dạy học thơ hồ chí minh ở lớp 7 và 8 trung học cơ sở (miền núi) theo đặc trưng thơ trữ tình - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
 ĐINH THỊ LUYẾN
DẠY HỌC THƠ HỒ CHÍ MINH Ở LỚP 7 VÀ 8
THCS (MIỀN NÚI) THEO ĐẶC TRƢNG
THƠ TRỮ TÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN TIẾNG VIỆT

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Nguyễn Huy Quát Thái Nguyên - 2010 Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS-TS. Nguyễn Huy Quát - người đã
hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, khoa Sau Đại
học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

3.3. Một vài kết luận đƣợc rút ra sau khi thực nghiệm 81
KẾT LUẬN 82
Tài liệu tham khảo 85

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1. Thơ văn Hồ Chí Minh giữ vị trí quan trọng trong văn học dân tộc
nói chung và văn học nhà trƣờng nói riêng.
Sinh thời, Hồ Chí Minh không xem mình là một nhà thơ. Ngƣời không
coi thơ văn là phƣơng tiện để lập thân, để “lưu danh hậu thế”. Ngƣời đã từng
tán thƣởng câu thơ của Viên Mai:
“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,
Lập thân tối hạ thị văn chương”.
Tuy quan niệm về thơ nhƣ thế nhƣng thơ của Ngƣời lại là những tác phẩm vô
giá trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại.
Có ngƣời nhận xét: Chất thép và chất tình luôn hoà quyện trong thơ,
nhất là thơ chiến khu của Hồ Chí Minh. Thật vậy, không ít bài thơ của Hồ Chí
Minh vừa đậm chất trữ tình lại vừa mang tính cách mạng, tính tƣ tƣởng cao.
Chính vì thế, đã từ lâu thơ Hồ Chí Minh có mặt trong sách giáo khoa từ bậc
tiểu học đến bậc đại học. Thơ Hồ Chí Minh đƣợc đƣa vào chƣơng trình SGK
trong nhà trƣờng với mục đích giáo dục cao đẹp đó là: góp phần bồi dƣỡng
tình cảm thẩm mỹ và cách làm ngƣời cho thế hệ trẻ Việt Nam.Và dạy học
sinh cách làm ngƣời qua thơ Bác phải là một quá trình lao động nghệ thuật
không mệt mỏi, rất công phu của nền giáo dục Việt Nam.
1.2. Thơ Hồ Chí Minh trong chƣơng trình sách giáo khoa Ngữ Văn
THCS có tập “Nhật ký trong tù” (trích giảng) và ba bài thơ Ngƣời viết ở chiến
khu Việt Bắc: Tức cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng.

Thơ ca chiến khu của chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Thanh Niên, 2000,
của hai tác giả Vũ Châu Quán và Nguyễn Huy Quát là những phát hiện,
những thông tin khoa học đáng quý về thơ Bác trong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp gian khổ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

3
Là một ngƣời quan tâm đến vẻ đẹp trong thơ của Hồ Chủ tịch, tác giả
Thƣ Trai đã có bài viết khá sắc sảo về bài thơ Nguyên Tiêu với nhan đề Trăng
xưa ngời sáng với xuân này đăng trên tạp chí Thơ, số 1, năm 2006. Trong bài
viết của mình, tác giả phân tích, bình giá vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại trong bài
thơ “Nguyên Tiêu” của Hồ Chí Minh.
Vấn đề hoàn cảnh ra đời của những bài thơ Bác viết ở chiến khu Việt
Bắc những năm chống Pháp cũng đƣợc nhiều ngƣời quan tâm. Với nhan đề
“Cách mạng, trăng và thơ”, Văn nghệ số 3 (20-1-2007) của Hoàng Quảng
Uyên và bài báo “ Tìm hiểu xuất xứ hai bài thơ của Bác”, Văn nghệ số 1 (6-
1-2007) của tác giả Trần Hành, đều nói về hoàn cảnh ra đời của hai bài thơ
Cảnh rừng Việt Bắc và Cảnh khuya. Tuy nhiên, những suy luận của hai tác
giả trên vẫn mang tính chủ quan, thiếu chứng cứ lịch sử và chƣa có sức thuyết
phục ngƣời đọc. PGS.TS. Nguyễn Huy Quát đã có bài trao đổi, đính chính về
vấn đề này qua bài “ Bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc và Cảnh khuya đƣợc ra đời
ở đâu?” [30, 151 - 158].
Là một nhà giáo, một ngƣời say mê nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh,
tác giả Nguyễn Huy Quát có một công trình khoa học mang tên Nghiên cứu
văn học và đổi mới phương pháp dạy học văn, Nxb ĐHTN, 2008. Cuốn sách
này đã có những bài nghiên cứu về thơ ca chiến khu của Hồ Chí Minh. Một
phần trong công trình nghiên cứu là cảm nhận về những bài thơ trữ tình ở
chiến khu của Bác, và tác giả đã khảo cứu, sƣu tầm những bản dịch khác nhau
về bài thơ Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh.

phân tích những bài thơ cụ thể, bao gồm phần thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt -
những bài thơ tiêu biểu có giá trị về nhiều mặt.
Ở cuốn sách này, mảng thơ trữ tình của Hồ Chí Minh đƣợc nghiên cứu
với nhiều bài tiêu biểu. Trong đó có ba bài thơ đã nói ở luận văn này: “Cuộc
đời cách mạng thật là sang” (Tức cảnh Pác Bó), “Chƣa ngủ vì lo nỗi nƣớc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

5
nhà” (Cảnh khuya), “Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền” (Nguyên tiêu
- Rằm tháng giêng).
Khi bàn về giải pháp dạy học thơ trữ tình hiện đại với bài viết “Đọc -
hiểu thơ trữ tình hiện đại Việt Nam trong SGK Ngữ Văn 7”(2003,Văn học tuổi
trẻ số 12) TS.Nguyễn Trọng Hoàn có đề cập đến việc hƣớng dẫn học sinh đọc
- hiểu thơ trữ tình hiện đại Việt Nam trong đó có hai bài Cảnh khuya và bài
Rằm tháng giêng, nhƣng mới chỉ dừng lại ở những gợi ý cơ bản, chƣa đi vào
khai thác sâu và có những câu hỏi gợi dẫn xác thực.
Vấn đề hoàn cảnh cảm hứng của thơ trữ tình đã đƣợc một số nhà nghiên
cứu chọn làm xuất phát điểm cho quá trình tìm hiểu và phân tích thơ Hồ chủ
Tịch. “Đọc - hiểu thơ trữ tình trong mối quan hệ với hoàn cảnh cảm hứng của
tác giả” của tác giả Nguyễn Huy Quát là một bài viết thể hiện sâu sắc điều đó.
[30, 232]. Ở bài viết của mình, tác giả đã xác minh hoàn cảnh ra đời một số
bài thơ của Bác, trong đó có bài Cảnh khuya. Tác giả khẳng định: “Hoàn
cảnh cảm hứng là yếu tố có liên quan mật thiết với nội dung tư tưởng và nghệ
thuật của bài thơ. Đọc hiểu, phân tích, bình giá thơ trữ tình trong nhà trường
cần phải hiểu rõ điều này để khỏi làm mất đi giá trị đặc sắc của nó.” [30,
232]
Mặc dù những bài thơ Bác viết ở chiến khu đã đƣợc nhiều nhà giáo dục
quan tâm nghiên cứu, nhƣng vấn đề dạy những bài thơ đó theo đặc trƣng thể
loại vẫn có những khía cạnh cần đƣợc tiếp tục giải quyết. Trong đó, mục đích

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
5.2. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh tài liệu
5.3. Phƣơng pháp khảo sát thực tế
5.3.Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
6. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

7
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài.
Chƣơng 2: Thực trạng dạy học thơ Hồ Chí Minh ở lớp 7 và 8 THCS
(miền núi) và một vài định hƣớng cần thiết đối với giáo viên.
Chƣơng 3: Thiết kế thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm.

Muốn cho lời nói diễn đạt triệt để tình ý của mình sao cho có hiệu quả, có sức
mạnh, có tác động sâu sắc thấm thía; Muốn diễn tả hết những ngõ sâu của xúc
cảm tâm hồn, ngƣời ta thƣờng dùng những lời nói có sức lay động lòng
ngƣời. Lời nói đó đã trở thành thơ. Ngƣời nói đó trở thành thi sĩ. Tuy nhiên,
thơ khác lời ở chỗ: Thơ không chỉ nói ý mà còn tỏ tình, không những thông
tin mà còn truyền cảm. Vì vậy, thơ phải phát huy tất cả khả năng của ngôn
ngữ để đạt đƣợc mục đích ấy.
- Thơ có nhiều cách tạo nên hình ảnh. Hình ảnh đập vào trí tƣởng tƣợng và
trí tuệ của ta gây nên những chuỗi liên tƣởng tạo hình. Vì vậy, thơ có đặc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

9
trƣng “Thi trung hữu hoạ”. Cách tạo hình ảnh trong thơ do ngôn ngữ cung cấp
hoặc bằng miêu tả trực tiếp. Ngôn ngữ có nhiều cách chuyển nghĩa tạo ý. Thơ
thƣờng dùng cách đó để miêu tả cuộc sống. Cái hay của thơ thƣờng là ở chỗ
“ý tại ngôn ngoại”.
- Thơ có nhiều cách tạo nhạc điệu
“Thơ là lời nói bằng ngôn ngữ cách điệu hoá về mặt âm thanh. Sự cách
điệu hoá bằng cách này hay cách khác về âm thanh tạo nên cái mà ta thường
gọi là nhạc điệu của thơ. Nhạc điệu thấm vào cảm xúc và tình cảm cuả ta tạo
nên một giá trị biểu cảm của thơ.” [ 4, 33]
Các cách tạo ra nhạc điệu của thơ là do bản thân ngôn ngữ cung cấp cho
thơ. Âm thanh, nhịp điệu, vần, vốn có trong tiếng nói của con ngƣời nhƣng
chỉ khi lời nói muốn phát đi sức mạnh tình cảm và hiệu quả tâm lý thì vai trò
của các yếu tố đó mới tăng lên. Khi lời nói trở thành thơ, thành lời văn tức là
lời nói nghệ thuật thì vai trò của chúng càng đặc biệt quan trọng.
Từ ba đặc trƣng cơ bản về thơ nhƣ trên, tác giả Trần Thanh Đạm đã lấy
quan niệm của nhà thơ Sóng Hồng để tóm tắt một định nghĩa về thơ: Thơ là
sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp…Thơ là một hình thái

Có thể phân loại thơ trữ tình theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào
truyền thống văn học cụ thể.
Nếu nhƣ trƣớc đây, trong văn học châu Âu ngƣời ta phân loại thơ trữ
tình dựa vào cảm hứng chủ đạo gồm có: bi ca, tụng ca, thơ trào phúng, thì
ngày nay, ngƣời ta dựa vào đối tƣợng đã tạo nên cảm xúc của nhà thơ hoặc
nhân vật trữ tình mà phân chia thành: thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình phong
cảnh, thơ trữ tình thế sự, thơ trữ tình công dân.
Nhƣng tất cả các cách phân loại trên cũng chỉ là tƣơng đối, đơn thuần
cũng chỉ là cách phân loại để giúp ngƣời nghiên cứu có thể phân biệt các loại
thơ trữ tình một cách dễ dàng hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

11
b) Đặc điểm của thơ trữ tình.
Dƣới góc độ lý luận, thơ trữ tình có những đặc điểm sau:
- Xét ở phƣơng diện đặc trƣng nội dung, thơ trữ tình có khả năng: “Biểu
hiện tư tưởng, tình cảm của con người đối với thế giới, là sự hiện diện của cái
tôi, là sự tự ý thức của chủ thể.” [11,106]
Cái tôi cá nhân, bản ngã của nhà thơ đƣợc thể hiện trong thơ. Nhưng không
nên nghĩ rằng thơ trữ tình biểu hiện thế giới chủ quan, cá nhân mà khái quát
những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh rộng rãi. Ta có thể nhận ra một cái tôi, một
tƣ tƣởng, tình cảm mang dấu ấn cá nhân hoà lẫn trong nhân loại bao la, rộng lớn.
- Ngôn ngữ trong thơ trữ tình.
Thơ trữ tình là một kiểu ngôn ngữ đặc biệt, khác với các thể loại khác.
“Đây là một kiểu ngôn ngữ đặc biệt mà các đặc điểm của nó như phân dòng,
điệp vần, ngắt nhịp, ngữ pháp trong câu thơ, nhiều hình ảnh ví von, ẩn dụ,
điển cố,… đều nhằm mục đích thể hiện sắc thái xúc cảm, tư tưởng không thể
nói được theo cách thông thường .” [11,107].

tâm trạng trong tác phẩm.
- “Tác phẩm thơ trữ tình thể hiện những cảm xúc thơ, tức là những cảm
xúc trƣớc tính phổ quát vũ trụ và lý tƣởng nhân sinh tạo nên đời sống tâm hồn
con ngƣời.” [10,107].
Các ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu về thơ trữ tình đều gặp nhau ở chỗ:
thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, là tiếng nói, là khúc hát của tâm hồn. Tố
Hữu đã dùng hai chữ “điệu hồn” để nói về tiếng thơ: “Thơ là tiếng nói đồng ý,
đồng tình, tiếng nói đồng chí”. Trong ý kiến này, Tố Hữu không chỉ khẳng định
tính chất chủ quan của tình cảm, cảm xúc trong thơ mà còn nhấn mạnh đến sự
đồng cảm, đồng điệu giữa chủ thể nhà thơ và ngƣời tiếp nhận, đó là điều cần chú
ý khi tìm hiểu, phân tích tác phẩm thơ trữ tình.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

13
Nhƣng cảm xúc thơ không tách rời với tƣ tƣởng. Và tƣ tƣởng trong thơ
không phải là một lý luận trừu tƣợng, nó chỉ đƣợc rút ra từ chính tâm hồn nhà
thơ, nên luôn là một tƣ tƣởng thấm nhuần và hoà tan trong cảm xúc và tình
cảm.
Nhà thơ Sóng Hồng nhấn mạnh sự mãnh liệt của cảm xúc, sự tập trung
dồn nén cao độ: “Ngƣời làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng
cháy trong lòng”.
Nhân đây, chúng tôi nói thêm bốn đặc điểm của thơ trữ tình hiện đại do
GS. Đỗ Đức Hiểu nêu ra: Cảm hứng mãnh liệt, nghệ thuật trùng điệp, khoảng
trống, âm vang. Với bất kỳ bài thơ hay nào cũng thể hiện lần lƣợt, thứ tự bốn
đặc điểm đó. Còn Th.sĩ Phùng Hoài Ngọc cho rằng, ngoài bốn đặc điểm mà
GS. Đỗ Đức Hiểu đã nói đến, thơ trữ tình cần phải bàn thêm một đặc điểm
nữa, đó là cái ảo trong thơ.
Riêng thơ trữ tình trung đại thì tính cô đọng, ngắn gọn, hàm súc là nét
nổi bật, nhất là những bài thơ viết bằng chữ Hán hoặc Nôm theo thể thất ngôn

thơ trữ tình hiện đại, cho nên chúng tôi dựa vào đặc trƣng, đặc điểm của thơ
trữ tình nói chung và thơ trữ tình trung đại, thơ trữ tình hiện đại nói riêng,
dƣới góc độ lý luận để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài này. Đặc biệt, để
tìm hiểu kỹ hơn những vấn đề phục vụ cho đề tài, chúng tôi quan tâm đến thể
loại thơ tuyệt cú hay còn gọi là thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh.
1.1.1.3 Khái niệm - đặc trƣng thể thơ tứ tuyệt
a) Khái niệm thơ tứ tuyệt
“ Thơ tứ tuyệt về nghĩa rộng là những bài thơ bốn câu, mỗi câu có năm
chữ hoặc bảy chữ. Loại câu có năm chữ gọi là “ngũ ngôn tuyệt cú” hay “ngũ
tuyệt”. Theo nghĩa hẹp là một dạng của thơ Đƣờng luật có quy định bằng,
trắc, niêm, đối. Loại này còn gọi là “Luật tuyệt” để phân biệt với “Cổ tuyệt”
là những bài thơ tuyệt cú không làm theo thể thơ Đƣờng luật”. [10, 318]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

15
b) Đặc trƣng của thơ tứ tuyệt
Thơ tứ tuyệt là một thể loại đặc sắc, đƣợc các nhà thơ hết sức ƣa chuộng
và đƣợc sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu. Thơ tứ tuyệt có nguồn
gốc từ Trung Quốc. Nó ra đời từ lâu nhƣng đến thời Đƣờng, thơ tứ tuyệt mới
đạt đến đỉnh cao.
c) Cấu trúc của thơ tứ tuyệt
- Cấu trúc của một bài thơ tứ tuyệt rất đa dạng:
+ Các câu đẳng lập với nhau: 1 - 1 - 1- 1
+ Bốn câu chia hai phần rõ rệt: Hoặc 1 - 3; Hoặc 2 - 2; Hoặc 3 - 1 trong
đó kết cấu 2- 2 là phổ biến nhất.
- Câu thơ thứ nhất: Câu mở đầu bài thơ tứ tuyệt có vị trí là một câu
“khai”, tạo ra duyên cớ cho bài thơ.
- Câu thơ thứ hai có hai chức năng
+ Cùng với câu 1 hoàn thiện thêm một ý và tạo mối liên kết câu thơ thứ

- Về thiên nhiên.
Đó là các loại đề tài có thể đƣợc chọn, còn việc xử lý đề tài đó nhƣ thế nào
mới là quan trọng. Cũng theo cuốn sách trên của Nguyễn Sĩ Đại thì thơ tứ tuyệt
luật Đƣờng có mấy biện pháp sau đây trong cách xử lý đề tài và tổ chức hình
ảnh:
- Đẩy lùi cái cụ thể sang hàng thứ yếu;
- Sự chọn lọc chi tiết mang tính điển hình tuyệt cao;
- Sự lựa chọn chi tiết đặc sắc;
- Sử dụng thi pháp giả tƣởng, mộng tƣởng;
- Tổ chức hình ảnh dồn nén nhƣng ẩn dụ.
Thơ tứ tuyệt là loại thơ ngắn, ít lời nhƣng ý nhiều và có sức khái quát
cao. Thơ tứ tuyệt mang vẻ đẹp tự nhiên, trau chuốt nội dung, vừa có sức rung
cảm mạnh mẽ lại vừa thể hiện rõ cá tính sáng tạo của tác giả. Hồ Chí Minh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

17
thƣờng sử dụng thể thơ tứ tuyệt trong sáng tác thơ, nhất là những bài viết
bằng chữ Hán.
1.1.2. Thơ trữ tình Hồ Chí Minh
1.1.2.1. Đặc điểm thơ trữ tình Hồ Chí Minh
Khi Hélène Toumaire, nhà văn, nhà báo phƣơng Tây nói: “Ở Hồ Chí
Minh kết hợp được đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học
của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia
tộc.” [5, 94] là khi xác nhận “những phẩm chất cốt lõi, thường trực trong thế
giới quan và nhân sinh quan” [34, 84] của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với
tƣ cách là tác giả của những tác phẩm báo chí, những áng văn chính luận nổi
tiếng, những truyện và ký mang tính hiện thực sâu sắc, tập nhật ký bằng thơ và
những vần thơ trữ tình độc đáo. Những sáng tác của Ngƣời là kết tinh của trí
tuệ, xúc cảm, tính dân tộc sâu lắng trong tính thời đại. Theo những số liệu tổng

tƣơng lai của cách mạng; khi nhớ bạn, nhớ chiến sĩ với tấm lòng của ngƣời
cha; khi vui với công việc, với bạn cao niên, với trẻ nhỏ, lúc mừng tin thắng
trận báo về; Khi lạc quan yêu đời, say việc nƣớc mà không nghĩ mình tuổi đã
cao…”[30, 122]
Thơ Bác là sự thể hiện tâm hồn cao đẹp, là tƣ tƣởng lớn, là hành động
cách mạng, là vũ khí đấu tranh. Phạm vi đề tài trong thơ Bác rất rộng. Chất
liệu thơ chủ yếu lấy từ cuộc sống, từ thực tế cách mạng sôi nổi của dân tộc.
Tác phẩm của Bác đều hƣớng vào những vấn đề cấp thiết của cuộc sống, bởi
vì hơn lúc nào hết, hoàn cảnh ấy phải tập trung cho nhiệm vụ chính trị của
cách mạng: chống thực dân, chống đế quốc, chống phong kiến, giành độc lập
tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, thơ trữ tình Hồ Chí Minh,
ngoài việc mang đầy đủ những đặc điểm của thơ trữ tình nói chung, còn có
những nét riêng rất độc đáo. Trƣớc tiên, với vị trí của một ngƣời lãnh đạo toàn
dân giành lại tự do cho đất nƣớc, thơ Ngƣời có hai loại rõ rệt: Thơ tuyên
truyền vận động cách mạng và thơ mang cảm hứng trữ tình. Thơ trữ tình Hồ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

19
Chí Minh là sự gắn kết chặt chẽ giữa thơ trữ tình thế sự và thơ trữ tình công
dân. Vì vậy, thơ Hồ Chí Minh đậm chất trữ tình.
Một nội dung lớn trong thơ trữ tình của Hồ Chí Minh là tình cảm của
Bác đối với thiên nhiên. Cũng nhƣ trong truyền thống Á Đông, tình cảm của
chủ thể trữ tình đối với thiên nhiên có một vị trí đặc biệt. Thiên nhiên hữu tình
làm nền cho thơ Bác, ngƣợc lại, tình cảm của Bác đối với thiên nhiên thắm
thiết, nhuần nhị, tƣơi đẹp, gắn bó. Viết về thiên nhiên, thơ Bác có hai loại, đa
số là những bài thơ tả thiên nhiên để gửi gắm tâm hồn, tình cảm, biểu thị một
thái độ, một quan niệm nào đó. Thiên nhiên đƣợc thể hiện tập trung ở ba
mảng thơ: thơ viết ở trong tù, thơ viết ở chiến khu Việt Bắc và thơ viết nhân
những chuyến viếng thăm nƣớc bạn. Thiên nhiên trong thơ bác là sự tiếp nối

ngƣời và nhân loại cần lao. Tổ quốc là lý tƣởng, là cuộc đời của Ngƣời, nên là
chủ đề xuyên suốt trong thơ Ngƣời. Tổ quốc trong thơ Bác luôn là hình ảnh
tha thiết và ngời sáng lòng tự hào dân tộc. Những hình ảnh thƣờng trở đi trở
lại trong thơ Bác là hình anh Con Rồng cháu Tiên, giang san Tiên Rồng, con
Lạc cháu Hồng, nƣớc non Hồng Lạc. Nói đến Tổ quốc, đến con ngƣời, Bác
thƣờng nói đến độc lập tự do. Đó là khát vọng lớn, một nội dung lớn trong thơ
Bác. Khát vọng ấy cháy bỏng trong suốt cuộc đời của một trái tim bảy mươi
chín mùa xuân: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất
cả những điều tôi muốn nói, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.
Thơ Hồ Chí Minh thấm nhuần lòng nhân ái, phong cách sống tích cực,
luôn hƣớng về tƣơng lai với tƣ thế ung dung, hồn nhiên; Thơ Hồ Chí Minh có
giá trị nhiều mặt: nhưng trước hết nó là cánh cửa mở ra cho các thế hệ nối
tiếp nhìn thấy một tâm hồn, một trí tuệ lớn của dân tộc và thời đại. [37, 241]
b)Về nghệ thuật
R. Đơnuy đã viết về phong cách thơ Hồ Chí Minh trên một tạp chí châu
Âu của Pháp nhƣ sau: “Thơ Ngƣời nói ít mà gợi nhiều, là loại thơ có màu sắc
thanh đạm, có âm thanh trầm lặng, không phô diễn mà cứ cố khép lại trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

21
đƣờng nét để cho ngƣời đọc tự thƣởng thức lấy cái phần ý ở ngoài lời. Phải
yên lặng một mình ngồi đọc thơ Ngƣời, phải thỉnh thoảng ngồi lại để suy nghĩ
mới cảm thấy đƣợc hết âm vang của nó và nghe những âm vang ấy cứ ngân
dài mãi”. Chỉ là một nhận định ngắn nhƣ vậy, nhƣng đã nói đƣợc một số đặc
điểm nghệ thuật thơ trữ tình Hồ Chí Minh.
Theo nhận định của GS. Nguyễn Đăng Mạnh thì phong cách thơ trữ tình
Hồ Chí Minh đƣợc thể hiện nổi bật ở những điểm sau:
Thứ nhất, khiêm tốn, giản dị, hồn nhiên, tự nhiên.
Thứ hai, Sự hoà hợp giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status