Mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ XUÂN HƯƠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN THUYẾT DÂN
GIAN VÀ LỄ HỘI VỀ NGƯỜI ANH HÙNG LỊCH
SỬ CỦA DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG ĐÔNG BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
ANH HÙNG LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG ĐÔNG BẮC 38
2.1. Truyền thuyết dân gian về ngƣời anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng
Đông Bắc 38
2.1.1. Tình hình sƣu tầm, biên soạn và nghiên cứu truyền thuyết dân
gian Tày 38
2.1.2. Đặc điểm của truyền thuyết dân gian về ngƣời anh hùng của dân tộc
Tày ở vùng Đông Bắc 45
2.2. Lễ hội về ngƣời anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc 61
2.2.1. Tình hình giới thiệu và nghiên cứu lễ hội của dân tộc Tày ở vùng Đông
Bắc 61
2.2.2. Phân loại lễ hội của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc 63
2.2.3. Đặc điểm của lễ hội về ngƣời anh hùng lịch sử của ngƣời Tày ở vùng
Đông Bắc 66

2
CHƢƠNG 3: VAI TRÒ QUA LẠI VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA MỐI QUAN HỆ
GIỮA TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VÀ LỄ HỘI VỀ NGƢỜI ANH
HÙNG LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG ĐÔNG BẮC 72
3.1. Vai trò của truyền thuyết dân gian đối với lễ hội về ngƣời anh hùng lịch
sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc 72
3.2. Vai trò của lễ hội đối với truyền thuyết về ngƣời anh hùng lịch sử của dân
tộc Tày ở vùng Đông Bắc .74
3.3. Sự phản ánh ngƣời anh hùng lịch sử dân tộc Tày 75
3.4. Sự biến đổi của mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về
ngƣời anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc trong thời đại ngày
nay 94
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 107
1. Phụ lục 1: Kết quả khảo sát mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian

hệ đó ở phạm vi văn học dân gian và lễ hội của ngƣời Việt. Vấn đề đó ít và
hầu nhƣ chƣa đƣợc quan tâm thỏa đáng ở phạm vi văn học dân gian và lễ hội
của các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Tày.
1.2. Ngƣời Tày có số dân đông nhất trong số các dân tộc thiểu số ở
nƣớc ta, cƣ trú ở hầu khắp các địa phƣơng trong cả nƣớc nhƣng chủ yếu ở các
tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam. Trải qua sự phát triển thăng trầm của lịch sử
xã hội, dân tộc Tày đã tự tạo sự đề kháng để bảo tồn bản sắc văn hóa của
riêng mình. Dân tộc Tày đƣợc coi là chủ thể văn hóa vùng Đông Bắc, có ảnh
hƣởng tới các dân tộc khác trên nhiều phƣơng diện: ngôn ngữ, văn hóa…
1.3. Dân tộc Tày có đời sống văn hóa vô cùng đặc sắc. Văn hóa dân
gian Tày giữ vị trí quan trọng trong tổng thể văn hóa dân gian Việt Nam.
Trong đó, phải kể đến các lễ hội về các anh hùng lịch sử mà các nhân vật này
đã từng đi vào truyền thuyết dân gian. Truyền thuyết và lễ hội của ngƣời Tày
cùng phản ánh các anh hùng lịch sử. Sự thờ phụng ngƣời anh hùng đã trở
thành một thứ tín ngƣỡng có sức ảnh hƣởng phổ biến đối với ngƣời dân vùng

4
Đông Bắc. Vậy, có mối quan hệ nào giữa truyền thuyết và các lễ hội ấy
không? Nếu có, thì đó là quan hệ gì? Chúng gắn bó với nhau nhƣ thế nào
trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển? Chúng có ảnh hƣởng gì tới văn
hóa của các dân tộc khác ở cùng địa bàn cƣ trú? Đó là những vấn đề mà
chúng tôi quan tâm.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành tìm hiểu mối quan hệ
giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về ngƣời anh hùng lịch sử của dân tộc
Tày ở vùng Đông Bắc. Đây là hƣớng nghiên cứu đặt văn học dân gian trong
tổng thể văn hóa dân gian.
2. Lịch sử vấn đề
Khác với văn học viết, văn học dân gian không đông cứng trên văn bản
mà tồn tại ở trạng thái động, tức gắn liền với sinh hoạt mọi mặt của nhân dân
và tham gia vào những sinh hoạt đó với tƣ cách là một thành phần, một nhân

quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và diễn xƣớng phong tục” trên Tạp chí
Văn học. Trong bài viết này, tác giả quan niệm diễn xƣớng là một bộ phận
của hội làng, mang tính chất và ý nghĩa là những lễ tiết vì nó đƣợc gắn với
thần thoại, truyền thuyết. Quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và diễn
xƣớng giống nhƣ quan hệ giữa tích và trò. Mối quan hệ ấy tạo nên một phong
tục đặc biệt trong các hội làng là lệ tục. Tác giả cũng lƣu ý: “Những diễn
xƣớng lễ tục chúng ta đƣợc biết đều không tái hiện toàn bộ thần tích hay
truyền thuyết mà chỉ tái hiện một tình tiết nào đó” [45; tr 102]. Tác giả đã
phân loại các hình thức diễn xƣớng tín ngƣỡng đa dạng thành ba nhóm chính:
diễn xƣớng canh tác sản xuất và tín ngƣỡng phồn thực, diễn xƣớng sinh hoạt
văn hóa phong tục, diễn xƣớng lịch sử. Cuối cùng, tác giả khẳng định: “Diễn
xƣớng tín ngƣỡng hội làng còn là một phƣơng tiện bảo lƣu thần thoại, truyền
thuyết có hiệu lực” [45; tr 107].
Năm 1996, trong công trình Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt
và hội lễ về các anh hùng, TS. Lê Văn Kì đã góp thêm tiếng nói khẳng định
truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian và hội lễ là một hình thức sinh
hoạt văn hóa cộng đồng đặc biệt. Trong quá trình lịch sử của dân tộc, nhiều

6
hội lễ cầu mùa của cƣ dân nông nghiệp trồng lúa nƣớc đã dần đƣợc bổ sung
thêm lớp ý nghĩa ca ngợi các anh hùng chống ngoại xâm. Từ đó, tác giả đƣa
ra những nhận xét khá toàn diện về mối quan hệ giữa truyền thuyết và hội lễ
về ngƣời anh hùng. Cụ thể, tác giả chỉ ra rằng: “Truyền thuyết và hội lễ cùng
phản ánh nhiều nhân vật, nhiều sự kiện lịch sử” [11; tr 70]; truyền thuyết về
ngƣời anh hùng là một lý do cho sự nảy nở và ngày càng phát triển của hội lễ
về ngƣời anh hùng; truyền thuyết là cái sƣờn, cái khung cố định hóa tính tổ
chức của hội lễ; mỗi hội lễ thƣờng chỉ phản ánh một phần của cuộc đời ngƣời
anh hùng; hội lễ có ƣu thế hơn truyền thuyết trong việc phản ánh ngƣời anh
hùng nhờ sự tác động trực quan và không khí thiêng liêng của hội lễ; nhƣng
“có những chi tiết, có những hành động của ngƣời anh hùng, hội lễ không thể

chƣa đƣợc khảo cứu một cách hệ thống và khoa học.
3. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích nghiên cứu mối quan hệ
giữa truyền thuyết và lễ hội về các anh hùng lịch sử của ngƣời Tày ở vùng
Đông Bắc – nghĩa là xét xem giữa những truyền thuyết và lễ hội đó có cái gì
giống nhau, cái gì khác nhau, cái gì liên quan đến nhau có thể bổ sung, hỗ trợ
cho nhau đƣợc?
Cụ thể, đó là các mục đích sau đây:
- Tìm hiểu sự gắn bó giữa truyền thuyết và lễ hội về các anh hùng lịch
sử của ngƣời Tày ở vùng Đông Bắc trong quá trình nảy sinh, tồn tại, vận động
và phát triển.
- Tìm hiểu cách biểu hiện mối quan hệ đó qua từng thời kì lịch sử cụ
thể, từng loại hội, từng địa phƣơng khác nhau.
- Tìm hiểu loại quan hệ (tất yếu – tùy tiện, vĩnh viễn – nhất thời, tƣơng
tác – bình đẳng…).
- Tìm hiểu kết quả của mối quan hệ; nguyên nhân làm cho quan hệ phát
triển hoặc hạn chế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu

8
Đối tƣợng nghiên cứu mà đề tài hƣớng tới là mối quan hệ giữa truyền
thuyết và lễ hội về các anh hùng lịch sử của ngƣời Tày ở vùng Đông Bắc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi dành sự quan tâm cho đối tƣợng nghiên
cứu ở:
- Truyền thuyết dân gian của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc.
- Lễ hội về các anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc.
Tuy nhiên, để có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề
nghiên cứu, khi có điều kiện, chúng tôi sẽ liên hệ đến một số truyền thuyết và

Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để nghiên cứu lịch sử văn hoá dân
tộc Tày với tƣ cách là "cái tổng thể", tức nghiên cứu diện mạo, tính chất, đặc
trƣng, giá trị của văn hoá Tày và sự chuyển biến kế tiếp nhau từ nền văn hoá
này sang nền văn hoá khác trong khung cảnh chung của lịch sử hình thành và
phát triển tộc ngƣời.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phƣơng pháp này để nghiên cứu lịch
sử của từng thành tố chuyên biệt của văn hóa dân gian Tày, cụ thể là truyền
thuyết và lễ hội về ngƣời anh hùng lịch sử.
5.5. Phƣơng pháp phân tâm học
Sử dụng phƣơng pháp này, chúng tôi tìm hiểu phƣơng thức tồn tại của
truyền thuyết và lễ hội, đi tìm và giải mã cấu trúc vô thức trên/ trong/ qua
truyền thuyết và lễ hội theo một hệ thao tác ngƣợc, tham chiếu đối tƣợng
nghiên cứu trên phông nền là văn hóa truyền thống, vô thức tập thể, đặc điểm
lịch sử xã hội tộc ngƣời: truyền thuyết – lễ hội về các anh hùng lịch sử – văn
hóa tín ngƣỡng.
6. Đóng góp của đề tài
- Về mặt tƣ liệu: Tập hợp nguồn tƣ liệu về truyền thuyết và lễ hội về
ngƣời anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc.
- Về nội dung: Góp phần làm rõ mối quan hệ giữa truyền thuyết dân
gian và lễ hội về ngƣời anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc ở

10
các phƣơng diện vai trò qua lại và sự biến đổi của mối quan hệ giữa hai vi hệ
văn hóa này.
7. Kết cấu của đề tài
Đƣợc thể hiện trong 116 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu
tham khảo, bản luận văn gồm ba chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Khái quát về dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
Chƣơng 2: Truyền thuyết dân gian và lễ hội về ngƣời anh hùng lịch sử
của dân tộc Tày ở Đông Bắc

Hán có tên gọi là Ô Hử; thời Nam Bắc triều có tên gọi là Lý, Lạo, Lang; thời
Tống xuất hiện các tên gọi Thổ, Cháng và thời Minh, tên Cháng trở nên phổ
biến” [14; tr 22].
Theo tác giả Nguyễn Thị Yên trong công trình Then Tày [46], Bách
Việt là tổ tiên của các tộc ngƣời thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau thuộc
cả hai nhóm văn hóa ngôn ngữ là Nam Á và Nam Đảo. Cƣ dân Bách Việt
đƣợc hình thành từ thời Hạ Thƣơng, cƣ trú chủ yếu ở phía nam sông Trƣờng
Giang. Thời Xuân Thu chiến quốc, các cƣ dân Việt đã lập nên hai nƣớc Việt,
Ngô. Năm 473 trƣớc công nguyên, nƣớcViệt tiêu diệt nƣớc Ngô. Năm 323
trƣớc công nguyên, nƣớc Sở tiêu diệt nƣớcViệt. Dƣới thời Tần Hán, Việt tộc
phân hóa rồi hợp lại, gọi là Bách Việt, gồm: Đông Việt ở Chiết Giang, Mân
Việt ở Phúc Kiến, Nam Việt ở Quảng Đông, Lạc Việt ở Quảng Tây và Bắc
Việt Nam, Điền Việt ở Vân Nam, Quỳ Việt ở Tứ Xuyên… Khoảng năm 221
trƣớc công nguyên, hầu hết đất đai của ngƣời Việt đều bị nhà Tần chinh phục.
Đông Âu, Mân Việt dần dần bị Hán hóa. Ngƣời Tây Âu, Lạc Việt đã chống
lại quân Tần, chiến thắng quân Tần và thành lập đƣợc những vƣơng quốc độc
lập.
Đến những thiên kỉ cuối cùng trƣớc công nguyên, miền Nam Trung
Quốc và miền Bắc Việt Nam đã là địa bàn cƣ trú của ngƣời Tây Âu, Lạc Việt.
Ngƣời Tây Âu – Lạc Việt chính là tổ tiên của ngƣời Thái ở Vân Nam, ngƣời
Choang ở Quảng Tây, ngƣời Lê ở đảo Hải Nam, ngƣời Chủng Chá, Bố Y ở
Quý Châu, ngƣời Tày, Nùng, Kinh ở Việt Nam.

12
Nhƣ thế, ngƣời Tày cổ vốn là cƣ dân bản địa lâu đời, xuất hiện ở vùng
Đông Bắc Việt Nam từ rất sớm, có thể từ cuối thiên niên kỉ I trƣớc Công
nguyên. Các truyền thuyết Pú Lương Quân, Cẩu chủa cheng vua nói về sự có
mặt của họ từ những thời kì xa xƣa ở Việt Nam và những công tích của họ
trong xây dựng đất nƣớc. Ngƣời Tày cổ là một nhánh của cộng đồng ngƣời
Việt cổ. Vào thời dựng nƣớc, cƣ dân của nƣớc Văn Lang, Âu Lạc là ngƣời

Đông), họ Vi ở Tú Lăng, Lộc Châu, Tƣ Bình (Quảng Tây), Tô Mậu (Đình
Lập – Lạng Sơn) Từ khoảng thế kỉ VII trở đi, thủ lĩnh của các dòng họ nói
trên liên tiếp nổi dậy chống lại triều đình nhà Đƣờng, tiêu biểu là cuộc nổi dậy
của Nùng Trí Cao.
Năm 1038, Nùng Tồn Phúc, thủ lãnh châu Thảng Do chiếm các châu
của các thủ lãnh lân cận và xƣng vua là Chiêu Thánh hoàng đế, đặt tên nƣớc
là Trƣờng Sinh, không nộp cống xƣng thần với Đại Cồ Việt. Chẳng bao lâu,
nƣớc này bị nhà Lý tiêu diệt. Nùng Trí Cao, con của Nùng Tồn Phúc, sau này
cùng mẹ từ động Lôi Hỏa trở lại châu Thảng Do, dâng biểu chịu thần phục
Đại Cồ Việt. Vua Lý Thái Tông phong cho Trí Cao chức Thái bảo và cho giữ
châu Quảng Nguyên. Sau này muốn độc lập, Nùng Trí Cao tự đổi châu thành
nƣớc Đại Lịch (còn gọi là Đại Lí quốc, liên hệ với nƣớc Đại Lí gốc Thái ở
Vân Nam, trƣớc kia gọi là Nam Chiếu). Nhà Lý mang quân đánh, bắt sống
đƣợc Trí Cao mang về kinh sƣ. Sau vua tha tội, lại cho giữ châu Quảng
Nguyên nhƣ cũ, phụ thêm cho bốn động Lôi Hỏa, Bình An, Bình Đà và châu
Tƣ Lang (nay là Trùng Khánh, Cao Bằng) . Nhƣng Trí Cao vẫn giữ nguyên ý
nguyện độc lập nên đã liên kết với những ngƣời đồng tộc ở cùng Tả Giang lập
ra nƣớc Nam Thiên, lấy niên hiệu là Cảnh Thụy. Ông trở thành thủ lĩnh của
các dân tộc Tày, Nùng, Choang ở Đông Bắc Việt Nam và miền nam Trung
Quốc. Sau, Nùng Trí Cao tiến hành chiến tranh chống lại nhà Tống, chiếm cứ
đƣợc các vùng Ung Châu, Hƣng Châu, Ngô Châu, Quảng Châu. Nhƣng cuối
cùng, Nùng Trí Cao bị nhà Tống đánh bại (1053).

14
Sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao, giữa nhà Lý và nhà Tống xảy ra
chiến tranh và đi đến một cuộc điều đình. Sau cuộc điều đình này, biên giới
Việt Trung đƣợc phân định rõ ràng hơn. Các triều đình phong kiến Việt Nam
và Trung Quốc tổ chức cai trị nhân dân ở các vùng biên giới một cách chặt
chẽ hơn. Từ đó, dân tộc Choang ở Trung Quốc và Tày ở Đông Bắc Việt Nam
hình thành và phát triển trong những điều kiện khác nhau. Đó chính là cơ sở

ruộng thấp. Từ sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao (thế kỉ XI), biên giới Việt
Trung đƣợc quy định rõ ràng hơn, ngƣời Tày dần tách ra khỏi ngƣời Choang
và dần hình thành dân tộc Tày hiện đại.
Bộ phận ngƣời Tày gốc Kinh: Ngƣời Kinh lên sinh sống ở vùng ngƣời
Tày, bị đồng hóa thành ngƣời Tày vì những lí do sau:
Sau cuộc khởi nghĩa của Nùng Trí Cao, nhà Lý và các triều đại phong
kiến tiếp đó (đặc biệt là triều Lê) đã tổ chức cai trị nhân dân ở vùng biên giới
một cách chặt chẽ hơn bằng cách thực hiện chế độ lƣu quan (phái các vị quan
lại ngƣời Kinh lên thống trị ở miền núi). Các vị quan khi lên cai trị vùng Tày
thƣờng đem theo cả gia quyến, binh lính, phu phen tạp dịch… lên chiêu dân
lập ấp và trở thành quý tộc địa phƣơng, cha truyền con nối cai trị từng vùng.
Trong quá trình cƣ trú lâu đời tại địa phƣơng, những ngƣời Kinh này dần bị
Tày hóa. Chẳng hạn, đời vua Trần Hiến Tông (1328 – 1341), quan văn Thiều
Thốn đƣợc cử lên giữ Đoàn Thành (Lạng Sơn), quan võ Nguyễn Công Ngân
vốn là ngƣời Nghệ An đƣợc cử lên cai trị châu Thất Nguyên, em là Nguyễn
Thành Du kế tục làm tri châu Thất Nguyên. Nay, ở vùng Thất Khê có dòng họ
Nguyễn Công, Nguyễn Khắc là con cháu của các vị lƣu quan này. Hay ở Bắc
Kạn có Đại quận công Nông Đại Bảo vốn là ngƣời Kinh, mang họ Nguyễn,
quê ở Nghệ An, năm Giáp Tý đời vua Lê Nhân Tông (1445) lên trấn ải tại
Bắc Kạn, sau bị Tày hóa và đổi sang họ Nông. Đến nay, hầu hết con cháu của
Đại quận công Nông Đại Bảo đều cƣ trú ở xã Lƣơng Thƣợng – huyện Na Rì.
Bộ phận ngƣời Tày gốc Kinh còn xuất phát từ nguồn binh lính đi dẹp
loạn ở miền núi, sau đó ở lại địa phƣơng kết hôn với ngƣời miền núi, sinh cơ

16
lập nghiệp tại đây, con cháu nhiều đời bị Tày hóa. Chẳng hạn, ở làng Vị, xã
Hoàng Đồng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn có dòng họ Nguyễn vốn là con
cháu Bình Ngô thƣợng tƣớng quân Nguyễn Cẩm Miên (quê ở Nghệ An), năm
Thuận Thiên thứ hai (1429) đƣợc triều đình cử lên Lạng Sơn đánh giặc. Ở
Cao Bằng hiện nay có dòng họ Đinh ở xã Tiên Dao (nay là xã Tiên Thành,

Choang từ Trung Quốc sang Việt Nam đƣợc trên 200 năm và thì gọi là Tày.
Những nhóm Nùng đến sau hoặc đến từ lâu đời nhƣng sống tụ cƣ, giữ đƣợc
những đặc điểm dân tộc sẽ hình thành dân tộc Nùng hiện đại. Hiện tƣợng
Nùng hóa Tày khá phổ biến ở các địa phƣơng nhƣ Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc
Kạn.
Tóm lại, ngƣời Tày ở khu vực Đông Bắc Việt Nam hiện nay là sự kết
hợp của ba bộ phận: Tày bản địa, Tày gốc Kinh và Tày gốc Nùng. Ngoài ra, ở
Quảng Ninh còn có ngƣời Phén - một bộ phận ngƣời Tày thuộc các nhóm
đồng tộc đến từ Trung Quốc. Tuy nhiên, nhóm này không nhiều. Việc tìm
hiểu sự kết hợp của các nhóm Tày ở mỗi khu vực địa lí khác nhau nhƣ trên rất
có ý nghĩa trong việc đem đến cái nhìn rõ ràng hơn về điểm khu biệt trong
văn hóa của ngƣời Tày ở các vùng khác nhau. Xét từ nguồn gốc, dễ nhận thấy
đặc điểm nổi bật trong văn hóa của ngƣời Tày ở vùng Đông Bắc là sự giao
thoa của các yếu tố văn hóa Kinh – Tày – Nùng. Điểm khác biệt của ngƣời
Tày Đông Bắc với ngƣời Tày ở các khu vực khác là sự tiếp thu yếu tố Kinh
trong văn hóa của họ.
Về tên gọi, tộc danh Tày đã xuất hiện từ lâu đời. Theo tác giả Hà Đình
Thành trong công trình Văn hóa dân gian Tày – Nùng ở Việt Nam, Tày là tên
gọi “có nguồn gốc chung của nhiều dân tộc thuộc nhóm Thái – Choang ở
Nam Trung Quốc và Đông Nam Á, nhƣ: Tai, Tay, Táy, Thai…, đều có nghĩa
là ngƣời” [28; tr 26]. Cũng có ý kiến khác cho rằng tộc danh Tày xuất phát từ
ý nghĩa chỉ cƣ dân làm nghề lúa nƣớc với nông cụ tiêu biểu là cái cày. Trong
tiếng Tày – Thái, “cái cày đƣợc viết là Mạc Thay hay Thây, khi đọc thì biến

18
âm thành Tày hay Thái. Tày đƣợc dùng làm tên gọi chính thức cho dân tộc
Tày ở Việt Nam từ sau năm 1945” [40; tr 48].
Dân tộc Tày còn có tên gọi khác là Thổ với nghĩa là “ngƣời vốn ở đất
này từ lâu. Tuy nhiên, tộc danh này không chỉ có ở ngƣời Tày mà còn là tên
gọi của một số cƣ dân bản địa khác” [28; tr 26].

chất mở hơn vùng Tây Bắc” [15; tr 15]. Với địa hình núi non hình vòng cung
và các con sông đều chảy ra biển, “Đông Bắc đã trở thành vùng núi đất mở từ
rất sớm, giao lƣu thông thƣơng với miền xuôi và miền biển, tạo điều kiện giao
lƣu văn hóa Bắc Nam, Nam Bắc từ lâu đời” [15; tr 16 – 17].
Vùng Đông Bắc – địa bàn cƣ trú chủ yếu của ngƣời Tày là vùng có vị
trí chiến lƣợc quan trọng trong việc củng cố an ninh quốc phòng của Việt
Nam. Lịch sử ghi nhận nhiều trận đánh lớn giữa nƣớc ta và các thế lực xâm
lƣợc tại nơi đây. Trong đó, tiêu biểu là các trận Nhƣ Nguyệt, trận Bạch Đằng
trận Chi Lăng, … trong các cuộc kháng chiến chống quân Tống thời nhà Lí,
chống quân Nguyên Mông thời nhà Trần, chống quân Minh thời nhà Lê…
Trong các cuộc chiến đó, giặc ngoại xâm thƣờng chọn con đƣờng xâm lƣợc là
đi qua vùng Đông Bắc. Đó là đƣờng bộ qua Lạng Sơn, đƣờng bộ ven biển ở
Quảng Ninh, và đƣờng biển trên vịnh Bắc Bộ rồi cũng đổ bộ vào Quảng Ninh.
Vùng dân tộc Tày trƣớc đây là địa bàn chính chống xâm lăng dƣới
nhiều triều đại phong kiến. Trong lịch sử, nhiều lần các thế lực xâm lƣợc
phƣơng Bắc đã thâm nhập vùng này trƣớc tiên. Là chủ nhân sớm nhất của
vùng Đông Bắc, ngƣời Tày giữ vai trò quan trọng trong đấu tranh chống
ngoại xâm. Thực tế, trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc, đấu tranh giành
độc lập, dân tộc Tày đã có những đóng góp hết sức to lớn trong việc bảo vệ sự
toàn vẹn lãnh thổ cùng biên cƣơng phía Bắc của Tổ quốc, chống lại sự bành
trƣớng của các thế lực phong kiến ngoại bang. Cụ thể:
- Vào những thiên kỉ cuối cùng trƣớc công nguyên, ngƣời Tây Âu, Lạc
Việt đã cùng hợp sức chống lại sự xâm lƣợc của nhà Tần. Kết quả của sự liên
minh chiến đấu chống kẻ thù chung đó là sự ra đời của nƣớc Âu Lạc.

20
- Thế kỉ thứ VI, Lý Bôn xuất quân từ vùng ngƣời Lạo (Lạo là tên cổ
của ngƣời Tày, Nùng) khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Lƣơng. Sau,
quân của Lý Bôn thua lại rút vào vùng ngƣời Lạo để chống giữ.
- Thế kỉ thứ VIII, trong cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đƣờng của

nhà Nguyên, dƣới sự chỉ huy của các thổ hào Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Linh,
nhân dân Tày, Nùng ở Lạng Sơn đã đánh úp quân Nguyên ở trại Ma Lục.
- Thế kỷ thứ XV, nhà Minh xâm lƣợc nƣớc ta. Ở Cao Bằng, giặc Minh
đóng ở Nà Lữ, gò Đống Lân, Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái dấy binh
dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Minh. Nhiều trận ác chiến xảy ra, trong đó có
trận đánh ở Nà Khuổi (xã Hồng Việt, Hòa An). Quân Bế Khắc Thiệu, Nông
Đắc Thái đã tiêu diệt hơn 4.000 tên giặc, buộc giặc Minh phải rút quân. Cuộc
khởi nghĩa của Bế Khắc Thiệu góp phần cùng Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn,
Thanh Hóa đánh đuổi giặc Minh bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Cũng trong cuộc kháng chiến chống Minh, nhân dân châu Thất Nguyên
(Lạng Sơn) đã vũ trang tự vệ, đánh lại những toán quân Minh đến cƣớp bóc
làng mạc. Đô đốc Cao Sĩ Văn kéo quân đi đánh úp nghĩa quân nhƣng bị giết
chết trong trận phục kích tại Quảng Nguyên (Cao Bằng). Năm 1412, nhân dân
Tày Nùng dƣới sự chỉ huy của Nông Văn Lịch đã chiếm cứ địa phƣơng, chặn
đƣờng đi của địch, giết chết tên Việt gian Mạc Thúy. Năm 1425 – 1426, ở
Thái Nguyên, Hoàng Am cầm đầu một cuộc khởi nghĩa của nhân dân địa
phƣơng.
Theo truyền thuyết dân gian, ở làng Lìu, huyện Ôn (Chi Lăng – Lạng
Sơn) có bốn ngƣời Tày là “Hoàng Đại Huề, Hoàng Đại Liễu (em Đại Huề),
Hoàng Thị Kim Liên, Hoàng Thị Kim Hoa (con gái Đại Huề) đã tham gia trận
đánh tiêu diệt Liễu Thăng tại gò Mã Yên Sơn, thuộc xã Chi Lăng. Bốn anh
hùng dân tộc này đã đƣợc nhân dân địa phƣơng thờ làm thần thành hoàng”
[14; tr 36].
Đến thời kì hiện đại, vùng Đông Bắc vẫn giữ vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ lãnh thổ của đất nƣớc. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp có các

22
trận đánh lớn nhƣ chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch biên giới thu đông
(1949), v.v Cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, quân Trung Quốc
đã tấn công dữ dội Việt Nam chủ yếu là trên dọc tuyến biên giới ở vùng Đông

một số dân tộc khu vực Trƣờng Sơn – Tây Nguyên, khác với làng của ngƣời
H’Mông trên những rẻo núi cao với sƣơng mù mờ ảo, khác với làng Việt
mang tính cộng đồng và tự trị rõ nét ở Bắc Bộ với những cổng làng, lũy tre và
mái đình cong… Bản của ngƣời Tày là đơn vị tổ chức xã hội tự quản mang
tính truyền thống của ngƣời Tày, trực thuộc các đơn vị hành chính cấp xã,
tổng, châu, tỉnh mà đứng đầu là tầng lớp ''quằng'' hay ''thổ ty''.
Tên làng của ngƣời Tày thƣờng gắn với một câu chuyện cổ nhất định,
tạo nên những huyền thoại hợp lí. Chẳng hạn, ở huyện Hòa An, tỉnh Cao
Bằng có các làng Dộc Săm, Nà Mỏ (xã Nam Tuấn), Nà Mò, Chông Mu, Bản
Sẩy (xã Bế Triều)… là các địa danh gắn liền với truyền thuyết Pú lương
quân… Bên cạnh đó, tên bản làng của ngƣời Tày thƣờng có ý nghĩa phản ánh
đặc điểm tự nhiên của vùng đất đó. Tên bản đƣợc gọi theo tên đồi núi, đồng
ruộng, khúc sông. Chẳng hạn, ở xã Dƣơng Quang - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc
Kạn có bản Nặm Cắt (nƣớc lạnh), ở xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể có bản Nà Dài
(ruộng cát), Đông Băm (rừng tối)…
Nhà ở là nơi hội tụ, quây quần của gia đình, đồng thời có thể coi là một
bằng chứng văn hóa, mang bản sắc riêng của từng dân tộc. Ngôi nhà truyền
thống của ngƣời Tày là nhà sàn có bộ sƣờn làm theo kiểu vì kèo bốn, năm,
sáu hoặc bảy hàng cột. Nhà có hai hoặc bốn mái. Sống ở khu vực trung du
và miền núi Đông Bắc, ngƣời Tày thƣờng tranh thủ nguồn lâm sản có sẵn để
dựng nhà. Vật liệu làm nhà sàn của ngƣời Tày chủ yếu là tranh, tre, nứa, lá
và gỗ. Nhà dựng bằng nhiều gỗ. Nhà của ngƣời Tày có ít cửa và cửa sổ.
Xung quanh nhà thƣng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa. Trƣớc đây, nhà của
ngƣời Tày nặng về tính chất phòng thủ, đề phòng trộm cƣớp, thú dữ. Kiểu
nhà phòng thủ đƣợc xây dựng theo kiểu pháo đài đặc biệt phổ biến ở một số
vùng giáp biên giới. Ngày nay, ngôi nhà sàn đƣợc dựng theo hƣớng thông
thoáng và tiết kiệm gỗ hơn. Ở nhiều nơi, đồng bào chuyển sang làm nhà đất

24
hoặc nhà xây giống nhƣ ngƣời miền xuôi. Kiểu nhà sàn cổ truyền ngày càng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status