617 Xu hướng vận động của thị trường Logistic cho hàng triển lãm, hội chợ thương mại quốc tế tại Việt Nam và các giải pháp marketing của Công ty Translink Express - Pdf 25

Đề tài: Xu hướng vận động của thị trường Logistic cho hàng triển lãm, hội chợ
thương mại quốc tế tại Việt Nam và các giải pháp marketing của công ty Translink
Express.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết, ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
- Logistics là một lĩnh vực không mới trên thị trường quốc tế tuy nhiên lại mới
trên thị trường Việt Nam. Trước đây hầu như các doanh nghiệp Việt Nam chỉ đảm
nhiệm từng phần riêng biệt trong các khâu của cung ứng dịch vụ.
- Hiện nay các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá đang thay đổi dần trong nhận
thức và hoạt động kinh doanh về chuỗi cung ứng, do đó ngành logistics sẽ được
chuyên nghiệp hơn, và phát triển hơn.
Hàng hoá cho Triển lãm, hội chợ là những hàng hoá đặc biệt và cần sự vận
chuyển, giao nhận,.. đặc biệt trong logistíc không giống như những hàng hoá thông
thường. Và đây là một phân khúc thị trường vô cùng tiềm năng tại Việt Nam hiện
nay.
- Xu hướng vận động và phát triển đi lên của thị trường này sẽ là một điều tất
yếu và các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng để cải thiện và nâng cao hoạt
động kinh doanh của mình. Nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay,
triển lãm, hội chợ, tổ chức sự kiện là các vấn đề quan trọng trong xúc tiến thương mại
ở nước ta. Đây cũng là một lĩnh vực kinh doanh đầy tiềm năng.
- Để tồn tại trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gia tăng, các doanh nghiệp
tham gia thị trường tất yếu phải áp dụng lý thuyết marketing vào quá trình kinh
doanh.
- Công ty Translink Express là đơn vị chuyên về lĩnh vực logistic cho hàng triển
lãm và hội chợ tại Việt Nam, đặc biệt là các hoạt động in-bound (đưa hàng hóa quốc
tế vào các triển lãm tại Việt Nam). Xu hướng vận động của thị trường này đã tác
động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của đơn vị và việc áp dụng marketing vào các
giái pháp để cạnh tranh trong thời gian tới là vô cùng cần thiết đối với đơn vị.
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu hướng vào hai mục đích chính sau đây:

6. Nội dung của chuyên đề được trình bày theo thứ tự sau đây:
Lời nói đầu
Chương 1: Tổng quan về thị trường logistics cho hàng triển lãm, hội chợ Việt
Nam
Chương II. Thực trạng thị trường logistics cho triển lãm, hội chợ vào Việt Nam
của công ty Translink Express
Chương III. Các giải pháp marketing trong kinh doanh dịch vụ logistics cho
triển lãm, hội chợ cho công ty Translink Express
Phần kết
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LOGISTIC CHO HÀNG
TRIỂN LÃM, HỘI CHỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
1.1. Đặc điểm của dịch vụ logistics cho hàng triển lãm, hội chợ thương
mại quốc tế tại Việt Nam
1.1.1. Khái quát về Logistics và giao nhận – vai trò của các nhà cung cấp
dịch vụ
1.1.1.1.Khái quát về Logistics
Một vài thập kỷ gần đây, Logistics đã phát triển nhanh chóng và
mang lại những kết quả tốt nhất ở nhiều nước trên thế giới, như Hà
Lan, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Mỹ,… Trong những năm cuối thế kỷ
20, đầu thế kỷ 21, thuật ngữ Logistics được nhắc đến nhiều ở các
nước Đông Nam Á, Đông Á và đặc biệt phát triển ở Singapore.
Trong lịch sử, Logistic đã xuất hiện từ rất lâu đời, ban đầu chỉ với hoạt động
vận chuyển hàng hoá, ngày nay, Logistics phát triển rất nhanh chóng và được ghi
nhận như một chức năng kinh tế chủ yếu, một công cụ hữu hiệu mang lại thành công
cho các doanh nghiệp cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ.
Có nhiều định nghĩa về Logistics, theo hội đồng quàn trị Logistics của Mỹ
( Council ò Logistics Management – CLM) thì “Quản trị Logistics là quá trình hoạch
định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả chi phí lưu thông, dự trữ nguyên vật
liệu, hàng tồn kho trong quá trình sản xuất sản phẩm cùng dòng thông tin tương ứng

- Logistics bên thứ hai (2PL) - người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 2 là
người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ của logistics (vận tải, kho bãi,
thanh toán,... ) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa có tích hợp hoạt động
Logistics
- Logistics bên thứ ba (3PL) – là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực
hiện các dịch vụ Logistics, do đó 3PL tích hợp các dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt
chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,... trong dây chuyền cung ứng
5
- Logistics bên thứ tư (4PL) là người tích hợp (integrator), chịu trách nhiệm
quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp chuỗi cung ứng, hoạch định, tư
vấn logistics, quản trị vận tải,... 4PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics.
Gần đây, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, người ta đã nói tới khái
niệm logistics bên thứ 5 (5PL) phát triển nhằm phục vụ cho Thương mại điện tử, các
nhà cung cấp dịch vụ này chính là các 3 PL và 4PL, đứng ra quản lý toàn chuỗi cung
ứng trên nền tảng thương mại điện tử.
Cũng có thể phân loại dịch vụ logistics theo quy định tại Điều 233 Luật Thương
mại như sau:
* Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm:
a) Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
b) Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho
bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
c) Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và
lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
d) Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý
thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi lô-gi-
stíc; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa
quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua
container.
* Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:
a) Dịch vụ vận tải hàng hải;

khẩu hoặc người nhập khẩu.
+ Đại lý (Agent): Cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở như là một
đại lý, nhận uỷ thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở để thực hiện các công
việc khác nhau như: nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ, làm thủ tục hải quan, lưu
kho,… trên cơ sở hợp đồng uỷ thác
+ Người gom hàng (Cargo Consolidator): Trong vận tải hàng hoá container,
dịch vụ gom hàng là không thể thiếu nhằm biến các lô hàng lẻ ( LCL – Less than
7
Container Loading) thành lô hàng nguyên (FCL – Full of Container Loading) từ các
khách hàng khác nhau để tận dụng sức chở của container và giảm cước phí vận tải.
+ Người chuyên chở (Carrier)
Là người giao nhận trực tiếp ký kết hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách
nhiệm chuyên chở hàng hoá từ một nơi này đến một nơi khác. Người giao nhận đóng
vai trò là người thầu chuyên chở (Contracting Carrier) nếu ký hợp đồng mà không
trực tiếp chuyên chở hoặc là người chuyên chở thực tế (Performing/ Actual Carier)
nếu trực tiếp chuyên chở.
+ Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO – Multimodal Transport
Operator):
Trong trường hợp cung cấp dịch vụ đi suốt, trọn gói “door-to-door services”,
MTO là người chuyên chở và chịu trách nhiệm đối với hàng hoá trong suốt quá trình
vận tải. Người giao nhận cần phải tổ chức quá trình vận tải, phối hợp giữa các
phương tiện một các tốt nhất, an toàn nhất và tiết kiệm nhất.
* Điểm khác biệt giữa logistics và Giao nhận:
Logistics tồn tại ở hai mảng: nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch vụ logistics,
Forwarding có thể xếp vào cung cấp dịch vụ logistics, là một mảng nhưng cũng rất
quan trọng trong chuỗi logistics. Có thể hiểu Logistics = giao nhận + kho bãi + vận
tải ở mức độ cao (giao nhận kho vận ở mức độ cao) là sự phát triển ở giai đoạn cao
của các khâu dịch vụ giao nhận kho vận, trên cơ sở tận dụng các ưu điểm của công
nghệ để điều phối hàng hoá từ khâu tiền sản xuất tới tận tay người tiêu dùng cuối
cùng qua các công đoạn: dịch chuyển, lưu kho và phân phối hàng hoá.

gửỉ hoá đơn cho
khách hàng
Đặt phương tiện vận chuyển (tàu
hoặc máy bay)
chuẩn bị hồ sơ, tài liệu cho đại lý,
trung gian
Vận chuyển hàng đi, thông báo cho
cảng đến và khách hàng
Liên hệ lại với khách hàng
Xác nhận hàng cập bến
Đóng file dữ liệu
10
Theo dõi các báo cáo từ nhà tổ chức,
khách hàng, các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ
kiểm tra các tài liệu
Chưa hoàn
thiện
1.1.2. Đặc điểm của hàng hoá cho triển lãm, hội chợ quốc tế
1.1.2.1. Có yếu tố nước ngoài, liên quan tới xuất nhập khẩu
Hàng hoá trong triển lãm, hội chợ quốc tế gồm có 2 loại, nếu phân loại theo
khách hàng tham gia triển lãm, đó là hàng của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
Việt Nam, và hàng hoá của các tổ chức quốc tế. Yếu tố “quốc tế” trong “triển lãm,
hội chợ quốc tế” ở đây chính là việc có sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp
nước ngoài.
Do đó, các hoạt động trong triển lãm, hội chợ, từ tổ chức cho đến vận chuyển,
giao nhận hàng hoá đều phải có tính chuyên nghiệp và mang tiêu chuẩn quốc tế. Điều
này không những ảnh hưởng lớn tới hoạt động của triển lãm, mà còn là vấn đề quan
trọng trong xúc tiến thương mại trong thời kỳ hội nhập hiện nay, hoặc liên quan tới
vấn đề ngoại giao của các nước bạn với Việt Nam.

Các quy định về nhập khẩu hàng hoá cho triển lãm, hội chợ thương mại quốc tế
trong nước đã được thể hiện rõ trong
1.1.2.2. Thuộc nhiều lĩnh vực và dùng cho nhiều mục đích
Phần lớn các triển lãm, hội chợ quốc tế đều dành cho các sản phẩm của công
nghệ mới, các sản phẩm mới hoặc chưa xuất hiện trên thị trường, nhằm quảng bá sản
phẩm và từ đó tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng cho sản phẩm mới. Vì vậy, hàng
hoá dành cho triển lãm có thể thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, công nghệ cao, hoặc
hàng hoá thông thường, và dùng cho nhiều mục đích khác nhau, như trưng bày, hoặc
bán tại triển lãm, tuỳ vào tính chất và mục đích của các cuộc triển lãm.
Triển lãm dành cho các sản phẩm sinh thái (Eco-products Int’l Fair) là triển
lãm về các sản phẩm mang tính tiết kiệm, gần gũi với môi trường, các sản phẩm này
có từ các loại xăng, nguyên liệu tiết kiệm và ít khí thải cho môi trường, đến các loại
bồn cầu hoặc nhà vệ sinh công cộng thiết kế rất mới mẻ và độc đáo, có quy trình xử
lý nhanh và hiện đại, không làm hại môi trường. Hoặc triển lãm về công nghệ đóng
tàu và hàng hải Vietship, có sự tham gia của hơn 200 doanh nghiệp trong đó có 70%
là nước ngoài, đã đưa ra được rất nhiều công nghệ mới trong lĩnh vực đóng tàu, thiết
12
bị, hoá chất, thiết bị kiểm tra, trang trí nội thất tàu thuỷ,... Trong triển lãm này, đã có
18 hợp đồng được ký kết trị giá hơn 400 triệu USD, ngoài ra còn tổ chức thành công
các cuộc hội nghị, hội thảo chuyên ngành trong đợt triển lãm. Đây là một trong
những cuộc triển lãm về công nghệ mà thuần tuý là trưng bày sản phẩm.
Các triển lãm vừa mang tính chất trưng bày vừa mang tính chất thương mại,
giao dịch có thể kể đến như Hội chợ thương mại quốc tế Việt Nam (Vietnam Expo)
tổ chức vào tháng 4 hàng năm (Vietnam Expo 2008 được tổ chức từ ngày 9/4 đến
13/4/2008. Hoặc Hội chợ quốc tế Hà Nội (Hanoi Expo) được tổ chức vào tháng 10
hàng năm. Trong khuôn khổ của hội chợ, triển lãm, có các khu vực dành để trưng
bày các thành tựu thương mại, đầu tư, khoa học, văn hoá xã hội, có các khu vực khác
nhau dành cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, và có khu
vực dành riêng cho giao dịch bất động sản, ngân hàng,... tại triển lãm. Hội chợ Hanoi
Expo năm 2007 có các hoạt động lớn diễn ra như diễn đàn doanh nghiệp các nước

+ Kim ngạch xuất khẩu cũng tăng cao (20,5%).
+ Lạm phát cao: 12,63%, giá cả không ổn định
 Việc ổn định giá cả là vô cùng cần thiết do giá cả các yếu tố đầu vào tăng,
dịch vụ lại không thể tăng giá nhanh do cạnh tranh. Mặt khác, cơ hội kinh doanh của
các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ đang được người tiêu dùng và các khách
hàng công nghiệp chú ý tới. Sự tăng trưởng nhanh này hứa hẹn một vị thế mới cho
lĩnh vực dịch vụ trong tương lai.
1.2.2. Các đặc điểm về hành vi của khách hàng
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quyết định mua của khách hàng
Đặc thù của thị trường này đó là cung cấp dịch vụ cho các khách hàng công
nghiệp. Mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu hậu cần dành cho trưng bày, quảng bá và
giao dịch thương mại xung quanh sản phẩm của khách hàng công nghiệp đó. Không
phải mục đích mua nguyên liệu đầu vào hay mua sản phẩm hữu hình cho doanh
nghiệp.
Những người tham gia vào quá trình quyết định mua gồm có
- Người định hướng
14
- Người quyết định
- Người phê duyệt
- Người mua (ký hợp đồng)
- Người đánh giá
Những người liên quan đến quá trình mua chủ yếu gồm có: ban lãnh đạo,
trưởng phòng, ban phụ trách về xúc tiến hỗn hợp, marketing, trưởng phòng/ban phụ
trách về kinh doanh - giao dịch thương mại, các kỹ sư chịu trách nhiệm về các vấn đề
kỹ thuật cho hàng hoá, sản phẩm, phòng/ban phụ trách về logistics đầu vào đầu ra
cho sản phẩm.
Ngoài ra còn có các cá nhân, phòng ban có chức năng khác như kế toán – tài
chính, phòng kế hoạch, về các vấn đề kỹ thuật.
+ Các yếu tố mà khách hàng cân nhắc khi lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ này:
- Chất lượng dịch vụ và tính chuyên nghiệp: luôn đi kèm với uy tín của thương

hiểu rõ về dịch vụ.
- Bước 4: quyết định mua: sau khi đánh giá các phương án, việc quyết định mua
chủ yếu là của ban lãnh đạo của doanh nghiệp khách hàng làm chủ.
- Bước 5: đánh giá sau mua: các nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp
có những phiếu điều tra đi kèm dành cho khách hàng để đo mức độ hài lòng của
khách. Thông thường, nếu như không có phiếu điều tra, các doanh nghiệp luôn đính
kèm theo các bản hướng dẫn (Shipping Manual, Quotation,… ) phiếu ghi những phàn
nàn của khách hàng. Vì điều này là vô cùng quan trọng đối với các nhà cung cấp dịch
vụ, để điều chỉnh dịch vụ của mình cho hợp lý, nhằm làm vừa lòng các khách hàng,
khuyến khích họ thực hiện những lần mua tiếp theo.
1.3. Tình hình cung ứng và cạnh tranh của các doanh nghiệp tham gia vào
thị trường
1.3.1. Các doanh nghiệp tham gia vào thị trường và đặc điểm
1.3.1.1. Các doanh nghiệp Việt Nam
* Cty giao nhận kho vận ngoại thương (Vietrans)
16
Địa chỉ:13 Đường Lý Nam Đế, Thành phố Hà Nội
Điện thoại: (84 - 4) 8 456 444
Fax: (84 - 4) 8 455 829
E-mail:
Được thành lập năm 1970 tại Hải Phòng. Hiện nay Vietrans có trụ sở chính tại
Hà Nội và các chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nghệ An, Nha
Trang, Vladivostock, Oddessa – Ukcraine (văn phòng đại diện). Là thành viên sáng
lập hiệp hội VIFFAS - hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam.
Các dịch vụ cung cấp:
 Vận tải đường hàng không, đường biển, đường bộ đường sắt và vận tải
đa phương thức.
 Giao nhận hàng công trình.
 Giao nhận hàng triển lãm.
 Giao nhận hành lý cá nhân.

Xe chở Pallet 40 cái
Cân 15 cái
Cẩu cont chuyên dụng 6 cái
Xe kéo 20 cái
Xe mooc 30 cái
Xe tải nhỏ 300 cái
* Công ty Vinatrans
Tel: (84-4) 7322784 - (84-4) 7322864
Fax: (84-4) 7322107
PIC: Mr. Phan Viet Huy – Manager
Mobile : (84-91) 3087548
Email :
Vinatrans là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó vốn pháp định là 3 000
000 USD và vốn lưu động là 6000000 USD. Thành lập năm 1975, hiện nay
hệ thống CFS của doanh nghiệp (cho cả hàng biển và hàng không) là 2500m2,
kho ướp lạnh liên doanh với công ty TNHH Konoike Transportation 2800 Mts.
Hệ thống kho bãi gồm có
40000 m2 dành cho kho
18
50000 m2 dành cho kho bãi chứa vật tư lộ thiên
Máy kéo, khung container : 40
Xe nâng, cẩu: 10
Hiện đã được chia tách thành các công ty
Vinalink có vốn 36 tỷ, Vinafreight có vốn 27 tỷ, Vinatrans Hà Nội vốn 22 tỷ,
Vinatrans Đà Nẵng vốn 4,5 tỷ. Hiện nay mạng lưới VinaGroup đã rộng khắp toàn
quốc.
Vinatrans Hanoi sau khi trở thành thành viên chính thức của IATA năm 1998 đã
nhanh chóng mở rộng, phát triển dịch vụ của mình trong nước và quốc tế. Có hệ
thống kho bãi tại Hà Nội và văn phòng làm việc tại sân bay Nội Bài. Vận chuyển
phối hợp đường biển và hàng không, trung chuyển qua Singapore và Dubai. Là tổng

cho COSCO (China Ocean Shipping Company ) và YAS, hiện nay có hai công ty liên
doanh thuộc SAFI đó là COSFI JV giữa SAFI và COSCO, và Yusen Air & Sea
Service Vietnam Co., Ltd, giữa SAFI và YAS.
Các dịch vụ chủ yếu:
- Vận chuyển đa phương thức: giao nhận qua đường biển, hàng không, tàu hoả,
đường bộ, dịch vụ gom hàng
- Dịch vụ logistics: trọn gói (door – to – door service), môi giới hải quan, kho
vận và phân phối hàng hoá, trung gian vận chuyển, vận chuyển hàng cho các triển
lãm và dự án.
- Dịch vụ cho thuê và đại lý tàu
- Dịch vụ vận chuyển, đóng gói nội địa
- Xúc tiến thương mại, xuất, nhập khẩu
Một số số liệu về thiết bị, phương tiện:
Equipments
Ô tô kéo trên 400 Tấn 01
Ô tô kéo trên 150 Tấn 01
Ô tô kéo trên 50 Tấn 02
Ô tô kéo trên 45 Tấn 04
Ô tô kéo trên 25 Tấn 04
20
đầu máy kéo 450 CV 01
Đầu máy kéo 300 CV 02
Đàu máy kéo 250 CV 20
Xe tải Lorry 20
Ô tô tải 40
Cẩu 60 TấnMobile crane 60 tonnes 01
Cẩu 45 TấnMobile crane 45 tonnes 01
Cẩu 25 tấn Mobile crane 25 tonnes 01
Cẩu 16 TấnMobile crane 16 tonnes 02
Tàu bốc dỡ 600 TấnBarge 500 tonnes 01

Dịch vụ Triển lãm, hội chợ quốc tế: bao gồm các công đoạn chuẩn bị trước,
trong và sau triển lãm, đóng gói, vận chuyển, liên hệ ban tổ chức cho các hàng hoá
xuất ra nước ngoài để triển lãm, hoặc dịch vụ trọn gói dành cho hàng hóa nhập vào
Việt Nam để triển lãm.
Trụ sở chính
40 Lê Hồng Phong, Thành phố Nha Trang
Tel: +84 58 877 637
Fax: +84 58 877 638
Email:
Website:
Ngoài ra, VNW hiện nay có các chi nhánh và văn phòng đại diện tại Hà Nội, Tp
Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, và Hải Phòng.
1.3.1.2.. Các doanh nghiệp nước ngoài
* Translink Express
Là doanh nghiệp đầu tiên và duy nhất hiện nay chuyên về logistics cho hàng
Triển lãm và hội chợ quốc tế tại Việt Nam. Chiếm đến 70% thị phần của thị trường
này. Ngoài vấn đề Triển lãm và hội chợ quốc tế, Translink còn kinh doanh các dịch
vụ vận chuyển hàng hoá thông thường, đóng gói và vận chuyển hành lý cá nhân, và
nhiều dịch vụ khác liên quan đến logistics. Chi tiết về hoạt động của Translink sẽ
được trình bày rõ nét hơn tại chương II.
* Nissin Logistic
Tập đoàn Nissin (Nissin Corporation) là một trong 4 đơn vị kinh doanh trong
lĩnh vực giao nhận và logistics lớn nhất Nhật Bản. Có số vốn pháp định là 6.1 tỷ yen,
921 nhân viên và lao động, với trung bình 132.8 tỉ Yên doanh thu hàng năm. Có 281
22
chi nhánh và văn phòng đại diện tại 23 quốc gia trên khắp thế giới. Được thành lập
14/12/1938 tại Onoe-cho, Naka-ku, thành phố Yokohama, hiện nay trụ sở chính của
tập đoàn tại số 5, Sanban-cho, Chioyada-ku, Tokyo.
Văn phòng đại diện tại Việt Nam (công ty Nissin Logistics VN) được thành lập
3/2006, với số vốn 500 000 USD. Mặc dù còn khá mới mẻ trên thị trường tuy nhiên

Nam chưa cao, phần lớn chỉ đáp ứng được một vài công đoạn đơn giản trong cả khâu
cung ứng logistics. Hơn nữa, vấn đề logistics hiện nay là toàn cầu, nhiều hãng nước
ngoài đã đặt chân vào đến Việt Nam, tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam hầu như
đều chưa có văn phòng đại diện tại nước ngoài. Theo nhận xét của ông Nguyễn Việt
Hoà, Giám đốc Công ty Cổ phần Container Việt Nam (Viconship Vietnam), ngành
công nghiệp logistics của Việt Nam hiện vẫn đang ở thời kỳ phôi thai, phần lớn của
hệ thống logistics chưa được thực hiện ở một cách thức thống nhất, đa phần các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đều nhỏ bé về địa bàn hoạt động và hạn
chế về vốn cũng như về công nghệ thông tin.
Về thị trường Logistics cho hàng Triển lãm, hội chợ thương mại quốc tế tại Việt
Nam hiện nay, là một thị trường mới, chuyên biệt và có nhiều đặc thù. Ngoài
Translink Express hay Vinashin New World Logistics, chưa có các doanh nghiệp
chuyên sâu vào thị trường này, mà chỉ coi Triển lãm, hội chợ quốc tế là một phần
trong những hoạt động logistics của họ. Vì thê, chưa xây dựng được những tiêu chí,
tiêu chuẩn riêng phục vụ cho Triển lãm, hội chợ, cũng như chưa đủ điều kiện để các
nhà tổ chức lựa chọn làm nhà giao nhận chính thức (Official Forwarder).
Do đó, thị trường này hiện nay vẫn còn rất nhiều tiềm năng cho các doanh
nghiệp Việt Nam khai thác và mang lại nhiều cơ hội.
1.4. Xu hướng vận động của thị trường Logistíc in-bound cho hàng Triển
lãm, hội chợ thương mại quốc tế tại Việt Nam.
1.41. Những yếu tố tác động đến nhu cầu trên thị trường dịch vụ
1.4.1.1. Sự phát triển của triển lãm, hội chợ tại Việt Nam
Thống kê từ website Vietnam Trade Fair, của công ty cổ phần phát triển
Thương mại điện tử Việt Nam:
24
Năm 2007, có 149 cuộc Trỉên lãm, hội chợ quy mô lớn, trong đó có 75 cuộc
Triển lãm, hội chợ quốc tế, chiếm tỷ lệ 50.33%.
Năm 2008, tại Việt Nam có 167 cuộc Triển lãm hoặc hội chợ với quy mô lớn,
trong đó có 89 cuộc Triển lãm, hội chợ quốc tế. Chiếm tỷ lệ 53.29%.
Như vậy, trong hai năm qua, số lượng các cuộc Triển lãm, hội chợ đang có xu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status