Đặc điểm truyện thơ trữ tình Mường - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thò Thùy Trang
PHỤ LỤCĐẶC ĐIỂM
TRUYỆN THƠ TRỮ TÌNH MƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008 LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Thò Ngọc Điệp suốt thời
gian qua đã nhiệt tình, chu đáo chỉ dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này.
Xin cảm ơn quý Thầy, Cô Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM
đã tận tâm hướng dẫn, giảng dạy chúng tôi trong thời gian qua.
Xin cảm ơn văn phòng Khoa Văn, Phòng Khoa học Công nghệ -
Sau Đại học Trường Đại Học Sư Phạm TP. HCM; Các cấp lãnh đạo,
Sở Giáo Dục - Đào tạo tỉnh An Giang, Trường THPT Chu Văn An -
An Giang cùng gia đình và bạn bè… đã tạo mọi điều kiện thuận lợi,
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.

Tác giả luận văn.
2.1.2. Sự bóc lột, áp bức của chế độ lang đạo Mường 42
2.1.3. Cuộc sống xa hoa của tầng lớp lang đạo Mường 46
2.1.4. Tư tưởng trọng nam khinh nữ 50
2.1.5. Quyền thế cha mẹ trong tình yêu con trẻ 56
2.1.6. Một số phong tục, tập quán Mường 62
2.2. Truyện thơ trữ tình Mường mang đậm giá trò nhân đạo,
nhân văn 65
2.2.1. Ca ngợi những con người nhân ái 65
2.2.2. Những mối tình cao đẹp 71
Chương 3. Đặc điểm nghệ thuật của truyện thơ trữ tình Mường 91
3.1. Cốt truyện truyện thơ trữ tình Mường 91
3.1.1. Sự hình thành cốt truyện 91
3.1.2. Mô hình cốt truyện 98
3.1.3. Một số môtip thường gặp trong cốt truyện 104
3.2. Nhân vật truyện thơ trữ tình Mường 112
3.2.1. Nhân vật nữ chính 115
3.2.2. Nhân vật nam chính 122
3.3. Ngôn ngữ truyện thơ trữ tình Mường 125
3.3.1. Các biện pháp tu từ nổi bật 125
3.3.2. Các nhóm dòng thơ chức năng 130
3.3.3. Ý nghóa các con số trong truyện thơ trữ tình Mường 141
KẾT LUẬN 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153


Bùi Thiện sưu tầm và văn bản của Đinh Văn Ân
sưu tầm 31
Bảng 1.3. So sánh sự khác nhau giữa văn bản của Bùi Thiện
và văn bản của Minh Hiệu sưu tầm 34
Bảng 1.4. So sánh sự khác nhau giữa văn bản của Cao Sơn Hải
sưu tầm và văn bản của Minh Hiệu sưu tầm 35
Bảng 3.1. So sánh sự gần gũi giữa lời thơ trong TTTT Mường
và lời dân ca Mường 93
Bảng 3.2. Thống kê mô hình cốt truyện truyện thơ các dân tộc 100
Bảng 3.3. Thống kê tần số xuất hiện các con số trong TTTT Mường 141
MỤC LỤC

Trang
Phụ lục 1. Bảng tổng hợp các môtip xuất hiện trong truyện thơ
trữ tình Mường 1
Phụ lục 2. Bảng thống kê tần số xuất hiện thủ pháp so sánh trong
truyện thơ trữ tình Mường 3
Phụ lục 3. Bảng thống kê tần số xuất hiện biện pháp điệp trong
truyện thơ trữ tình Mường 10
Phụ lục 4. Một số đoạn thơ đặc sắc trong truyện thơ trữ tình Mường 54
1. Ú t Lót - Hồ Liêu 54

1. Lý do chọn đề tài.
Bảo tồn di sản văn hóa truyền thống là vấn đề chung của các dân tộc
thiểu số và cũng là vấn đề đặt ra đối với người Việt, trong bối cảnh mà các
châu lục, quốc gia, tộc người, tôn giáo đều phải đối mặt với quá trình toàn cầu
hóa và sự gia tốc của nó. Làm thế nào để hội nhập mà không hòa tan. Làm thế
nào để giữ gìn được những đặc trưng văn hóa của từng tộc người. Vấn đề bảo
tồn văn hóa dân tộc Mường có phần khác biệt hơn so với các dân tộc thiểu số
khác trên đất Việt Nam
. Vì người Mường vốn chung huyết thống, ngôn ngữ,
văn hóa… với người Việt ở thời cận đại. Vì chung cội nguồn nên những cái
gọi là tiến bộ, hiện đại hóa… rất dễ làm mất đi bản sắc văn hóa, bản sắc dân
tộc độc đáo của tộc người Mường. Các giá trị văn hóa bản địa của người
Mường cần phải được bảo vệ, đồng t
hời phát huy những giá trị tinh hoa của
dân tộc Mường còn sót lại trong văn hóa tộc người, đặc biệt là trong lĩnh vực
văn học dân gian (VHDG). Văn học dân gian là một mảng rất rộng, nó bao
trùm tất cả các giá trị cổ xưa của tộc người Mường.
Truyện thơ là loại hình văn học truyền m
iệng rất phổ biến trong nền
VHDG các dân tộc ở Việt Nam và cả ở Đông Nam Á. Truyện thơ chứa đựng
những giá trị văn hóa lớn, những vấn đề đặc trưng của một dân tộc. Hiện nay
việc giữ gìn, phát huy những di sản văn hóa, văn học, đặc biệt là thể loại
truyện thơ các dân tộc thiểu số đang đặt ra nhiều vấn đề cho ngành folklore
học Việt Nam. Những biến đổi về ki
nh tế - văn hóa - xã hội thời kỳ đổi mới
đang gia tăng gấp bội nguy cơ thất tán, mai một những sáng tạo văn học quý
giá này. Đó là lý do khiến chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm truyện thơ trữ tình
Mường” với m
ong muốn góp phần giữ gìn, phát huy di sản văn hóa truyện thơ
của dân tộc Mường, cũng chính là làm giàu thêm vốn văn hóa truyện thơ các

Hương”, vì đó là bản cáo trạng sắc sảo. Tác giả bộc bạch những tâm tình rất
chân thành với độc giả: “Tôi trích truyện thơ Nàng Ờm - Bồng Hương đã
nhiều mà vẫn còn muốn trích nữa”. Lời tâm tình này đã mặc nhiên công nhận
đây là một tuyệt tác của người Mường.
Năm 1989, tác phẩm “Thơ một thời” của giáo sư Hoàng Như Mai được
Nhà xuất bản Tiền Giang ấn hành, trong đó có một tiêu đề gây xúc động độc
giả, “Một bản tình ca não nùng của dân tộc Mường”. Hoàng Như Mai đã phát
hiện những tinh túy, đặc sắc về tình cảm lứa đôi của dân tộc Mường, lời thơ
mộc mạc, giản dị, chân thành đã lôi cuốn người đọc. Hoàng
Như Mai nhan
định truyện thơ “Nàng Ờm - Bồng Hương” là “Một công trình nghệ thuật
tuyệt mỹ, để nói lên một lời cầu xin cho con người được giải phóng, để không
ai phải chết vì mối tình tuyệt vọng, mặc dù cái chết ấy có khi cung cấp cho
văn chương những tác phẩm bất hủ”.
Năm
1995, trong Lời giới thiệu quyển Tuyển tập truyện thơ dân gian
Mường, tác giả Bùi Thiện nhận xét TTTT Mường:
Cùng với phương pháp tự sự, dù thần thoại hay hiện thực đều kết
hợp với chất trữ tình được miêu tả nhẹ nhàng, tươi mát, dí dỏm mà
sâu lắng gây được cảm xúc mạnh mẽ. Nghệ thuật cấu trúc thơ kết
hợp giữa vần chân với vần lưng, điệp ngữ và gián cách… hợp với
khi sử dụng, họ có thể cất giọng ngâm nga thành giai điệu, hoặc
ông m
o hát theo điệu mo kể chuyện.
Năm 1999, trong quyển VHDG Việt Nam do Lê Chí Quế chủ biên, tác
giả Võ Quang Nhơn cho rằng:
Truyện thơ trữ tình chủ yếu nêu lên vấn đề hạnh phúc lứa đôi trong
phạm vi sinh hoạt gia đình. Nhưng vấn đề truyện thơ trữ tình nêu
lên có ý nghĩa phổ biến và có tính nhân đạo sâu sắc;
đó là tiếng nói

Bên cạnh đó, công tác sưu tầm truyện thơ Mường được quan tâm
hơn so
với truyện thơ các dân tộc ít người khác. Với sự ra đời của các công trình về
truyện thơ Mường như: Truyện thơ Mường năm 1963, Nxb Văn Học được
Minh Hiệu - Hoàng Anh Nhân giới thiệu; Tráng Đồng năm 1976, Nxb Văn
Hóa được Mai Trí - Bùi Thiện giới thiệu; Tuyển tập truyện thơ Mường (3 tập)
năm 1986, Nxb KHXH, Hà Nội; Tuyển tập truyện thơ dân gian Mường năm
1995, Nxb Văn hóa dân tộc; Tuyển tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu so
- Phần t
ruyện thơ tập IV, 1999, Vien Văn học, Nxb Giáo dục… đã gợi mở
những vấn đề mới về một di sản truyện thơ còn ít được biết đến của dân tộc
Mường. 4. Phạm vi đề tài.
Do năng lực nghiên cứu còn hạn chế và thời gian nghiên cứu hạn hẹp nên
việc đi sâu khai thác tất cả các TTTT Mường là điều không thực hiện được.
Trong khả năng cho phép, người viết chỉ tập trung tìm
hiểu đặc điểm TTTT
Mường được chọn lọc qua bốn tác phẩm tiêu biểu:
Út Lót - Hồ Liêu
Vườn hoa núi Cối
Nàng Ờm - Bồng Hương
Nàng Nga - Hai Mối.
Tất cả được tuyển chọn trong “Tổng tập Văn Học Dân Gian các dân tộc
thiểu số” (Tập IV - Truyện thơ) của Viện Văn học, Nxb Giáo dục, 1999.
5. Phương pháp thực hiện đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng những phương pháp
sau:
- Phương pháp t

Chương 1. Tổng quan về tộc người Mường và truyện thơ trữ tình
Mường.
Chương 2. Đặc điểm nội dung của truyện thơ trữ tình Mường.
Chương 3. Đặc điểm nghệ thuật của truyện thơ trữ tình Mường.
Ngoài ra còn có Thư mục tham khảo và 4 phần phụ lục sau:
Phụ lục 1. Bảng tổng hợp các môtip xuất hiện trong truyện thơ
trữ tình Mường.
Phụ lục 2. Bảng thống kê tần số xuất hiện của biện pháp nghệ
thuật so sánh trong truyện thơ trữ tình Mường.
Phụ lục 3. Bảng thống kê tần số xuất hiện của biện pháp điệp ngữ
trong truyện thơ trữ tình Mường.

Phụ lục 4. Một số đoạn thơ tiêu biểu của truyện thơ trữ tình
Mường.


nh từ NƯỚC (BIỂN) lên xây dựng
nguồn cội cho một quyền lực chính trị và pháp quyền, tham dự vào
việc hình thành cư dân Việt Nam từ thời tiền sử, là một ám thị sớm
nhất về một quan niệm rằng: Người Việt Nam là một nhân dân riêng
biệt và tự ý thức. Ý tưởng đó được tạo hình ở nghệ thuật Đông Sơn,
trên trống đồng với chim biển và các loài thủy tộc bao quanh các con
thuyền chuyên chở chiến sĩ [103].

Dân tộc Mường cư trú trên một địa bàn rộng suốt từ phía Tây Hoàng Liên
Sơn, Vĩnh Phú, Sơn La, Hòa Bình, Hà Nam Ninh vào đến tận phía Tây Thanh
Hóa và Nghệ An. Căn cứ vào nhiều ngành khoa học, người Mường và người
Kinh vốn là anh em cùng một ông tổ trực tiếp, là người Lạc Việt thời Hùng
Vương. Đồng bào Mường có cuộc sống của một cư dân nông nghiệp vùng
bán sơn địa. Đó là cuộc sống ổn định, quy củ, không được thiên nhiên ưu đãi
như vùng đồng bào Thái nhưng cũng không quá gay go như vùng đồng bào
Kinh “đất chật người đông”. Đồng bào Mường có lối sống giản dị, thiết thực,
ưa thích những biểu hiện rõ ràng, chất phác. Những nét đặc trưng ấy được t
hể
hiện ngay trong phong cách âm nhạc Mường, được GS. Tô Ngọc Thanh nhận
xét: “Giản dị mà không đơn sơ, thiết thực nhưng không thực dụng, rõ ràng
khúc chiết nhưng không thô thiển, chất phác mà không nông cạn”[
83].
Nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào các tài liệu khoa học khác nhau đã đi
đến nhận định: Người Việt và người Mường vốn có chung một nguồn gốc. Về
nhân chủng, hai nhóm Việt - Mường cùng chung những đặc điểm nhân chủng
trong nhóm Nam Á thuộc tiểu chủng Môngôlôit Phương Nam. Tuy vấn đề về
nguồn gốc người Việt - Mường hiện nay còn tiếp tục nghiên cứu, song hầu
hết các nhà khoa học đều cho rằng: Họ là những cư dân bản địa, tổ tiên n
gười
Việt Mường là người Lạc Việt, chủ nhân của văn hóa Đông Sơn nổi tiếng. Do

1.1.2.1. Kinh tế
Người Mường làm ruộng từ lâu đời và sống định canh định cư. Nghề
nông chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và lúa là cây lương thực chủ
yếu.
Người Mường trồng lúa khá nhiều trên ruộng bậc thang.Trong công việc
đồng áng, có thể nói người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thủy lơi nhỏ.
Đồng bào làm mương, phai để lấy nước. Nhiều nơi thuộc tỉnh Vĩnh Phú, Hà
Sơn Bình còn dùng xe cọn để đưa nước vào ruộng. Cọn có thể đưa nước lên
cao năm, sáu mét. Nhìn chung, hệ thống thủy lợi rất đơn giản nhưng có hiệu
quả cho trồng trọt. J. Cuisinier nhận xét: “Các phương pháp dẫn nước tưới
ruộng Mường nếu như không phải là những phương pháp cải tiến, thì
cũng
đáp ứng đòi hỏi của ngành trồng trọt” [5, tr. 172]
.----------------------
(1) Đó là mường Bi, mường Vang, mường Thàng, mường Động:
bốn vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Hòa Bình.
Người Mường chăn nuôi trâu bò chủ yếu lấy sức kéo trong nông nghiệp,
trong nghề rừng và để lấy phân bón ruộng. Trâu được nuôi nhiều hơn bò và
được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong cưới xin để trao đổi hay bán cho
miền xuôi. Săn bắn là một hoạt động trong đời sống của người Mường. Săn
bắn kết hợp với sản xuất để chống thú rừng, bảo vệ mùa màng. Săn bắn không
những là một nguồn lợi cung cấp thức ăn m
à còn là một thú vui. Đánh cá là
một nghề phụ trong gia đình và tương đối phát triển ở những khu vực ven các
con sông và suối lớn. Các công cụ đánh cá khá đa dạng: chài, lưới, vó, đơm,
đó, đăng… J. Cuisinier nhận xét về nghề đánh cá và săn bắn: “Nghề đánh cá,
tuy không có giá trị to lớn đối với người Mường, song lại đem đến cho họ

].
Quý tộc: Lang
cun, Lang đạo
Bình dân: “Jân”
(những người
được nhận ruộng
công)
Tầng lớp gia nô:
“Mọi Bi”
Tầng lớp bán tự
do: “Tứa rọong”
(chỉ canh tác
nương rẫy)

Nơi cư trú của người Mường được gọi bằng Quêl hoặc xóm, có nghĩa là
làng. Làng là cơ sở của xã hội Mường gồm nhiều tiểu gia đình phụ quyền mà
tế bào gia đình là cha mẹ và con cái, trong đó quyền thế tập thuộc về con
trưởng. Khu vực đất đai thiên nhiên được xác lập bền vững được các thành
viên của làng biết rõ và các thành viên của làng khác tôn trọng.
Trong chế độ lang đạo, tính chất đẳng cấp được bộc lộ rõ rệt. Ở Hòa
Bình, các dòng họ nắm
quyền thống trị lâu đời là Đinh, Quách, Bạch, Hoàng,
Hà, Xa… Trong đó, Đinh và Quách là những họ có thế lực mạnh nhất. Lang
đạo theo chế độ thế tập. Lang cun là con trưởng của chi trưởng, trên danh
nghĩa đứng đầu mường, cai quản xóm chiềng là xóm lớn nhất, ruộng đất
nhiều. Còn con thứ hoặc con trưởng ngành thứ, cai quản các xóm nhỏ gọi là
lang xóm
hoặc lang đạo. Để duy trì quyền lợi, “nhà lang” đề ra các quy định
và quản lý dân theo các quy định đó. Lang là người đứng đầu về mặt tôn giáo,
dân mường coi lang là người đại diện tiếp xúc với thần thánh. Vì thế, trong

Thượng, Minh Quang, Ba Trại huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây: 68 cặp chồng
Mường vợ Việt, 63 cặp chồng Việt vợ Mường.
1.1.2.3. Văn hóa
Franz Boas, nhà nhân chủng học người Mỹ đã từng khẳng định: “Mỗi
nền văn hóa là một tồn tại độc đáo, hơn thế là một của báu độc đáo; sự biến
mất của bất cứ nền văn hóa nào cũng làm cho chúng ta nghèo đi”
[107, tr. 12]. Di sản văn hóa dân tộc là cơ sở để dân tộc hòa nhập với tiến
trình giao lưu quốc tế về mọi mặt nhưng không tự tha hóa m
ình mà còn làm
phong phú, sâu sắc cho chính mình trong sự đối thoại với những nền văn hóa
khác, góp phần làm phong phú cho kho tàng di sản chung của nhân loại.
Thành tựu nghiên cứu khảo cổ học đã cung cấp những cơ sở khoa học,
giúp ta hiểu biết con đường phát triển của người tiền sử. Đó là văn hóa
Hòa
Bình, giai đoạn sớm của thời đại mới cách chúng ta ngày nay chừng 30.000
năm - 5000 năm. Di tích văn hóa Hòa Bình phát hiện được nhiều ở vùng chân
núi rộng lớn Việt Nam, tập trung hai tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình. Thanh Hóa
có 32 địa điểm, Hòa Bình có 72 địa điểm và rải rác trên địa phận tỉnh Ninh
Bình, Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La.
Ý thức cộng đồng trong dân tộc Mường hình thành rất sớm, ý thức ấy là
linh hồn của chủ thể sáng tạo xây dựng xã hội. Nó
định vị các mối quan hệ
giữa con người với thiên nhiên, con người với con người, con người với thần
linh.

a.
Văn hóa ứng xử giữa con người với thiên nhiên:
Đó là việc bảo vệ chăm sóc kho nguyên liệu ăn uống mà thiên nhiên ban
tặng đã trở thành ý thức của cả cộng đồng. Người Mường muốn ăn măng nứa,
măng giang, măng luồng nhưng rừng chưa mở cửa thì dù măng có mọc ngang

bên mâm cơm nhưng chủ nhà bao giờ cũng khiêm tốn nói: “Chỉ có tí cơm đãi
khách, chút rượu nhạt mời khách”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status