1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ THU AN TÌM HIỂU NGHI LỄ THỜ CÚNG
CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở KIẾN AN HẢI PHÒNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo
Mã số: 60 22 90 Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN THỊ KIM OANH
Hà Nội - 2013
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ 12
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU KIẾN AN – HẢI PHÒNG 12
Trong hơn hai trăm quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tục thờ
Mẫu chỉ có ở Việt Nam. Là một loại hình tín ngưỡng dân gian của những cư
dân thuộc khu vực châu thổ sông Hồng, tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện từ rất
sớm và phát triển đến tận ngày nay. Với niềm ngưỡng vọng vào sự che chở,
ban phát tài lộc, sức khỏe người Việt đã xây dựng lên hình tượng Mẫu _ Mẹ
cùng sức mạnh vạn năng có thể xoay chuyển cả đất trời, thân phận. Mẫu ở
đây được hiểu không chỉ là người sinh ra dân tộc mà còn là nguồn sống nuôi
dưỡng dân tộc qua ngàn năm lịch sử. Trong suốt tiến trình từ hình thành, phát
triển và ngày càng hoàn thiện, tín ngưỡng thờ Mẫu đã chịu ảnh hưởng nhiều
từ các tôn giáo ngoại lai cũng như tín ngưỡng dân gian tồn tại quanh nó. Tuy
nhiên, bản thân tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn mang trong mình những sắc thái
riêng biệt và ngày càng trở thành loại hình tâm linh không thể thiếu trong đời
sống của một bộ phận quần chúng nhân dân.
Cùng với xu thế đổi mới trong đời sống kinh tế - xã hội, tư duy lý luận
đặc biệt là nhận thức về tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang có những chuyển
biến căn bản. Trước đây một thời gian dài, chúng ta đã coi chúng như là "tàn
dư" của xã hội cũ, là kết quả sai lầm trong nhận thức của con người. Chúng bị
xem như cái đối lập với chủ nghĩa xã hội, với khoa học, kỹ thuật hiện đại và
cần phải loại bỏ. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có những nhận định
khách quan, khoa học về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp hơn với tình hình hiện
tại. Nhận thức một số giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống với việc xây dựng
nền đạo đức mới, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phù hợp với
mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong
2
việc hoạch định chính sách tín ngưỡng, tôn giáo và công tác bảo vệ, tu tạo các
di sản văn hóa.
Nghi lễ thờ cúng là một thành tố quan trọng trong kết cấu của tín
ngưỡng, tôn giáo. Nó không chỉ là phương cách để con người giao tiếp với
đấng siêu nhiên mà còn là cách thức thể hiện của niềm tin trong giáo lý. Mỗi
trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Có thể nói, khoảng thập niên 1990, nhất là sau hội thảo quốc gia về
Thánh Mẫu Liễu Hạnh do Viện nghiên cứu Văn hóa Việt Nam tổ chức tại
Văn Miếu (Hà Nội) thì không khí học thuật liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu
nói riêng và tín ngưỡng dân gian nói chung mới thực sự sôi động, hàng loạt
các tác phẩm, công trình nghiên cứu đã được công bố.
Từ các nghiên cứu tổng hợp, các nhà nghiên cứu đã hệ thống hóa được
việc tôn thờ Mẫu ở Việt Nam trên cả phương diện đồng đại và lịch đại. Về
phương diện lịch đại, tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam được hình thành và
phát triển trên nền thờ Nữ thần và Mẫu thần bản địa, rồi tiếp thu những ảnh
hưởng của Đạo giáo Trung Hoa để đạt đến đỉnh cao với sự xuất hiện của
Thánh Mẫu Liễu Hạnh vào thế kỷ XVI. Về phương diện đồng đại, tín ngưỡng
thờ Mẫu di cư vào phương Nam trong quá trình nam tiến. Ở đây, nó đã giao
thoa, tiếp biến với các tục thờ Mẫu của người Chăm, người Khmer từ đó tạo
nên các dạng thức địa phương của tín ngưỡng thờ Mẫu với ba miền Bắc –
Trung – Nam.
Trong những năm gần đây, tín ngưỡng thờ Mẫu ngày càng được rất
nhiều người biết đến không chỉ với tư cách một tín ngưỡng có lượng tín đồ
ngày càng đông mà còn là vấn đề mà giới học thuật đem ra luận bàn chưa đi
tới thống nhất. Đặc biệt, những nghiên cứu về nghi lễ thờ cúng của tín
4
ngưỡng thờ Mẫu vẫn còn khá mới mẻ và chưa có nhiều công trình khai thác
chuyên sâu.
Tính đến nay, có thể chia các nghiên cứu đó thành các mảng sau:
1) Các công trình nghiên cứu là sách
Tác giả Ngô Đức Thịnh được coi là gạo cội trong nghiên cứu tín
ngưỡng Mẫu ở Việt Nam. Bản thân ông là người đi nhiều, viết nhiều và lao
động một cách nghiêm túc với mong muốn xây dựng tín ngưỡng thờ Mẫu trở
thành tôn giáo của người Việt – Đạo Mẫu. Những tác phẩm của ông đều là
Mẫu, xét về bản chất thì có sự tương đồng với các loại hình shaman của các
tộc người ở Việt Nam và Châu Á. Cũng trong tác phẩm, lên đồng còn được
tìm hiểu từ góc độ tâm sinh lý và tính chất trị liệu của nó, về vấn đề cơ đày,
những bí ẩn của hiện tượng đồng giới, khát vọng giải phóng của người phụ nữ
trong xã hội cổ truyền và hiện đại…
Tác giả Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc với cuốn “Các nữ thần Việt
Nam”. Cuốn sách được xuất bản vào năm 1982. Hay cuốn “Nữ thần và Thánh
Mẫu Việt Nam” do Vũ Ngọc Khánh, Mai Ngọc Chúc, Phạm Hồng Hà biên
soạn (2002, Nxb Thanh niên), “Thần nữ danh tiếng trong văn hóa Việt Nam”
của Nguyễn Minh San (Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội, 2006). Ở đây, các tác
giả đã dày công biên soạn và kể lại thần tích của các vị Nữ thần. Từ các bình
diện lai lịch, vai trò trong tâm thức người Việt để đưa ra những kết luận về
đặc điểm các vị nữ thần Việt.
Sách “Tục thờ Đức Mẫu Liễu Hạnh, Đức Thánh Trần” của giáo sư Vũ
Ngọc Khánh (Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2008). Cuốn sách trình bày tín
ngưỡng thờ Mẫu như một chuỗi phát triển từ ban đầu là nguyên lý Mẹ cho
đến thờ Mẫu Tứ phủ. Trên cơ sở đó thấy được vị trí và vai trò của Thánh Mẫu
Liễu Hạnh trong đời sống dân gian Việt Nam. Cùng với đó là trình bày nghi
6
lễ thờ cúng tại một số phủ tiêu biểu tại các trung tâm thờ Mẫu ở Bắc Bộ.
Ngoài ra, tác giả còn trình bày khái lược về Đức Thánh Trần. Bằng các cứ
liệu lịch sử, các câu chuyên dân gian tác giả đã xây dựng lên hình ảnh Đức
Vua Cha từ khi còn là một vị anh hùng dân tộc cho đến khi ngài hiển thánh.
Sách “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh
San (1998) là tập hợp những nghiên cứu về các loại hình tín ngưỡng trong đời
sống dân gian của người Việt trên khắp mọi miền đất nước với những biểu
hiện về thờ Mẫu mang sắc thái địa phương mà tác giả đã qua thực tế tìm hiểu.
Đặc biệt ở nội dung thứ ba trong cuốn sách có trình bày cụ thể về thờ Mẫu với
cách phân loại Mẫu theo gốc gác, tước hiệu. Và điểm đáng chú ý ở đây là tác
Chu Xuân Giao, Phan Lan Hương (2008) “Truy tìm những chân thực
riêng lẻ: về thời điểm xuất hiện của phủ Tây Hồ từ góc nhìn nhân loại học
lịch sử”, Tạp chí Văn hóa dân gian, 3, tr 21-44.
Nguyễn Ngọc Mai (2009) “Múa đồng trong nghi lễ lên đồng của người
Việt và mối quan hệ với múa bóng (Chăm) một đôi điều suy nghĩ, Tạp chí Văn
hóa dân gian, số 3, tr 56-61.
3) Các công trình luận văn, luận án và hội thảo khoa học:
Luận văn của tác giả Phan Thị Kim (Thích Đàm Kiên) với đề tài “Tìm
hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực Bắc Bộ”.
Tác giả đã trình bày tổng quan về tín ngưỡng thờ Mẫu: khái niệm, sự hình
thành phát triển. Thông qua phân tích mối quan hệ giữa thờ Mẫu và Phật giáo,
tác giả đã đặt tín ngưỡng Mẫu tồn tại và phát triển trong mối tương quan với
tôn giáo khác chứ không phải là một hiện tượng đơn lẻ. Qua đó thấy được sự
kết dính của loại hình tôn giáo này trong đời sống tâm linh người Việt.
8
Hội thảo quốc tế “Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội Phủ Giầy” Hà Nội,
31/3 - 1/4/2001. Với sự tham gia của hơn 100 nhà nghiên cứu trong nước và
nhiều học giả quốc tế đến từ Mỹ, Nga, Trung Quốc… Hội thảo đã đi đến nhận
thức về Đạo Mẫu, tính đa dạng của nó trong các tộc người. Đặc biệt các học
giả đã có những so sánh tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi thức Hầu đồng của
người Việt với các hiện tượng Shaman giáo ở các khu vực, dân tộc khác ở
khu vực Đông Á.
Hội thảo "Lễ hội Đền Cờn - Tục thờ Tứ vị Thánh Nương với văn hóa
biển ở Việt Nam" diễn ra ngày 15/6/2009 tại Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu,
Nghệ An. Qua hội thảo, các nhà nghiên cứu đã bước đầu phác thảo những
nét cơ bản về đặc điểm văn hóa biển, đặc biệt là văn hóa tín ngưỡng, đồng
thời đề xuất một số giải pháp giữ gìn và phát huy văn hóa biển trong thời kỳ
hội nhập.
Hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa thờ nữ thần (Mẫu) ở Việt Nam và
phá. Và nghi lễ thờ cúng là một mảng nội dung trong số đó. Việc nghiên cứu
nghi lễ thờ cúng của tín ngưỡng thờ Mẫu mới chỉ dừng lại ở Hầu đồng chứ
chưa có một nghiên cứu nào mang tính chuyên sâu. Chính vì vậy, vấn đề mà
luận văn nghiên cứu là mảng mới, và càng giá trị hơn bởi lẽ bản thân nghi lễ
thờ cúng là một bộ phận không thể thiếu khi tiếp cận bất kỳ tín ngưỡng, tôn
giáo nào. Đồng thời, qua công trình này học viên mạnh dạn xin đưa ra một số
đề xuất nhằm phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc của loại
hình tín ngưỡng này trong thời kỳ toàn cầu hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
Từ việc mô tả và phân tích một số nghi lễ thờ cúng trong tín ngưỡng
thờ Mẫu ở khu vực Kiến An - Hải Phòng. Qua đó thấy được ảnh huởng của
tín ngưỡng thờ Mẫu đối với các sinh hoạt văn hoá cộng đồng khác trong xã
10
hội. Đồng thời làm nổi bật lên những giá trị văn hoá, đạo đức mà nó góp phần
vào công cuộc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá Việt Nam.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, khái quát chung về tín ngưỡng thờ Mẫu và địa bàn nghiên cứu.
Thứ hai, trình bày cách thực hành nghi lễ thờ cúng của tín ngưỡng thờ
Mẫu tại Kiến An – Hải Phòng. Qua đó, nêu lên nhận định và giải pháp để góp
phần vào việc xây dựng diện mạo sinh hoạt của cộng đồng tín đồ thờ Mẫu của
nhân dân nơi đây. Chỉ ra được tác động tương hỗ giữa tín ngưỡng và cộng
đồng xã hội.
4. Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghi lễ thờ cúng của tín ngưỡng
thờ Mẫu ở Kiến An – Hải Phòng.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Kiến An - Hải Phòng
tham khảo. Riêng phần Nội dung bao gồm 2 chương với 5 tiết.
12
Chương 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU KIẾN AN – HẢI PHÒNG
1.1 Tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ thờ cúng của tín ngưỡng thờ Mẫu
1.1.1 Tín ngưỡng thờ Mẫu
1.1.1.1 Khái niệm
Tín ngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là phương thức
phản ánh tồn tại xã hội trên cơ sở niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên để
giải quyết vấn đề về thế giới quan – nhân sinh quan. Từ rất xa xưa, khi xã hội
còn chưa thoát thai, con người hoàn toàn thụ động trước mọi hiện tượng tự
nhiên. Một tiếng sấm, một cơn mưa, một trận thiên tai…đều được quy giản về
căn nguyên ở đối tượng siêu nhiên nào đó, mà họ gọi là thần linh. Tội ác bị
trừng phạt, cái Thiện luôn là chân lý tối ưu và chỉ có thần linh mới có quyền
phán xét.
Việt Nam là một quốc gia có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo rất phong
phú. Bên cạnh tín ngưỡng dân gian thì các loại hình tôn giáo ngoại lai du nhập
cũng được hòa cùng mạch nguồn văn hóa dân tộc tạo nên một bức tranh đa
màu sắc. Nói như cách nói của ông L.Cadiere:“Tôn giáo của người Việt, ở
đây nên dùng số ít, cho ta cái cảm nhận y như khi ta lạc vào núi rừng Trường
Sơn”, bước vào đó ta khó có thể phân định rạch ròi. Bởi lẽ, trong khu rừng ấy,
“những cành cây sà xuống mặt đất, lại đan rễ chằng chịt; dây leo tứ bề bò cây
này sang cây khác, chẳng biết gốc rễ từ đâu, và cứ thế mãi như vô tận, chẳng
bao giờ dứt”
(1)
1
14
kiểu thờ cúng tổ tiên trong gia đình hay thờ cúng anh hùng dân tộc tại một số
đền riêng lẻ. Đạo Mẫu đã có những hoạt động mang tính đặc trưng tôn giáo”
[36; 502]. Trên thực tế, trước những năm 1975, ở miền Nam Việt Nam cũng
hình thành một cộng đồng thờ Mẫu mang tính chất giáo hội với tên gọi là
Tiên Thiên Thánh Mẫu Giáo, tập hợp các tín đồ toàn Miền Nam. Còn ở miền
Bắc hiện nay cũng hình thành một số trung tâm thờ Mẫu như Đồng Bằng
(Thái Bình), Phủ Dầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa), Phủ Tây Hồ (Hà
Nội). Ngoài ra hiện nay có một số hội tập hợp những người theo và muốn tìm
hiểu về thờ Mẫu như: Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Văn hóa tín ngưỡng
Việt Nam do GS Ngô Đức Thịnh phụ trách; Câu lạc bộ Bảo tồn Phục dựng
Văn hóa tâm linh và Đạo Mẫu Việt Nam….
Thứ hai: Phản bác lại quan điểm trên có một luồng ý kiến trái chiều
khác cho rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu chỉ dừng lại ở loại hình một tín ngưỡng
dân gian. Bởi lẽ: “Về mặt tâm linh, cũng như quy mô tín đồ nó đầy đủ yếu tố
một tôn giáo, nhưng nó lại thiếu hẳn một triết thuyết để đủ sức trở thành một
tôn giáo hoàn chỉnh”[17; 276]. Còn theo tác giả Nguyễn Hữu Thông: “hình
tượng Mẫu hoàn toàn là sản phẩm của loại hình tín ngưỡng dân gian chứ
không phải là một tôn giáo chính thống. Xu thế biến Mẫu thành tôn giáo
chính thống hiện nay của một số cá nhân là việc làm trái quy luật, không đúng
với tiến trình phát triển”[63;53-54]. Giáo sư Đinh Gia Khánh cho rằng: “thờ
Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc dân gian, một tín ngưỡng bản địa, khác
với các tôn giáo phổ quát”.
Thứ ba: Xem thờ Mẫu là một tập tục, một tín ngưỡng truyền thống của
người Việt. Theo Tiến sĩ Trương Sĩ Hùng thì: “trường hợp tục thờ Mẫu ở Việt
Nam biểu hiện rất rõ, phát triển đến mức gần như một tôn giáo của người
Kinh” [29; 8]. Cùng với quan điểm đó, tác giả Mai Thanh Hải cũng đưa ra
nhận định: “Tục thờ Mẫu có sức lan truyền mạnh tới mức nhiều nơi đã lan tỏa
mạnh mẽ…” [18, tr.151].
16
1.1.1.2 Sự hình thành, phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu
Theo những tài liệu khảo cứu về lịch sử Việt Nam tục thờ Mẫu đã xuất
hiện từ rất sớm. Trong những di chỉ tìm thấy được tại Hòa Bình, Thanh Hóa,
Yên Bái, Lạng Sơn đã phát lộ thì trong tục mai táng người chết thì đồ tùy táng
của nữ giới nhiều hơn nam giới. Quan niệm về thế giới sau khi chết cũng thấy
được sự coi trọng nữ giới. Chữ Việt cổ cùng nghi thức mai táng trọng thể phụ
nữ đã được tìm thấy trên những nét khắc hoa văn theo lối nhất định hiện còn
sót lại trên đá cao nguyên Pà Màng, Thuận Châu, Sơn La hay tại bãi đá Xín
Mần tỉnh Hà Giang, bãi đá Hoàng Liên Sơn….
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng nảy sinh trong nôi
văn hóa thuộc khu vực Bắc Bộ. Nơi đây là cả một vùng châu thổ rộng lớn
với ba con sông: sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã. Đây cũng là đầu
mối kinh tế, chính trị văn hóa của quốc gia Đại Việt trong lịch sử. Nằm trên
bán đảo Trung - Ấn, thuộc đới khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt.
Địa hình nhỏ hẹp, có sự đan xen giữa đồng bằng, đồi núi và duyên hải ven
biển. Từ rất sớm, những cư dân đầu tiên đã biết đến phương thức sản xuất
nông nghiệp với tập quán luôn gắn bó với yếu tố “nước”. Chính điều này đã
làm nên sắc thái rất riêng biệt không chỉ trong lao động, mà còn trong cư trú
và tâm lý ứng xử trước cộng đồng. Có lẽ vì thế mà nằm trong nền văn minh
nông nghiệp khu vực Dương Tử nhưng nơi đây vẫn không hề phai lạt nét
độc đáo của mình.
Nền sản xuất nông nghiệp lúa nước đã sớm hình thành nên lối tư duy
trọng thủy, trọng âm, trọng nữ. Trong tâm thức của người xưa, những đặc tính
“nữ_cái” hay tính chất “nảy nở_con” luôn gắn cho nhiều đối tượng như
đường cái, trống cái, cột cái….Sự gán ghép ấy không phải là ngẫu nhiên, vì
đằng sau đó là mong muốn cây lúa ngoài đồng sinh ra nhiều nhánh đem lại
17
mùa màng bội thu và còn cả khát vọng lớn lao được “con đàn, cháu đống”
Tam tòa Thánh Mẫu.
Qua tín ngưỡng thờ Mẫu chúng ta hiểu cách con người xưa sùng bái
hóa tự nhiên chính là để bảo vệ tự nhiên. Và đến lúc nào đó sự sùng bái ấy
chuyển sang sùng bái Nữ thần mà suy cho cùng đó cũng là cách nhân thần
hóa tự nhiên bởi lẽ giữa tự nhiên và tính nữ đều có chung những đặc tính đó
là sự sản sinh, bảo trợ và che chở. Ở cả ba cõi trời – non – nước từ thiên nhiên
trở thành các đấng siêu nhiên. Và sau này đến thế kỷ 16 đã hình thành thêm
một Mẫu nữa là Địa Cung Thánh Mẫu hay thường gọi là Thánh Mẫu Liễu
Hạnh. Ở bà là sự tựu chung nét đẹp của một người mẹ, người chủ, một vị
tướng và vị thánh.
Sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh vừa là nhu cầu phát triển nội
tại của tín ngưỡng thờ Mẫu đã có từ trước, vừa phản ánh khát vọng của quần
chúng nhân dân dưới thời Lê mạt. Vốn là một tín ngưỡng mang đậm màu sắc
tự nhiên nay nó được đời thường hóa, đáp ứng những khát vọng của con
người về: tài lộc, chữa bệnh, ban phúc, phán truyền. Từ đây, tín ngưỡng thờ
Mẫu mang trên mình diện mạo mới vừa truyền thống lại rất hiện đại. Chính
điều đó làm cho nó nhanh chóng phát triển, lan tỏa khắp mọi miền đất nước
và theo chân người Việt vươn xa ra hải ngoại.
1.1.2 Nghi lễ thờ cúng
Nghi lễ thờ cúng là sự thể hiện giáo lý khi thực hành tín ngưỡng. Và
không nằm ngoài quy luật đó, để có thể đi sâu khai thác của nghi lễ thờ cúng
chúng tôi buộc phải tiếp cận những nội dung trong giáo lý thờ Mẫu. Qua đó,
mới có thể hiểu được tại sao người ta tổ chức nghi lễ như vậy và đằng sau đó
con người mong cầu điều gì cho cuộc sống dương gian. 19
1.1.2.1 Giáo lý cơ bản
Tồn tại dưới loại hình là một tín ngưỡng dân gian nên bản thân tín
ngưỡng thờ Mẫu chưa có hệ thống kinh kệ hoàn chỉnh. Vì thế, để hiểu giáo lý
Sảy thấy tiên nữ vào chầu
Khoan thai chân bước đền chầu bên ngai
(Liễu Hạnh công chúa diễn âm)
Khi trót tay đánh vỡ chén ngọc, bị Ngọc Hoàng đày xuống trần gian
đầu thai vào nhà họ Trần:
Tay nâng chén ngọc đã rơi
Thượng đế linh bài quan pháp vô thân
Cho làm con họ nhà Trần
Ở đất Thiên Bản là dân Phủ Dầy
(Liễu Hạnh công chúa diễn âm)
Với phép thần thông biến hóa khôn lường, Bà đã ra tay trừng trị kẻ ác
đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân. Đặc biệt, Thánh Mẫu còn cầm quân
xung trận phò vua dẹp giặc Chiêm Thành. Với công trạng đó, người đã được
triều đình phong kiến phong thần:
Sắc phong “Chế Thắng” đường hoàng,
Lại gia Hòa Diệu Đại Vương, chữ đề
Huyền Tông Cảnh Trị đời Lê
Ngõa Từ có sắc dụ về Sòng Sơn
Chính Hòa đến hiệu Hy Hoàng
Sái phu mười suất chỉ ban quê nhà
21
Liệt triều trải mấy đế vương
Ân phong thượng đẳng, thần thường trứ linh
(Liễu Hạnh công chúa diễn âm)
Có thể nói, hình tượng Mẫu Liễu Hạnh là kết quả của cả một quá trình
phát triển hệ tư tưởng của người Việt. Bởi lẽ, chính trong sức mạnh nhân thần
nơi bà đã chứa đựng tất cả quyền năng của nhiên thần trước đó. Và bà xuất
hiện với tư cách đại diện cho Tam tòa Thánh Mẫu (Thiên – Ngàn – Thoải),
điều này chúng ta dễ dàng nhận ra ở một số nơi thờ Mẫu người ta chỉ thờ Mẫu
Và truyền thống ấy còn đi sâu vào tâm thức của những tín đồ thờ Mẫu qua
việc xây dựng hình ảnh những vị Thánh với bao công trạng hiển hách. Lòng
yêu nước đó thể hiện ở những điểm sau:
- Người Việt đã biến những vị thần tự nhiên thành các vị thần có lai
lịch, tên tuổi, gắn họ với cuộc sống của mình và trở thành một phần của tiến
trình lịch sử nước nhà. Từ những gốc cây, hòn đá vô tri, người ta đã lịch sử
hóa thành những con người có công với dân với nước.
- Bên cạnh đó là những vị thần có thật trong lịch sử chống ngoại xâm,
trong việc an dân gây dựng xã tắc. Người Việt đã tôn xưng họ thành Quốc
Mẫu, thành Thánh.
- Và nghi lễ Hầu đồng là cách thức thể hiện rõ nét nhất tinh thần yêu
nước đó. Vì khi ấy, các vị thanh đồng hóa thân vào vai các Thánh trong hàng
Tứ phủ, tái hiện lại công lao, thần tích về những vị anh hùng ấy. Cũng chính
nghi lễ này còn là cách thức bảo tồn và lưu giữ giá trị tốt đẹp đó cho hậu thế
muôn đời.
23
Thứ ba: Giáo lý thờ Mẫu dạy con người lao động sản xuất, dạy học
hành, dạy cách đối nhân xử thế; coi tâm là giá trị cốt lõi, khuyên con người
tích đức, hành thiện bài trừ cái ác.
Là láng giềng nằm cạnh cái nôi của văn hóa Nho giáo, nên ngay từ đầu
công nguyên hệ tư tưởng chính trị này đã được truyền bá ảnh hưởng vào Việt
Nam. Tuy nhiên, có lẽ cái gốc Nho ấy không thể đồng hóa văn hóa Việt, đặc
biệt là thờ Mẫu với tâm thức tôn sùng những người phụ nữ.
Rất có thể trong chúng ta đã từng đặt ra nghi vấn: Tại sao cùng chịu
ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo với “tam cương, ngũ thường”, vậy mà trong
đời sống xã hội Việt và Hán lại có sự khác biệt khi nhìn nhận vị trí và vai trò
của người phụ nữ? (sự khác biệt này còn thể hiện rất rõ vào thời nhà Lê, một
triều đình suy tôn đạo Nho làm quốc giáo nhưng trong Luật Hồng Đức lại có
một số quy định bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ). Truy tìm căn nguyên