ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
NGÔ THANH THỦY
TỰ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
THEO PHƢƠNG THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ CỦA
SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TÂM LÝ
HÀ NỘI – 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
6. Giả thuyết khoa học 4
7. Phương pháp nghiên cứu 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TỰ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ 5
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu tự quản lý hoạt động học tập 5
1.1.1. Những nghiên cứu về tự quản lý hoạt động học tập ở nước ngoài 5
1.1.2. Những nghiên cứu về tự quản lý ở trong nước 7
1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về tự quản lý hoạt động học tập
của sinh viên theo tín chỉ 9
1.2.1. Hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 9
1.2.2. Khái niệm quản lý và tự quản lý hoạt động học tập theo phương
thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 17
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến tự quản lý hoạt động học tập của sinh
viên theo phƣơng thức đào tạo tín chỉ 30
1.3.1. Các yếu tố chủ quan 30
1.3.2. Các yếu tố khách quan 31
CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Vài nét về trƣờng Đại học Thái Nguyên 34
2.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 35
2.3 Tổ chức nghiên cứu 37
2.3.1. Thời gian nghiên cứu 37
Bảng 3.4. So sánh đánh giá của sinh viên về tự quản lý hoạt động học tập trên lớp
63
Bảng 3.5. So sánh đánh giá của sinh viên về tự quản lý hoạt động tự học 65
Bảng 3.6. Mức độ thực hiện các hành động học tập 67
Bảng 3.7 Sắp xếp không gian học tập của sinh viên 73
Bảng 3.8 Tìm hiểu cách sử dụng thời gian học tập ngoài giờ lên lớp của
sinh viên 75
Bảng 3.9 Sinh viên tự đánh giá về hoạt động học tập của mình 78
Bảng 3.10. Đánh giá của giảng viên về hoạt động học tập trên lớp của
sinh viên 89
Bảng 3.11. Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến tự quản lý hoạt động học tập
của sinh viên 94
Bảng 3.12. Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến tự quản lý hoạt động học
tập của sinh viên 100
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Nhận thức của sinh viên về đặc điểm hoạt động học tập theo
phương thức đào tạo tín chỉ 45
Biểu đồ 3.2: So sánh đánh giá của giảng viên và sinh viên về vai trò của tự
quản lý hoạt động học tập của sinh viên 49
Biểu đồ 3.3. Cách thức sinh viên lập kế hoạch học tập 53
Biểu đồ 3.4. Sinh viên tự lập kế hoạch qua từng năm học 54
Biểu đồ 3.5. Thực trạng sinh viên thực hiện các hành động học tập trên lớp . 59
Biểu đồ 3.6. Các hoạt động trên lớp được thực hiện thường xuyên nhất
theo từng năm học 62
Biểu đồ 3.7. Các hành động tự quản lý hoạt động tự học 64
Biểu đồ 3.8. Mức độ thực hiện và kết quả của các hành động học tập 68
1. Lý do chọn đề tài
Để đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, chúng ta phải đầu tư cho giáo dục, xem “giáo dục là
quốc sách hàng đầu”. Ngành giáo dục đã và đang không ngừng nâng cao
chất lượng để thực hiện mục tiêu chiến lược nâng cao dân trí, đào tạo bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước. Trong quá trình đó, người học đóng vai trò
trung tâm, mọi hoạt động đều hướng tới phát huy tính tích cực, sáng tạo
của mình. Người học cần tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều
khiển hoạt động học tập nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập. Như vậy, tự
học được xem như khâu quan trọng nhất của quá trình nhận thức, là con
đường tốt nhất giúp người học có được tri thức phong phú và sâu sắc, kỹ
năng, kỹ xảo được rèn luyện, giúp học trò sáng tạo ra nhiều giá trị.
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của chính phủ về đổi
mới cơ bản, toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đã
chỉ rõ: Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo tín chi: trang bị cách
học, phát huy tính tích cực chủ động của người học.
Theo quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào
tạo, nhiều trường đại học trong nước đã áp dụng thực hiện đào tạo theo hệ
thống tín chỉ. Trước thời điểm này, một số trường đại học (ví dụ năm 2005
có 6 trường đại học thực hiện là đại học Thái Nguyên, ĐH Dân lập Thăng
Long, ĐH Thủy sản Nha Trang, ĐH Đà Lạt, ĐH Khoa học tự nhiên thuộc
ĐHQG TPHCM và ĐH Bách khoa TPHCM) chủ động áp dụng phương
thức đào tạo tiên tiến này. Cho đến nay, mô hình đã và đang được thực hiện
thành công ở nhiều trường trong cả nước. 2
Trường Đại học Thái Nguyên là một trong những trường đại học đầu
tiên của cả nước đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Nhờ vậy, người học được
nghiên cứu “Tự quản lý hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín
chỉ của sinh viên trường Đại học Thái Nguyên” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp Cao học chuyên ngành Tâm lý học xã hội.
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên
ĐH Thái Nguyên và xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó.
- Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng
cao hiệu quả tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo phương thức
đào tạo tín chỉ tại đại học Thái Nguyên.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan lịch sử nghiên cứu về tự quản lý hoạt động học tập
dưới góc độ tâm lý học nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
- Xây dựng khái niệm công cụ của đề tài: quản lý và tự quản lý,
hoạt động học tập, tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên trong đào tạo
theo tín chỉ.
- Nghiên cứu thực trạng biểu hiện tự quản lý hoạt động học tập của
sinh viên thông qua việc điều tra, khảo sát sinh viên và một số giảng viên,
cán bộ giảng dạy và cán bộ làm công tác quản lý; xác định một số yếu tố
ảnh hưởng đến thực trạng đó.
- Đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả tự quản lý
hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên tại trường Đại học Thái Nguyên.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Mức độ biểu hiện tự quản lý hoạt động học tập theo phương thức đào
tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Thái Nguyên.
- Khách thể nghiên cứu: 472 người, bao gồm: 4
- 452 Sinh viên trường đại học Thái Nguyên (cụ thể là các trường
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TỰ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC
TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu tự quản lý hoạt động học tập
1.1.1. Những nghiên cứu về tự quản lý hoạt động học tập ở nước ngoài
Tự quản lý học tập là một trong những con đường quan trọng nhất để
phát triển tính độc lập, tư duy chiến lược, tư duy sáng tạo rèn luyện tư
duy và tính cách trong mối quan hệ với lĩnh hội tri thức mới và hành động nghề.
Andrea D. Ellinger nhấn mạnh: quá trình tự quản lý học tập hiện ra
như một trúc mới rất quan trọng trong tâm lý học, là một cơ chế thúc đẩy
sự cải cách trường học, làm cho nhà trường được tổ chức phù hợp với mục
tiêu đem lại lợi ích quan trọng nhất cho người học là đảm bảo hoàn thanh
nhiệm vụ học tập.
Từ những quan điểm về vai trò của tự quản lý học tập, nhà nghiên
cứu F.E. Weinert (1982), S.R. Paris, R.S. Newman (1992) và những cộng
sự của mình. đều nhất trí cho rằng: tự quản lý học tập phải được xem là một
bộ phận không thể thiếu của việc học trong nhà trường, là một trong những
mục tiêu quan trọng nhất của nhà trường trong việc đào tạo thế hệ trẻ.
Một số công trình nghiên cứu có đề cập đến một số nội dung tự quản
lý học tập của sinh viên như:
- “Học tập như thế nào” của nhà tâm lý tâm lý học N.R. Rubakin
cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Tác giả đã tổng kết toàn bộ kinh nghiệm quý
báu từ cuộc đời lao động sách vở cần mẫn của ông. Trong tác phẩm này
ông đã nêu lên cơ sở khoa học của việc học tập và đánh giá học tập của bản
thân người học.
- “Tổ chức công việc học tập của sinh viên đại học” của A.A.
Goroxepxki và M.T. Lubixưna. Các tác giả đã nghiên cứu về việc học tập
7
- “Sinh viên tự quản lý học tập” [26] của Zimmerma, Risemberg.
Các tác giả đã chỉ ra 6 thành phần chính của tự quản lý học tập và quy trình
tự quản lý học tập của sinh viên giúp họ có được thành tích cao trong học tập.
Năm 1990, tác giả B.P.Allen tiến hành nghiên cứu ký năng học tập ở
trường đại học. Theo tác giả để sinh viên thích ứng với hoạt động học tập ở
đại học cần hình thành ở họ các kỹ năng:
- Kỹ năng sử dụng quỹ thời gian cá nhân
- Kỹ năng hình thành các hành động học tập và các phẩm chất khác
(như tâm thế, sự lựa chọn các hình thức, nội dung học tập)
- Kỹ năng làm chủ các cảm xúc tiêu cực
- Kỹ năng chủ động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi
mang tính nghề nghiệp
Trên đây là một số nghiên cứu về tự quản lý học tập trong những
năm gần đây. Phân tích các nghiên cứu này cho thấy đào tạo đại học ở các
nước Phương Tây chú trọng đến hành động cần đạt được của người học -
người lao động tương lai trong xu thế toàn cầu hóa. Trong nghiên cứu về
lĩnh vực học tập của sinh viên, mới chỉ được nhấn mạnh hoạt động học tập
mà ít xem xét đến vấn đề tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên.
1.1.2. Những nghiên cứu về tự quản lý ở trong nước
Ở Viêt Nam, những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu
của các nhà khoa học đã đề cập đến vấn đề hành động học tập của sinh viên
theo phương thức đào tạo theo tín chỉ:
- “Một số vấn đề về hành động học tập của sinh viên theo hệ thống tín
chỉ” của Lưu Thị Trí, Tạp chí Tâm lý học số 257, kỳ 1, tháng 3 năm 2011.
- “Hành động học tập của sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín
chỉ” của Phạm Thị Thanh Hải, Tạp chí tâm lý học số 262, kỳ 2, tháng 5
năm 2011.
9
hiện nay của các trường đại học trong nước và của các trường đại học tiên tiến
trong khu vực và quốc tế.
1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về tự quản lý hoạt động học
tập của sinh viên theo tín chỉ
1.2.1. Hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên
1.2.1.1. Đào tạo theo tín chỉ
Đến nay, phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã được triển
khai và áp dụng trong gần 50 trường trong cả nước. Vào thời điểm nay,
việc dạy và học theo phương thức đào tạo tín chỉ gần như bắt buộc đối với
các trường đại học và cao đẳng theo nghị quyết sô 37/2004/QH11 khóa XI,
kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục và quy chế 43/2007/QĐ-
BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đào tạo đại học và cao đẳng hệ
chính quy theo hệ thống tín chỉ. Mặc dù việc học theo phương thức đào tạo
tín chỉ ở Việt Nam được thực hiện lần đầu tiên ở trường Đại học Bách
Khoa Tp. HCM vào năm học 1993 – 1994 và thực hiện rộng rãi ở các
trường sau đó nhưng cho đến nay việc áp dụng phương thức học tập này
vẫn còn nhiều lúng túng tại các trường và nhiều sinh viên vẫn chưa thật sự
nắm bắt được ý nghĩa của nó so với phương thức đào tạo theo niên chế. Do
vậy, những ưu điểm của phương thức đào tạo này vẫn chưa thực sự được
bộc lộ rõ nét.
Trong buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học
Khoa học Công Nghệ Hoa Trung, Vũ Hán mùa hè năm 1995, học giả
James Quann trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau: Tín chỉ học
tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình
thường để học một môn học cụ thể, bao gồm (1) thời gian lên lớp; (2) thời
gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được
quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu,
11
- Tạo được sự liên thông giữa các cơ sở đào tạo đại học trong và
ngoài nước. Người học có thể dễ dàng di chuyển từ trường đại học này
sang học ở trường đại học kia (kể cả trong và ngoài nước) mà không gặp
khó khăn trong việc chuyển đổi tín chỉ.
Tuy nhiên, đổi mới giáo dục theo phương pháp tín chỉ cũng gặp
nhiều khó khăn như:
+ Đổi mới tư duy, thói quen về đào tạo không phải là việc dễ dàng.
+ Lực lượng cán bộ thiếu, phần nhiều quen theo nếp cũ, không
phải tất cả đều hăng hái thay đổi. Đi cùng học chế mới là phương pháp
giảng dạy phải thay đổi, kiểm tra đánh giá thay đổi, tỷ lệ lý thuyết thực
hành điều chỉnh, chương trình đào tạo thay đổi, giảng viên chịu sự chọn
lựa đánh giá của sinh viên.
+ Cán bộ quản lý đào tạo thiếu, chưa quen tổ chức quản lý theo hình
thức mới, khả năng vận dụng khoa học quản lý hiện đại và trang thiết bị
phục vụ quản lý đào tạo còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp.
+ Cơ sở vật chất, giảng đường, thiết bị chưa thể thoả mãn nhu cầu,
đặc biệt là vấn đề giảng đường
+ Để tăng cường yếu tố tự học, thư viện, học liệu phải phong phú hơn nhiều.
+ Phần mềm quản lý đào tạo chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quản
lý đào tạo theo tín chỉ.
+ Mức sống của sinh viên, khả năng tài chính và các điều kiện khác
của sinh viên ta còn nhiều khó khăn - dễ học cầm chừng Quản lý, tư vấn
không tốt sinh viên có nguy cơ học kéo dài, không tốt nghiệp được.
1.2.1.2. Hoạt động học tập của sinh viên ở bậc đại học theo phương
thức đào tạo tín chỉ
a. Khái niệm hoạt động học tập
Theo A.N. Leonchiev, P. Ia. Ganperin và N. Ph, Taludina xem quá
trình học tập xuất phát từ mục đích trực tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy được
biểu hiện ở phương thức tâm lý bên trong và bên ngoài của hoạt động đó.
nghiệp vụ cao. [10] 13
Hoạt động học tập trong các trường Cao đẳng và Đại học, không
mang tính phổ thông mà mang tính chất chuyên ngành, phạm vi hẹp hơn,
sâu sắc hơn, nhằm đào tạo những chuyên gia, những trí thức cho đất nước.
Hoạt động của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích, nội
dung, chương trình, phương thức và có phương pháp rõ ràng hướng tới sự
phát huy tối đa năng lực nhận thức của mình trong nhiều lĩnh vực. Điều đặc
biệt trong hoạt động học tập của sinh viên là sinh viên luôn phải thực hiện
những hoạt động nghiên cứu khoa học. Đây là sự khác biệt cơ bản trong
hoạt động học tập của sinh viên so với các lứa tuổi trước [5, tr. 147].
b. Đặc điểm chung của hoạt động học tập ở sinh viên [9, tr. 91]:
+ Hoạt động học tập của sinh viên diễn ra với nhịp độ căng thẳng,
mạnh mẽ về trí tuệ. Bản chất của hoạt động nhận thức của người sinh viên
trong các trường đại học, cao đẳng là đi sâu, tìm hiểu những môn học,
những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm được
đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, quy luật của các khoa học đó, cùng với
mục đích trở thành những chuyên gia trong các lĩnh vực nhất định. Do vậy,
họ một mặt phải kế thừa có tính chất hệ thống những thành tựu đã có, một
mặt phải tiệm cận với những thành tựu khoa học đương đại, cập nhật tính
thời sự để nhằm mục đích hoạt động học tập có kết quả cao nhất.
+ Hoạt động học tập của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có
mục đích, có nội dung, chương trình và phương thức, phương pháp đào tạo
theo một thời gian, cách thức chặt chẽ nhưng không đồng thời quá khép
kín, quá câu nệ mà lại có tính mở rộng theo khả năng, năng lực nhận thức,
sở trường của sinh viên.
+ Phương tiện của hoạt động học tập của sinh viên là các thư viện,
phòng đọc, phòng học, phòng thực nghiệm, sách, vở….Do đó, phạm vi
15
chiếm lĩnh đối tượng của hành động học tập diễn ra dưới hình thức tổ chức
cho người học thực hiện một hệ thống nhiệm vụ học tập. Sự sắp xếp các
nhiệm vụ học tập phải tạo thành một hệ thống phát triển.
Hành động học tập đó là chủ thể tiến hành phân giải các vấn đề mà
nhiệm vụ học tập đặt ra trên cơ sở người học có được những phương pháp
học tập, tài liệu học tập, cách thức kiểm tra_đánh giá phù hợp.
c. Hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ
Như đã trình bày ở trên về những ưu điểm của phương thức đào tạo
tín chỉ, chúng ta có thể nhận thức rõ phần nào cách thức học tập theo
phương thức này. Đây là phương thức đào tạo cho thấy rõ nhiều điểm tối
ưu để phát huy được năng lực của sinh viên đồng thời cũng góp phần rèn
luyện những phẩm chất nhân cách, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp.
Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, người học phải được tạo
điều kiện để thực sự trở thành người đàm phán tích cực và có hiệu quả: (a)
với chính mình trong quá trình học tập, (b) với mục tiêu học tập, (c) với các
thành viên trong nhóm và trong lớp học, và (d) với người dạy.
Người học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ phải đảm nhiệm
thêm một vai trò quan trọng nữa; đó là, người tham gia vào môi trường
cộng tác dạy - học. Họ hoạt động vừa như là những cộng sự với người dạy
trong việc xác định nội dung và phương pháp giảng dạy, vừa như là người
cung cấp thông tin phản hồi về bản thân mình như là những người học
(trình độ, khó khăn, thuận lợi, nhu cầu, chờ đợi, mong muốn về môn học,
v.v.) cho người dạy để người dạy có thể điều chỉnh nội dung, phương pháp
và thủ thuật giảng dạy phù hợp, tăng hiệu quả day - học.
Phân tích các quan điểm nêu trên, chúng tôi cho rằng hoạt động học
tập của người học theo phương thức đào tạo tín chỉ là loại hoạt động tâm lý
được tổ chức độc đáo của sinh viên nhằm mục đích giúp người học không
17
- Kỹ năng chia sẻ và thông cảm với mọi người.
- Kỹ năng kiềm chế căng thẳng và cảm xúc bản thân.
Điều này cho thấy phương thức đào tạo tín chỉ đòi hỏi ở sinh viên sự
phát triển toàn diện. Sinh viên phải tự tìm kiếm cơ hội tiếp thu tri thức từ
nhiều nguồn lực khác nhau, cũng như phải liên tục tự mình điều chỉnh
phương pháp học tập và các hoạt động học tập nhằm đạt được kết quả học
tập mong muốn. Bản thân sinh viên là người chủ động với các mối quan hệ
để khai thác thông tin cần thiết phục vụ cho việc học cũng như điều tiết các
mối quan hệ xung quanh nhằm duy trì được môi trường học tập thuận lợi
nhất cho mình.
1.2.2. Khái niệm quản lý và tự quản lý hoạt động học tập theo
phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên
1.2.2.1 Khái niệm quản lý và tự quản lý
a. Khái niệm quản lý
F. Taylor – nhà tâm lý học và tổ chức lao động người Mỹ, được coi
là cha đẻ của thuyết quản lý theo khoa học, đã công bố vấn đề quản lý hành
động lao động trong cuốn “ Những nguyên lý quản lý khoa học” vào năm
1911. Tư tưởng cơ bản về quản lý bao gồm những vấn đề sau: 1) cải tạo
mối quan hệ trong quản lý (chú trọng quan hệ giữa người công nhân và
máy móc, tính hợp lý của hành vi, những thao tác của người lao động); 2)
tiêu chuẩn hóa công việc; 3) chuyên môn hóa lao động; 4) Hình thành quan
niệm con người kinh tế. Nhà công nghiệp lớn đồng thời là nhà sáng lập
trường phái quản lý người Pháp là Henri Fayol cho rằng, để đạt được mục
tiêu của tổ chức cần phải thực hiện 5 chức năng cơ bản là dự tính ( dự toán
và lập kế hoạnh), tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra. Dưới góc độ tâm
lý học có thể hiểu các chức năng đó là tổ hợp các hành động hiện thực hóa