Đặc điểm truyện thơ Mường Thanh Hóa - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC

LÊ THỊ HIỀN

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN THƠ MƯỜNG
THANH HOÁ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 602236

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ CHÍ QUẾ


2.1.2. Chế độ lang đạo là chế độ xã hội đặc thù 32
2.1.3. Phong tục tập quán của xã hội Mƣờng 37
2.1.3.1. Phong tục cƣới xin 37
2.1.3.2. Phong tục ma chay 40
2.1.3.3. Những phong tục tập quán khác 42

5
2.2. Con ngƣời trong xã hội Mƣờng 44
2.2.1. Tình yêu đôi lứa 44
2.2.1.1. Truyện thơ Mƣờng phản ánh những mối tình không thành đạt 44
2.2.1.2. Thể hiện khát vọng về tình yêu hạnh phúc của con ngƣời, là bài
ca về chủ nghĩa nhân đạo 54
2.2.2. Số phận nàng Con Côi 55
2.2.2.1. Hình tƣợng gì ghẻ - con chồng 55
2.2.2.2. Triết lý nhân quả - báo ứng 58
2.3. So sánh nội dung của truyện thơ Mƣờng Thanh Hoá với nội dung
của truyện thơ các dân tộc thiểu số khác 59
Tiểu kết 66
CHƢƠNG 3: TRUYỆN THƠ MƢỜNG THANH HOÁ NHÌN TỪ GÓC
ĐỘ NGHỆ THUẬT 67
3.1. Một vài đặc điểm về kết cấu 67
3.1.1. Kết cấu cốt truyện 67
3.1.1.1. Cốt truyện đƣợc xây dựng dựa trên cốt truyện dân gian có sẵn để
biến đổi hoặc sử dụng một số công thức truyền thống của truyện cổ dân
gian. 67
3.1.1.2. Mô hình cấu trúc cốt truyện 74
3.1.2. Một số thủ pháp kết cấu nổi bật 76
3.1.2.1. Thủ pháp kết cấu đối chiếu 76
3.1.2.2. Thủ pháp kết cấu trùng điệp 79
3.2. Nhân vật 83

văn học ấy đã trải bao phen chìm nổi, chứng tỏ nó có sức mạnh phi thường để
đi suốt cả chiều dài lịch sử. Kho tàng văn học dân gian của người Mường
phong phú, đa dạng với những sử thi, truyện thơ nổi tiếng, với những xường,
mo…tất cả đượcc xem là vật thiêng của dân tộc, là hồn của đất nước, hồn của
bản, của mường. Đặc biệt trong kho tàng văn học dân gian ấy, truyện thơ
chiếm số lượng lớn, là một trong những bộ phận văn học đặc sắc của người
Mường. Tìm hiểu truyện thơ Mường Thanh Hoá không những nhận thức
được các giá trị văn hoá độc đáo của người Mường mà còn góp phần bảo tồn,
phát huy và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
1.2. Truyện thơ Mường là một thể loại độc đáo và phức tạp nhưng vô
cùng hấp dẫn. Qua các công trình đã xuất bản chúng ta thấy số lượng truyện
thơ Mường rất phong phú, mỗi truyện có độ dài hàng nghìn câu được diễn
nôm bằng thơ theo tiếng Mường. Đó là những câu chuyện tình dang dở của
những cặp thanh niên tuấn tú tài ba hoặc chuyện về những nàng con côi,
những nạn nhân của chế độ lang đạo đa thê, đó là những truyện như Út Lót –
Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương, Nàng con
côi. Truyện thơ đó nuôi dưỡng cái thế giới tinh thần của người Mường. Người
Mường tìm thấy ở đó nguồn gốc của dân tộc mình, quá khứ xa xưa cũng như

2
cuộc sống trước mắt ở giữa thiên nhiên và xã hội, những vấn đề hôm qua và
hôm nay và khi họ chết đi các truyện thơ trong tiếng hát sẽ đưa họ về nơi an
nghỉ cuối cùng, trở về với tổ tiên, mường nước.
Tìm hiểu đặc điểm truyện thơ Mường Thanh Hoá chúng tôi muốn tìm
hiểu thế giới tinh thần của người Mường và hiểu sâu hơn những giá trị nghệ
thuật của nó trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
1.3. Thanh Hoá là cái nôi lưu giữ nhiều bản sắc văn hoá dân tộc độc
đáo của người Mường trong cả nước. Truyện thơ Mường Thanh Hoá trong
bối cảnh truyện thơ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam mang những đặc điểm
chung song cũng mang những bản sắc riêng độc đáo. Tìm hiểu truyện thơ

ở miền núi phía Bắc. Tuy nhiên điều đáng chú ý là nếu như những người biên
dịch khác cho rằng hai tác phẩm Út Lót – Hồ Liêu và Nàng Nga – Hai Mối là
hai tác phẩm riêng lẻ và lưu truyền ở Thanh Hoá thì nhóm biên dịch cuốn
sách này căn cứ vào nhiều mối liên hệ trùng lặp và bằng sự kể lại của một số
nghệ nhân am hiểu nhiều truyện đã xếp chúng vào một tác phẩm và lấy tên là
truyện Cun đủ lang đà.
Năm 1986 trong Tuyển tập truyện thơ Mường (tập 2), Hoàng Anh
Nhân đã tuyyển lựa và giới thiệu bốn truyện thơ được lưu truyền ở Thanh
Hoá, đó là: Út Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm – Chàng Bồng
Hương, Nàng con côi. Trong cuốn sách này tác giả đã giới thiệu về hoàn cảnh
ra đời, khái quát nội dung và bản dịch đầy đủ của từng truyện thơ.
Năm 1995 trong cuốn Tuyển tập truyện thơ dân gian Mường, Bùi
Thiện đã sưu tầm, biên soạn và dịch 12 truyện thơ trong đó có truyện Cun đủ
lang đà gồm hai truyện là Út Lót – Hồ liêu và Nàng Nga – Hai Mối.
Năm 2002 Nhà xuất bản Đà Nẵng công bố bộ sách Tổng tập văn học
các dân tộc thiểu số ở Việt Nam do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên. Ở đây nhóm
biên soạn đã giới thiệu các truyện thơ Mường Thanh Hóa trong tập 4 như: Út
Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương. Ba
truyện thơ này đều chưa có phần tiếng dân tộc, chỉ có bản dịch tiếng Việt.
Theo GS. Đặng Nghiêm Vạn việc xuất bản những cuốn sách bằng song ngữ là

4
việc không dễ dàng vì cần có vốn đầu tư lớn, một tổ chức điều hành rất khoa
học và nhất là có những người nhiệt tình và hiểu biết.
Năm 2005 nhà giáo, nhà văn hóa dân tộc Mường ở Thanh Hoá là Cao
Sơn Hải đã biên soạn cuốn sách Truyện Nàng Nga - Đạo Hai Mối. Ở trong
cuốn sách này tác giả đã giới thiệu cả phần phiên âm tiếng Mường. Đây là
một công trình công phu và nghiêm túc.
Như vậy, truyện thơ Mường Thanh Hoá được trích dịch và xuất bản từ
năm 1962 với hai tác phẩm là Út Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối. Từ đó

diện: Nội dung và nghệ thuật. Qua đó so sánh truyện thơ Mường Thanh Hoá
với truyện thơ các dân tộc thiểu số khác để thấy được dấu ấn địa phương,
điểm riêng độc đáo của truyện thơ Mường xứ Thanh.
- Góp phần vào việc bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống
của dân tộc Mường.
3.2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu đặc điểm nội dung và nghệ thuật của truyện thơ Mường
Thanh Hoá.
- Vận dụng các phương pháp nghiên cứu để chỉ ra đặc điểm, giá trị của
từng truyện sau đó tổng hợp để thấy được giá trị tổng thể cũng như đặc điểm
riêng, độc đáo của truyện thơ Mường Thanh Hoá.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát, nghiên cứu là Truyện thơ Mường Thanh Hoá, tập 2,
NXB Văn hoá Thông tin Thanh Hoá (1986) do tác giả Hoàng Anh Nhân
tuyển lựa và giới thiệu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp sau đây:
5.1. Phương pháp liên ngành
Truyện thơ là cầu nối giữa văn học dân gian và văn học viết. Do đó tất
yếu phải sử dụng kết hợp những phương pháp phân tích, nghiên cứu một tác
phẩm văn học dân gian, bản thân việc sử dụng các khái niệm công cụ như cốt
truyện, kết cấu, đề tài, nhân vật…đã là sự áp dụng phương pháp nghiên cứu

6
văn học viết. Ngoài ra truyện thơ mang bản chất folklore nên khi khảo sát,
nghiên cứu luận văn còn áp dụng kiến thức liên ngành giữa khoa folklore học
với khoa dân tộc học.
5.2. Phương pháp hệ thống
Bản thân việc nghiên cứu truyện thơ vượt khỏi cấp độ từng tác phẩm
riêng lẻ để đạt đến những khái quát ở cấp độ thể loại đã đòi hỏi và bao hàm

Theo Từ điển thuật ngữ do PGS. Lê Bá Hán, GS.Trần Đình Sử, GS.
Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (bản in năm 2004 của NXB Giáo dục),
không có mục từ truyện thơ và chỉ có mục từ truyện Nôm với lời giải thích
như sau: “Thể loại truyện thơ dài, rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam,
nở rộ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng
chữ nôm nên được gọi là truyện Nôm” [Tr 372]. Cũng theo các tác giả trên thì
ở Việt Nam các truyện thơ dài như: Truyện Kiều, Tiễn dặn người yêu…được
gọi là truyện thơ, các tác phẩm trữ tình dài được gọi là ngâm khúc.
Về vấn đề truyện thơ Nôm người Việt thì các nhà nghiên cứu trước đây
chia truyện thơ Nôm thành 2 loại “Truyện Nôm hữu danh và truyện Nôm
khuyết danh”. Truyện Nôm hữu danh là loại truyện biết rõ tên tác giả, còn
truyện Nôm khuyết danh là loại truyện chưa biết tác giả là ai. Thực ra lối phân
chia này thuần tuý có tính chất hình thức mà không nói lên một đặc điểm nào
về nội dung hay thể loại. Bởi vì chỉ cần tìm ra tên tác giả của truyện Nôm
khuyết danh nào đó là nghiễm nhiên ta có thể xếp các truyện Nôm vốn khuyết
danh kia vào kho tàng những truyện Nôm hữu danh. Cách phân chia như thế
không phải là việc phân loại khoa học.
Theo quan niệm truyền thống có 2 loại truyện Nôm, các tác phẩm được
gọi là truyện Nôm bác học bao gồm: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Hoa Tiên
(Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện), Sơ Kính Tân Trang (Phạm Thái); các tác
phẩm Phạm Tải - Ngọc Hoa, Trống Trân - Cúc Hoa, Phương Hoa, Lý Công
được gọi là truyện Nôm bình dân thường được viết dựa theo những câu
chuyện cổ tích của ta chứ không phải dựa theo những cốt truyện của Trung
Quốc như truyện Nôm bác học. Truyện Nôm bình dân được sáng tác ra để kể

8
là chính, chứ không phải là để xem, để đọc. Nói chung cách sáng tác của
truyện Nôm bình dân cũng có tính cách tập thể, ở một chừng mực nào đó
giống như cách sáng tác của truyện cổ tích.
Quan niệm thứ hai cho rằng, truyện Nôm bình dân thuộc phạm trù Văn

huy tác dụng trong sinh hoạt tinh thần của nhân dân các dân tộc anh em
nhưng giờ đây những nhân tố mới thể hiện sự tiên tiến của xã hội các dân tộc
ít người nảy sinh những sự phân biệt giàu nghèo, sự đấu tranh giai cấp…
Ngoài ra, sự chi phối ảnh hưởng của môi trường văn hoá xã hội ở miền xuôi
lên, sự giao lưu văn hoá với các dân tộc láng giềng ngày càng mở rộng.
Những đổi mới về mặt xã hội đó, những tác động về mặt văn hoá đó tất nhiên
dẫn đến sự nảy sinh những nhu cầu mới trong sinh hoạt tinh thần của các dân
tộc thiểu số.
Đề tài truyện thơ cũng rất phong phú. Chúng đề cập đến nhiều mặt
trong hiện thực xã hội của các dân tộc anh em hoặc thân phận những đứa trẻ
mồ côi hoặc cuộc sống cực nhục của những người lao động nghèo khổ hoặc
khát vọng lập công cứu nước trả thù nhà của các chàng trai… Đặc biệt là đề
tài về cuộc đấu tranh cho tự do yêu đương, cho quyền sống của người phụ nữ
trong lòng xã hội cũ là một đề tài khá phổ biến. Đó là khát vọng dân chủ thiết
tha và mãnh liệt của quần chúng trong lòng xã hội phong kiến mà quyền sống
con người bị chà đạp, bóp nghẹt nặng nề, tất cả được phản ánh vào trong nền
văn học các dân tộc thiểu số.
Nếu loại hình sử thi anh hùng thuộc phạm trù văn học dân gian thực sự
thì loại hình truyện thơ thể hiện bước phát triển mới của văn học dân gian các
dân tộc ít người. Nó phản ánh sự vận động, biến chuyển có ý nghĩa lịch sử sâu
sắc của văn học dân gian các dân tộc ít người, tiến tới tiếp cận nền văn học
thành văn của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, nền văn hoá Việt Nam do vậy
cũng là nền văn hoá đa dân tộc, truyện thơ các dân tộc thiểu số khá phong phú
và đa dạng. Dân tộc Tày - Nùng có các truyện thơ Nam Kim - Thị Đan, Trần
Châu, Quảng Tân – Ngọc Lương, Kim quế, Chim sáo, Vượt biển…; dân tộc

10
Thái có các truyện thơ: Tiễn dặn người yêu, Chàng Lú - Nàng Ủa, Khăm
Panh…; dân tộc Mường có các truyện thơ: Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Nga - Hai

của GS Phan Đăng Nhật).
a) Truyện thơ về đề tài tình yêu
Truyện thơ thuộc nhóm này có thể kể đến: Tiễn dặn người yêu, Chàng
Lú - Nàng Ủa…của dân tộc Thái; Nam Kim - Thị Đan, Nhân Lăng… của dân
tộc Tày; Nàng Ờm - chàng Bồng Hương, Nàng Nga - Hai mối, Út Lót - Hồ
Liêu… của dân tộc Mường; Nàng Dợ - Chà Tăng… của dân tộc H‟Mông.
Nhóm truyện thơ này có thể phân thành hai bộ phận: Bộ phận còn in
đậm dấu vết của dân ca biểu hiện ở những điều sau: kết cấu tự sự vẫn chưa
chặt chẽ, nhân vật còn phiếm chỉ, còn lưu giữ rất rõ cách sắp xếp của dân ca
giao duyên đối đáp… tiêu biểu cho bộ phận này là truyện thơ Tiễn dặn người
yêu (Thái), truyện Nam Kim - Thị Đan (Tày), Nàng Dợ - Chà Tăng
(H‟Mông).
Bộ phận thứ hai đã mang nhiều tính chất truyện kể hơn, tiêu biểu như
truyện thơ Chàng Lú - Nàng Ủa (Thái), truyện Ú Thêm (Thái).
b) Truyện thơ về sự nghèo khổ
Sử dụng “nguyên liệu nghệ thuật” của những truyện cổ tích về các kiểu
loại nhân vật “người mồ côi”, “người con riêng”, người em út”, “người tài
giỏi đội lốt xấu xí”… một số truyện thơ được xây dựng thành những tác phẩm
thể hiện chủ đề về người lao động nghèo khổ bị áp bức, bóc lột. Đó là những
tác phẩm như: Nàng con côi (Mường), Kim quế (Tày), Vượt biển (Tày) … Từ
truyện cổ tích đến truyện thơ là một bước phát triển cả về nội dung lẫn nghệ
thuật để mở rộng, nâng cao mức phản ánh.
c) Truyện thơ về đề tài chính nghĩa
Nhóm truyện thơ này có rất nhiều điểm tương đồng với thể loại truyện
nôm trong văn học dân tộc Việt cả về nội dung (thiên về khuynh hướng thuyết
giáo đạo đức) và về cách sắp xếp nhân vật thành 2 tuyến đối lập (chính nghĩa
– phi nghĩa), cả về cách kết cấu cốt truyện, cách kết thúc có hậu bằng sự chiến

12
thắng của đạo đức chính nghĩa. Tiêu biểu cho nhóm truyện thơ này là truyện

đồi núi chiếm phần lớn diện tích của tỉnh, riêng miền đồi trung du chiếm một
diện tích hẹp và bị xé lẻ, không liên tục, không rõ nét như ở Bắc Bộ. Do đó
nhiều nhà nghiên cứu đã không tách miền đồi trung du của tỉnh thành một bộ
phận địa hình riêng biệt mà coi các đồi núi thấp là một bộ phận không tách rời
của miền núi nói chung.
Miền đồi núi Thanh Hoá chia làm ba bộ phận khác nhau, bao gồm 11
huyện, đó là: Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước,
Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ và Thạch Thành,
chiếm 2 phần 3 diện tích của cả tỉnh.
Miền đồi núi có khí hậu mát mẻ, lượng mưa lớn, có nguồn lâm sản dồi
dào, tiềm năng thuỷ điện lớn… Và điều đặc biệt quan trọng hơn đây chính là
địa bàn cư trú của các dân tộc ít người với nhiều đặc trưng văn hoá khác nhau,
trong đó có dân tộc Mường. Có thể nói miền núi Thanh Hoá là cái nôi của
người Mường trong cả nước, là một vùng Mường cổ tương đương với Mường
Tây Bắc (Hoà Bình).
Người Mường là một trong số 54 dân tộc anh em trên dải đất Việt
Nam, là dân tộc có một chiều dài lịch sử; sinh sống rải rác khắp nơi trong cả
nước nhưng chủ yếu tập trung ở Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ, Hà Tây, Sơn
La.
Ở Thanh Hoá người Mường phân bố tại các huyện miền núi phía Tây:
Ngọc lặc, Như Xuân, Như Thanh, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Sơn, Quan
Hoá, Mường Lát, Cẩm Thuỷ, Thường Xuân, Thạch Thành và rải rác ở một số
xã ở vùng thấp, miền xuôi: Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Tĩnh Gia, Hà Trung, Triệu
Sơn, Yên Định và thị xã Bỉm Sơn; tập trung đông nhất ở các huyện Cẩm
Thuỷ, Thạch Thành, Bá Thước, Ngọc Lặc; đó là tập đoàn những Mường lớn.
Hầu hết người Mường đến sát thung lũng sông Mã, sông Bưởi và sông Âm,
sông Cầu Chày, sông Chu, sông Mực. Phải nói rằng dân cư Mường thích ứng
với loại địa hình gần như trung du. Sống ở cao nguyên nhưng lại gần nguồn

14

15
cống nạp và phục dịch, còn những người dân là tầng lớp bị trị họ không chỉ bị
bóc lột về kinh tế mà còn phải chịu những áp bức về tinh thần và phải chịu
những hình phạt nặng nề hà khắc. Chế độ này đến sau cách mạng tháng Tám
mới được xoá bỏ nhưng những ảnh hưởng văn hoá ít nhiều còn tồn tại đến tận
ngày nay. Sở dĩ nói như vậy là trong chế độ Lang Đạo, nhân dân đã tạo dựng
và gìn giữ được một nền văn hoá bản địa. Đó là nền văn hoá Việt – Mường.
Đến nay ta còn thấy một hệ thống phong tục tập quán giàu tính nhân văn và
một nền văn hoá dân gian giàu bản sắc. Sử thi Đẻ đất đẻ nước, các truyện thơ,
các loại dân ca xường rang, lễ hội pồn pông, xéc bùa, các loại nhạc cụ, cồng
chiêng, những sản phẩm thổ cẩm của nghề dệt đến nay vẫn còn giá trị.
Làng bản của người Mường xưa kia vừa là đơn vị hành chính vừa là
nơi diễn ra những hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần; nhất là những dịp tết
đến xuân về, những ngày lễ, ngày hội đình đám…Do tính cộng đồng làng xã
bền chặt nên con người nơi đây lại càng gắn kết với nhau và có lẽ cũng từ đây
mà nhiều vốn văn hoá dân gian đã ra đời và được nuôi dưỡng và lưu truyền
cho đến ngày nay.
Đến với xứ Mường người ta thường được nghe câu “Cơm đồ, nhà gác,
nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tiến”. Với từng ấy chữ đã khái quát nên
cảnh sinh hoạt rất đặc trưng của người Mường; nghĩa là: Cơm ăn thì đồ là
chính, nấu là phụ; nhà ở nhà sàn làm theo lời chỉ dẫn của con rùa được mô tả
cụ thể trong sử thi Đẻ đất đẻ nước; nước được vác và đựng trong ống bương,
ống luồng; giết lợn phải thui qua lửa cho sạch lông chứ không dùng nước sôi
và dao để cạo lông; ngày lui là tính ngày chỉ tính từ mồng 4 đến 28 hàng
tháng và tính trở lui; tháng tiến là tính từ tháng 3, không tính từ tháng giêng.
Kinh tế của người Mường chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp; được
phát triển dưới hai hình thức trồng trọt và chăn nuôi, song dựa vào tự nhiên là
chính. Người Mường trồng trọt trên nương rẫy bằng cách chọc lỗ tra hạt, hoặc
tận dụng những nơi có ruộng nước thì dùng sức trâu bò để cày bừa, người ta



17
Bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên, đồng bào Mường còn thờ các vị thần
như: thần núi, thần đất, thành hoàng làng và cả những người có công với bản
làng. Đó là niềm tin, là sự tôn thờ thế giới siêu nhiên bên ngoài cõi trần tục
trong đời sống tâm linh của mình; họ giao cảm với thế giới này bằng “Cảo”-
cách gieo quẻ rất đặc trưng của dân tộc Mường, từ xưa người Mường đã có
chùa thờ Phật như: Chùa Móng, chùa Mèo, chùa Mèn, chùa Rồng, chùa
Trặng… Tuy nhiên người Mường lại tu Phật giữa cuộc đời – Phật tại tâm chứ
không chú ý đến những ngày sóc vọng để cầu kinh niệm phật, theo tư tưởng
giáo lý nhà Phật. Hiểu và thờ Phật của người Mường được bắt nguồn từ chính
cuộc sống, từ cách ứng xử của họ.
Lễ hội người Mường là nơi kết tinh tinh hoa văn hoá dân tộc, ở đây nét
đặc sắc riêng biệt trong quan niệm phong tục, tập quán và trong nền nghệ
thuật truyền thống được biểu hiện một cách rõ rệt và tinh tế dưới nhiều hình
thức hết sức cụ thể, giản dị, thiêng liêng nhưng thuần khiết. Tín ngưỡng và lễ
hội của người Mường thường song hành cùng nhau.
Nói đến lễ hội, lễ tục của người Mường người ta không thể nhắc tới lễ
hội Pồn pôông, Xéc bùa… Xéc bùa thường được diễn ra vào dịp đầu xuân
năm mới; “phường bùa” khoảng 20 – 25 người với một giàn cồng chiêng gồm
12 cái to nhỏ, âm lượng khác nhau đi chúc tết các gia đình trong mường bản.
Lễ hội Pồn pôông (chơi hoa) cũng thường được diễn ra vào cuối xuân hoặc
vào ngày rằm tháng bảy âm lịch. Đây là một tục lệ của người Mường, cũng
như nhiều trò dân gian khác; nó được gắn với một nghi lễ có yếu tố tâm linh.
Trong lễ hội Pồn pôông người ta thường làm cây bông hoa đồ sộ có nhiều
nhánh, nhiều bông sặc sỡ sắc màu được cắm ở nhiều tầng trên thân cây bông.
Trò diễn lễ hội Pồn pôông thường do ông cậu hoặc bà máy chủ trì để thờ các
vị vua ở núi Tản Viên, Ba Vì (Pồn pôông ma vua), hay thờ các chàng trai
trong các bản tình ca của người Mường như: Hai Mối, Hồ Liêu, Bông Hương
(Pồn pôông ma cheenh) và họ diễn các tích của các truyện thơ trên và muốn

Thanh Hoá rất đỗi tự hào khi nhắc tới sử thi Đẻ đất đẻ nước. Đây là tác phẩm
lớn, đồ sộ, có giá trị không chỉ của người Mường mà còn của cả văn hoá dân

19
tộc Việt Nam; nó đã cho chúng ta biết và hiểu được quan niệm của người
Mường về nguồn gốc sự hình thành vũ trụ từ khi chưa có loài người, mọi vật
đều được sinh ra từ cây si, phần tiếp theo sáng tạo ra các giá trị văn hoá của
người Mường là mụ Dạ Dần (mú Dá Dấn), chính lẽ đó mà cây si luôn là biểu
tượng là cây thiêng liêng; còn mụ Dạ Dần trở thành bà tổ, thành nữ thần sáng
tạo trong văn học dân gian, cũng như trong tâm thức của người Mường. Đẻ
đất đẻ nước lan toả, ăn sâu vào nhiều tác phẩm văn học khác của dân tộc
Mường; nó được tồn tại và phát triển, biến hoá xâm nhập vào nhiều bài ca
nghi lễ dân gian Mường và trở thành nguồn tư liệu, chất liệu quý giá cho sự
phát triển văn học Mường về sau. Đẻ đất đẻ nước không chỉ có giá trị văn học
mà còn có giá trị lớn trong đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của người
Mường.
Các truyện thơ: Nàng Nga - Đạo Hai Mối, Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Ờm
- Chàng Bồng Hương…đều được lưu truyền rộng rãi ở các vùng mường xứ
Thanh. Những truyện thơ này được kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố tự sự và trữ
tình nên không chỉ sống trong lòng người bằng các bài hát ru, hát kể chuyện
thơ, được phát huy trong những bài ca đám cưới. Không chỉ vậy, nó còn ảnh
hưởng đến sinh hoạt văn hoá, tập quán ứng xử của người dân xứ Mường.
Trên đây, người viết giới thiệu khái quát một số giá trị văn hoá của
người Mường Thanh Hoá. Văn hoá truyền thống của người Mường là mạch
nguồn nuôi dưỡng tâm hồn người dân, song hành cùng cuộc sống con người,
là niềm tự hào của dân tộc. Trong đó truyện thơ là một bộ phận quan trọng
trong đời sống tinh thần không thể thiếu của người Mường Thanh Hoá.
1.3.2. Truyện thơ Mƣờng Thanh Hoá
1.3.2.1. Giới thiệu về truyện thơ Mƣờng Thanh Hoá
Kho tàng văn học dân gian của dân tộc Mường trên đất Thanh Hoá rất

Ngọc Lặc và người Mường ở tỉnh Hoà Bình cũng lưu truyền câu chuyện này.
Chính vì vậy mà lời các văn bản được các nhà văn sưu tầm, nghiên cứu tập
hợp cũng có nhiều chỗ không giống nhau, phần tóm tắt và đánh giá dưới đây

21
là theo tác giả Minh Hiệu (Tuyển tập thơ Mường Thanh Hoá - NXB KHXH -
1986).
Truyện kể rằng: Nàng Út Lót vừa đẹp, vừa xinh lại thông minh, là con
gái thứ ba của Đạo Tu Liêng và bà Cun Táo. Thấy bố lo lắng buồn phiền vì
nỗi không có con trai thay mặt mình đi chầu vua Kẻ chợ, nàng xin mặc giả
trai để làm việc đó, dọc đường nàng gặp Hồ Liêu, con một Lang Đạo khác
cũng đi chầu vua, hai người kết làm bạn “Chung lưng, chung lộ, chung cỗ,
chung phòng”. Trong những ngày ở kinh kỳ, không những vua Kẻ chợ mà cả
Hồ Liêu cũng nghi ngờ rằng nàng Út Lót giả trai. Nhờ thông minh, bình tĩnh
Út Lót dã đánh lạc hướng sự theo dõi của những người đó. Hết hạn chầu vua,
trên đường trở về quê Út Lót mới bỏ lốt cải trang trở lại nguyên hình một cô
gái dịu dàng, lộng lẫy, hai người yêu nhau, thề nguyền vàng đá, rồi tạm chia
tay nhau hẹn ngày gia đình Hồ Liêu sang nhà dạm hỏi chính thức.
Không ngờ ở nhà cha mẹ Hồ Liêu đã cưới vợ cho chàng. Hồ Liêu tìm
hết cách cưỡng lại vẫn không nổi nên đau ốm rồi thất tình rồi chết. Nhiều
người đến dạm hỏi Út Lót nàng đều từ chối. Về sau nàng đành chiều theo ý
cha mẹ nhưng chỉ nhận lời của đạo Cun Cun là người ở về hướng mồ chôn Hồ
Liêu. Ngày rước dâu khi đi qua mộ người yêu, nàng xin xuống thăm mộ
chàng lần cuối, tới nơi nàng cất tiếng gọi Hồ Liêu mở nắp săng, đón nàng vào,
rồi cửa mộ khép lại như cũ. Hai họ mất cô dâu bơ vơ ngơ ngẩn biến thành đàn
bướm trắng, còn chú rể tiếc Út Lót quá đỗi nên biến thành con cầy cun nằm rũ
trên cây không thiết gì ăn uống.
Truyện thơ Út Lót - Hồ Liêu đã thu hút được cảm tình của người nghe,
người đọc suốt từ đầu đến cuối câu chuyện, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Sức
hút đã toát ra từ nội dung lành mạnh, nhân đạo, từ hình tượng Út Lót khá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status