ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o HÀ THỊ TUYẾT NGA
NGHIÊN CỨU CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ
DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT
NAM
NGHIÊN CỨU CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ
DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT
NAM
PHỤ LỤCLUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VƢƠNG TOÀN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CHNN: Cảnh huống ngôn ngữ
VTNN: Vị thế ngôn ngữ
UBND: Ủy ban nhân dân
CP: Chính phủ
THPT: Trung học phổ thông
THCS: Trung học cơ sở
TT: Thị trấn
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
PL: Phụ lục
MQH: Mối quan hệ
DTTS: Dân tộc thiểu số
PTBV: Phát triển bền vững
ĐB: Đông Bắc
CTTĐ: Công thức tính điểm
1.1.1. Khái niệm CHNN 16
1.1.2. VTNN - yếu tố chủ đạo hình thành CHNN 19 1.2. Bản chất và vai trò của việc tìm hiểu CHNN Tày 28
1.2.1. Bản chất của việc tìm hiểu CHNN Tày 28
1.2.2. Vai trò của việc tìm hiểu CHNN Tày 28
1.3. Phương pháp nghiên cứu CHNN dân tộc Tày vùng ĐB 31
1.3.1. Phương pháp đánh giá VTNN 31
1.3.2. Phương pháp khảo sát thực tiễn 33
1.3.3. Cơ sở tiếp cận giải pháp duy trì và nâng cao vị thế tiếng Tày Vùng
ĐB 38
1.4. Khái quát vùng ĐB và người Tày vùng ĐB 41
1.4.1. Địa giới hành chính 41
1.4.2. Đặc điểm về địa hình, khí hậu 41
1.4.3. Người Tày vùng ĐB 42
Tiểu kết chƣơng 1 44
CHƢƠNG 2: VỊ THẾ TIẾNG TÀY VÙNG ĐÔNG BẮC TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM 45
2.1. Sự chuyển giao ngôn ngữ giữa các thế hệ 45
2.1.1 Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 46
2.1.2 Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 51
2.1.3 Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 55
2.2. Sự tiếp nhận của cộng đồng trong các lĩnh vực mới 58
2.2.1. Trong lĩnh vực giáo dục 58
2.2.2 Trong lĩnh vực xã hội 67
2.2.3. Trong lĩnh vực tín ngưỡng 71
2.2.4 Trong lĩnh vực truyền thông 74
Tiểu kết chƣơng 2 81
CHƢƠNG 3: CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ DÂN TỘC TÀY VỚI SỰ
4.3.2. Các bước xây dựng mô hình 155
4.3.3. Các dạng mô hình 155
Tiểu kết chƣơng 4 163
KẾT LUẬN 165
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 169
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 170 DANH MU
̣
C CÁC SƠ ĐÔ
̀Sơ đồ 1.1. Các yếu tố tạo thành CHNN 23
Sơ đồ 3.1. Các nguyên nhân gây ra bỏ học ở học sinh dân tộc Tày 123
Sơ đồ 4.1. Khuyến khích sử dụng tiếng Tày trong các lĩnh vực khác nhau 139
Sơ đồ 4.2. Hoàn thiện hệ thống chữ viết và tiêu chuẩn hoá tiếng Tày 141
Sơ đồ 4.3. Phát huy truyền thống văn học, nghệ thuật dân tộc Tày 144
Sơ đồ 4.4. Nâng cao nhận thức, thái độ và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của người
Tày 148
Sơ đồ 4.5. Chương trình dành cho người yêu quý ngôn ngữ dân tộc Tày 149
Sơ đồ 4.6. Giảng dạy ngôn ngữ Tày trong Nhà trường và ở các Trung tâm Học
tập cộng đồng 153
Sơ đồ 4.7. Mô hình tổng quát
ngôn ngữ dân tộc Tày 157
Sơ đồ 4.8. Các yếu tố tham gia vào mô hình duy trì và mở rộng phạm vi sử dụng
ngôn ngữ dân tộc Tày 159
Sơ đồ 4.9. Mô hình lan toả ngôn ngữ 160
Bảng 2.5. Bảng tình hình sử dụng ngôn ngữ tại Lạng Sơn 55
Bảng 2.6. Khảo sát sự chuyển giao ngôn ngữ tại Văn Lãng, Lạng Sơn 56
Bảng 2.7. Khảo sát năng lực ngôn ngữ tại trường tiểu học Nam Phong, xã Hưng
Đạo, Hòa An, Cao Bằng 60
Bảng 2.8. Khảo sát “Có hai hình thức dùng ngôn ngữ để giảng dạy trong trường
bạn thích hình thức nào?” 65
Bảng 2.9. Khảo sát ngôn ngữ trong giáo dục tại thị xã Bắc Kạn và các vùng
xung quanh huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 65
Bảng 2.10. Khảo sát ngôn ngữ trong giáo dục tại Văn Lãng, Lạng Sơn 66
Bảng 2.11. Việc sử dụng ngôn ngữ trong xã hội tại Bắc Kạn 68
Bảng 2.12. Việc sử dụng ngôn ngữ trong xã hội tại Cao Bằng 69
Bảng 2.13. Việc sử dụng ngôn ngữ trong xã hội tại Lạng Sơn 70
Bảng 2.14. Khảo sát “Ngôn ngữ thường dùng khi kể chuyện, 73
cầu cúng và viết thư” 73
Bảng 2.15. Khảo sát truyền thông tại Bắc Kạn 75
Bảng 2.16. Ngôn ngữ trong truyền thông tại Cao Bằng 75 Bảng 2.17. Khảo sát về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông tại Lạng Sơn 76
Bảng 2.18. Thực trạng sử dụng tiếng Tày tính theo lứa tuổi trong các lĩnh vực
khác nhau (Khảo sát theo tiêu chí 1 và 5) 79
Bảng 3.1. Thành phần dân tộc tỉnh Cao Bằng 85
Bảng 3.2. Thành phần dân tộc Lạng Sơn 86
Bảng 3.3. Thành phần dân tộc Bắc Kạn 87
Bảng 3.4. Khảo sát về thái độ của người Tày đối với việc 89
sử dụng tiếng mẹ đẻ tại Cao Bằng 89
Bảng 3.5. Khảo sát thái độ của người Tày với tiếng mẹ đẻ ở Lạng Sơn 91
Bảng 3.6. Sự thể hiện thái độ của người Tày ở Huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn
đối với tiếng mẹ đẻ 92
Bảng 3.7. Thái độ sử dụng ngôn ngữ tại thị xã Bắc Kạn và huyện Bạch Thông,
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Giá trị thời sự của đề tài
Dân tộc và ngôn ngữ dân tộc là hai mặt của tiến trình phát triển một cộng
đồng dân tộc, trong đó ngôn ngữ của dân tộc thể hiện trình độ phát triển văn hóa
và tư duy của dân tộc. Ngôn ngữ đã tích tụ lưu giữ quá khứ, lịch sử truyền thống,
với cái nhìn về cuộc sống, về tương lai mà từng dân tộc đã đúc kết và xây dựng
nên. “Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên, là phương tiện quan trọng nhất trong văn hoá
phi vật thể của mỗi dân tộc” [39, tr.251]. Tri thức của con người được mã hoá
trong ngôn ngữ, vì vậy, ngôn ngữ là tài sản văn hoá của các dân tộc. Khi một
ngôn ngữ biến mất thì những kiến thức này cũng mất theo và điều đó đồng nghĩa
với việc một phần lịch sử, văn hóa của nhân loại bị xóa sổ và nền văn hóa chung
của thế giới bị nghèo đi.
ngôn ngữ đang có nguy cơ bị mất đi luôn được ưu tiên hơn những ngôn ngữ
đang còn “khỏe”. Tuy nhiên, nghiên cứu CHNN Tày ở vùng ĐB (Đông Bắc)
mang tính cấp bách trong thời kỳ hội nhập và phát triển bởi dân số người Tày
không ngừng tăng nhưng việc sử dụng tiếng Tày đang bị giảm sút nghiêm trọng.
Chính vì thế việc lựa chọn CHNN dân tộc Tày để nghiên cứu sẽ đáp ứng được
nhu cầu thực tế của thời kỳ hội nhập và phát triển. Điều này sẽ tác động trực tiếp
tới ngôn ngữ các dân tộc khác như Hoa, Dao, Nùng và nhiều ngôn ngữ thiểu số
khác trước tình trạng bị thu hẹp phạm vi sử dụng.
Ngôn ngữ mất đi hay trường tồn chủ yếu do tác động trực tiếp của con
người. Ngôn ngữ dân tộc là tiếng nói của cha ông, là một vũ khí để chứng minh
nguồn gốc dân tộc và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Khi một đất nước chưa đủ
mạnh về mặt quân sự thì việc dùng văn hóa để bảo vệ chủ quyền là một điều tất
yếu (theo TS.Trần Thu Dung hiện đang cư trú tại Pháp). Vì vậy, việc nghiên cứu 3
CHNN nhằm duy trì và mở rộng phạm vi sử dụng những giá trị di sản văn hóa
của cha ông và hướng tới PTBV là những công việc vừa có giá trị thực tiễn vừa
có giá trị thời sự.
1.2. Giá trị khoa học của đề tài
Mỗi một tộc người trong khối cộng đồng 54 dân tộc trên đất nước Việt
Nam đều góp sức vào quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Trong đó, tộc
người Tày là tộc người có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các dân tộc khác cùng chung
sống trên địa bàn. Đặt vấn đề nghiên cứu CHNN Tày luận án mong muốn có thể
lý giải được tiêu chí lựa chọn của mình khi chọn “ngôn ngữ của một dân tộc đa
số” trong vùng ĐB Việt Nam để tìm hiểu sự lan tỏa và mức ảnh hưởng của ngôn
ngữ đó trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Cả hai tộc người Tày – Việt đã sát
cánh bên nhau trong quá trình dựng nước và giữ nước, xác lập nên các giá trị
văn hoá mang tính bản địa để tồn tại trước khi chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán
dưới thời nhà nước Văn Lang – Âu Lạc. Là một thành tố của văn hóa, ngôn ngữ
động qua lại giữa yếu tố vùng và VTNN (vị thế ngôn ngữ) với sự PTBV sẽ là
những lý luận ban đầu để khơi dậy một hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực
này.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Trên thế giới
2.1.1. Quan điểm phủ quyết trong nghiên cứu ngôn ngữ DTTS
Một số nhà nghiên cứu cho rằng việc giữ lại quá nhiều ngôn ngữ trong
một chừng mực nào đó sẽ làm chia cắt đất nước và là nguyên nhân của những
xung đột sắc tộc và thậm chí họ còn cho rằng quá nhiều ngôn ngữ cùng được sử
dụng sẽ gây trở ngại đáng kể trên con đường phát triển, cản trở việc thống nhất
dân tộc. Pawley [136, tr.10] đã viện dẫn bản sắc dân tộc “thường mang đến
những vấn đề về chính trị cho dân tộc đó”. Nhiều dân tộc ở châu Phi đã phải 5
chịu những cảnh tương tự. Tuy nhiên, những vấn đề này tỏ ra không đúng với
các nước như Thuỵ Sĩ, Ấn Độ Những nước này đều là những cộng đồng đa
ngữ, nhưng ngôn ngữ không hề ảnh hưởng tới việc chia cắt đất nước.
Trước những năm 90 những bài nghiên cứu của Hill [127], Dorian [114],
Fishman [117]… còn chưa thực sự chú ý tới việc phân tích CHNN thiểu số và
nhiều khi coi CHNN là những hiện tượng tự nhiên thì cho đến cuối những năm
1990 đầu năm 2000 các tác giả này [115,118,131,…] đã khẳng định tầm quan
trọng của ngôn ngữ DTTS và đồng thời đề ra các phương pháp tìm hiểu CHNN
hiện đang tồn tại với những biện pháp đề xuất kịp thời để duy trì và mở rộng
phạm vi sử dụng ngôn ngữ các dân tộc.
2.1.2. Quan điểm ủng hộ nghiên cứu ngôn ngữ các DTTS
Đối với mỗi một dân tộc, ngôn ngữ có tầm quan trọng đặc biệt, ngôn ngữ
đã trở thành phương tiện ghi lại kinh nghiệm lịch sử, tri thức, trí tuệ… tạo nên
văn hoá của mỗi dân tộc [27, tr.137]. Ở Việt Nam, ngôn ngữ chính là một trong
ba tiêu chí để xác định thành phần dân tộc: ngôn ngữ là phương tiện để đoàn kết
DTTS tại mục d, điều 1, phần III đã quy định “mỗi dân tộc (…) có quyền tự trị,
nghĩa là được giải quyết lấy vấn đề địa phương chỉ quan hệ đến dân tộc mình
được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hóa
của mình”.
Tiếp cận các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, để phục
vụ cho luận án của mình, chúng tôi xin được điểm qua ba hướng nghiên cứu: 1.
Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ các DTTS Việt Nam; 2. Lịch sử nghiên cứu ngôn
ngữ Tày; 3. Lịch sử nghiên cứu CHNN ở Việt Nam nói chung và trong thời kì
hội nhập – phát triển nói riêng.
1. Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ các DTTS Việt Nam
Theo hướng này, luận án đã tiếp cận các tác phẩm có giá trị của các nhà
nghiên cứu Vương Toàn [79,80], Hoàng Văn Ma [49,50], Trần Trí Dõi 7
[10,14,15] Những công trình này đã giúp chúng tôi thấy được thực trạng giáo
dục ngôn ngữ vùng DTTS qua những giải pháp, những kiến nghị thiết thực của
tác giả cho sự nghiệp phát triển giáo dục văn hoá ở vùng đồng bào DTTS. Đồng
thời, các nhà nghiên cứu Hoàng Thị Châu [7,8]; Bế Viết Đẳng [23]; Nguyễn
Văn Lợi [44],… cho chúng tôi một cái nhìn khái quát bức tranh toàn cảnh về
ngôn ngữ và văn hoá các DTTS Việt Nam. Chúng tôi coi những luận điểm của
các tác giả là những gợi dẫn quan trọng cho nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ Tày
Chữ viết và văn học của người Tày đã được các học giả người Pháp
nghiên cứu từ rất sớm. Có thể kể một số công trình như: P. Silve với cuốn
Grammaire Thổ; F.M Savina với cuốn Dictionnaire Tay – Annammite –
Francais; Ediguet với cuốn Etude de langue Thổ; R.Darnault với cuốn Cours de
dialecte Thổ 1939 Năm 1937, ông Coedès - Giám đốc Trường Viễn Đông Bác
Cổ đã cho sưu tập văn học dân gian người Tày của tỉnh Bắc Kạn, ông cho những
sưu tầm được đó rất giá trị và đem lưu giữ trong kho lưu trữ của nhà trường. Có
mạn và chưa có tính hệ thống. Những công trình nghiên cứu này mới chủ yếu
tập trung giới thiệu hay mô tả sự vận hành của trạng thái ngôn ngữ Tày trong
những cảnh huống nhất định. Bên cạnh đó, đã có những nghiên cứu chuyên
khảo, song chưa sâu đặc biệt là hướng nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc Tày trong
thời kì hội nhập nhằm duy trì và mở rộng phạm vi sử dụng ngôn ngữ Tày vẫn
chưa được đề cập đến.
3. Lịch sử nghiên cứu CHNN các DTTS Việt Nam nói chung và trong thời kì
hội nhập - phát triển nói riêng.
Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra các ngôn ngữ Việt Nam đang mất dần đi, đặc
biệt là sức sinh tồn ở các ngôn ngữ tộc người Việt đang chịu ảnh hưởng trực tiếp
từ chính sách dân tộc và chính sách ngôn ngữ của nhà nước. Thêm vào đó, các
ngôn ngữ dân tộc hiện nay cũng đang chịu sự tác động mạnh mẽ của sự phát 9
triển kinh tế và môi trường văn hoá mở. Những đặc điểm riêng của tình hình
ngôn ngữ xã hội học ở Việt Nam đã trực tiếp ảnh hưởng tới sức sống của các
ngôn ngữ.
Trong thời gian gần đây, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã cảnh báo sức
sống ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc người Việt đang bị suy giảm. Trong
nhiều bài nghiên cứu của mình, nhà ngôn ngữ học người Tày Hoàng Văn Ma đã
chỉ rõ: “hiện trạng biến đổi nhanh của chúng (ngôn ngữ các dân tộc thiểu số –
chúng tôi nhấn mạnh) cùng với các xu hướng phá vỡ cấu trúc tộc người trong sự
tiếp xúc ngôn ngữ và văn hoá ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu đã rung một
hồi chuông cảnh báo các nhà nghiên cứu Việt Nam học nói chung và các nhà
ngôn ngữ học Việt Nam nói riêng về số phận các ngôn ngữ, đặc biệt là các ngôn
ngữ dân tộc đang có nguy cơ mất đi, cùng với những nền văn hoá tộc người chủ
nhân” [49].
Ngoài nghiên cứu của Hoàng Văn Ma, còn có nghiên cứu của nhiều các
tác giả khác như Hoàng Văn Hành, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn
trong hệ thống giao tiếp của cộng đồng người Việt Nam theo các cấp bậc chức
năng xã hội của từng ngôn ngữ” [107]. Điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu vị thế
của mỗi ngôn ngữ cần khác với cách truyền thống để đáp ứng được nhu cầu của
thời đại. Những chính sách ngôn ngữ sẽ mang lại hiệu quả cao nếu được dựa
trên nghiên cứu nhằm vào những mặt yếu của ngôn ngữ DTTS và đưa ra được
giải pháp khắc phục tạo điều kiện PTBV không những cho chính ngôn ngữ đó
mà còn cho vùng nơi ngôn ngữ đó tồn tại.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN
Ngôn ngữ dân tộc Tày vốn là ngôn ngữ có tác động mạnh mẽ tới sự phát
triển của vùng ĐB ở Việt Nam nhưng sức sống của ngôn ngữ này đang có dấu
hiệu suy giảm. Vì vậy mục đích của luận án là tìm hiểu CHNN dân tộc Tày qua
việc khảo sát thực trạng của nó tại vùng ĐB để xác định tầm quan trọng của 11
tiếng Tày - ngôn ngữ chủ thể vùng với sự PTBV. Qua đó, luận án sẽ gióng một
tiếng chuông cảnh tỉnh trước hiện tượng “xói mòn” các ngôn ngữ dân tộc và để
xuất một số giải pháp duy trì và nâng cao vị thế tiếng Tày để PTBV vùng. Để
đạt được mục đích đã nêu ra, luận án đặt ra các nhiệm vụ như sau:
- Nghiên cứu lý thuyết một cách có hệ thống về CHNN trong đó tập trung
tới những vấn đề của CHNN trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, từ đó xây
dựng CTTĐ (công thức tính điểm) để đưa ra giả thuyết về sự thay đổi của
CHNN DTTS.
- Xem xét trường hợp cụ thể để từ đó hướng tới cảnh báo về tình trạng bị
thu hẹp phạm vi sử dụng của ngôn ngữ DTTS nói chung.
- Tiến hành khảo sát vị thế - yếu tố chủ đạo và các yếu tố cấu thành CHNN
dân tộc Tày vùng ĐB.
- Đề xuất các giải pháp duy trì và mở rộng phạm vi sử dụng ngôn ngữ dân
tộc Tày có giá trị thực tiễn, báo động nhiều vấn đề và cũng là vấn đề
chung của ngôn ngữ DTTS.
huống của các vùng khác nhau. CHNN của từng vùng với những nét đa dạng sẽ
tạo nên bức tranh chung đầy màu sắc nhưng cũng thực sự khó đánh giá nếu
không dựa trên cơ sở điều tra áp dụng giống nhau cho từng tỉnh, thống nhất về
số lượng và các tiêu chí điều tra để dựa vào đó đi dến kết luận chung cho cả
vùng ĐB. Thêm vào đó, chúng tôi còn sử dụng phương pháp điều tra định lượng
của xã hội học - ngôn ngữ học tộc người để nghiên cứu về phương diện xã hội
của tiếp xúc ngôn ngữ, nhằm đưa ra một cái nhìn tổng thể và nêu những dự báo
về sự phát triển ngôn ngữ, văn hóa của tộc người Tày trong tiến trình phát triển
ở Việt Nam. Chúng tôi cho rằng nghiên cứu trên quan điểm tổng thể và phân
tích trên các cứ liệu cụ thể sẽ giúp chúng tôi đánh giá được các vấn đề đang tồn
tại để có những giải pháp kịp thời duy trì và mở rộng phạm vi sử dụng và phát
triển ngôn ngữ dân tộc Tày. Chúng tôi nghiên cứu ngôn ngữ Tày trong MQH 13
tổng thể với các ngôn ngữ khác trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, cũng như
trong MQH với các hiện tượng xã hội khác như kinh tế, chính trị, văn hóa, dân
tộc với nhận diện người Tày trong một phạm vi cư trú có trình độ phát triển kinh
tế, văn hóa - xã hội khá cao. Đồng thời, chúng tôi cũng sẽ tuân theo quan điểm
cụ thể để xem xét hiện tượng phát triển ngôn ngữ Tày theo các nhóm xã hội của
cộng đồng cư dân ở các vùng để thấy được trình độ phát triển ngôn ngữ trong
nội bộ của tộc người Tày.
Ngoài ra , luận án còn sử dụng ca
́
c phương pháp : miêu tả , so sánh đối
chiếu kết hợp với thống kê . Các phương pháp này được sử dụng trong chương
ba nhiều hơn cả đặc biệt với vấn đề tìm hiểu CHNN dân tộc Tày trong sự phát
triển bền vững vùng ĐB Việt Nam. Còn với phương pháp so sánh đối chiếu,
chúng tôi đã dùng phổ biến trong việc khảo sát so sánh từ vựng của tiếng Tày và
tiếng Việt để tìm hiểu sự mai một của tiếng Tày.
thức để tạo nên nguồn tư liệu có giá trị nhằm làm sáng tỏ các giả thuyết nghiên
cứu của luận án. Trước tình hình chung cho rằng tiếng Tày có vị thế tương đối
an toàn, số người sử dụng ổn định thì chúng tôi đưa ra giả thuyết cho rằng diện
mạo CHNN vùng ĐB đang thay đổi, vị thế của tiếng Tày cũng đang giảm sút và
ảnh hưởng không nhỏ tới sự PTBV vùng.
Để tìm hiểu CHNN tiếng Tày vùng ĐB có thực sự an toàn hay cũng đang
thay đổi trong thời kỳ hội nhập, chúng tôi xin đề xuất một hướng nghiên cứu:
Nghiên cứu lý thuyết để có được những nhận định ban đầu về CHNN dân tộc
Tày. Thêm vào đó, chúng tôi xây dựng CTTĐ để xác định độ nguy cấp của ngôn
ngữ được lựa chọn nghiên cứu. Những khảo sát tiếp theo sẽ làm sáng tỏ giả
thuyết mà chúng tôi đặt ra. Kết quả nghiên cứu CHNN sẽ giúp chúng tôi đánh
giá sơ bộ vị thế các ngôn ngữ DTTS chung và chỉ ra sự thay đổi của CHNN mà
chúng tôi lựa chọn, qua đó sẽ xác định được ảnh hưởng của giá trị ngôn ngữ dân
tộc tới việc PTBV vùng.
7. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN