức trách”
- Về hứng thú, ham muốn của các em thường nặng về vật chất tầm
thường, thấp hèn, thậm chí kỳ quặc. Các em không còn hứng thú học tập,
hiểu biết như trẻ bình thường, thích đua đòi, ăn chơi như người lớn (có
82% nghiện thuốc lá, 70% uống bia rượu, 72% nghiện cafe, chè). Ngoài
ra các em rất thích xem phim ảnh, băng hình có nội dung không lành
mạnh, đặc biệt thích phim chưởng.
- Về tình cảm, thiếu bền vững, thay đổi dễ dàng, nhanh chóng, nhưng lại
mạnh mẽ. Tình cảm có tính rung động cao, dễ bị kích động, bồng bột, sôi
nổi là đặc trưng cơ bản của tình cảm ở trẻ em làm trái pháp luật.
- Về tính cách, nét tính cách đặc trưng là các em muốn vươn lên làm
người lớn, muốn hoạt động để thử sức và có xu hướng bắt chước cái xấu
của người lớn. Có tính độc lập và tự trọng cao, nên nếu bị chửi rủa, đánh
mắng, xúc phạm thì các em thường có phản ứng quyết liệt, chống trả lại