Nhận thức và vận dụng quan điểm của C.Mác về động lực phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM ĐỨC THƯ

NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA
C.MÁC VỀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NHẰM THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT
NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA
C.MÁC VỀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NHẰM THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM HIỆN NAY Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.80

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lại Quốc Khánh

C.M¸c……………………………………………………………… 46
2.1. Hiện trạng động lực phát triển kinh tế của nước ta hiện nay. 49 4
2.1.1. Về khoa học trong phát triển kinh tế 49
2.1.2. Về sở hữu trong phát triển kinh tế. 55
2.1.3. Về vai trò nhà nước trong phát triển kinh tế. 68
2.2. Giải pháp phát huy vai trò của các động lực phát triển kinh tế
hiện nay. 78
2.2.1. Mối quan hệ biện chứng giữa các giải pháp về động lực phát
triển kinh
tế………………………………………………………………………74
2.2.2. Giải pháp phát huy vai trò động lực của nhà nước trong phát triển
kinh tế. 76
2.2.3. Giải pháp phát huy vai trò động lực của khoa học trong phát triển
kinh tế 79
2.2.4. Giải pháp phát huy vai trò động lực của sở hữu trong phát triển
kinh tế……………………………………………………………………….91
KÕt luËn 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

nhiều khuyết điểm, yếu kém. Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng,
hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo 6
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chậm; chế độ phân phối bất hợp lý, phân
hoá xã hội tăng lên. Thể chế kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ
tầng vẫn là những điểm yếu cản trở sự phát triển. Nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ. Một
số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể nhân dân chuyển biến chậm. Còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn
định chính trị - xã hội, v.v
Để có thể tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thành công
những mục tiêu phát triển, trong đó, mục tiêu ngắn hạn là đến năm 2020, đưa
đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, cần
đẩy mạnh hơn nữa quá trình đổi mới tư duy, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ
hơn nữa các động lực phát triển, trong đó có các động lực phát triển kinh tế.
Để thực hiện được mục tiêu đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng
là phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn di sản lý
luận mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin để lại, trong đó có di sản
lý luận về triết học-kinh tế. Trong những năm vừa qua, những công trình
nghiên cứu di sản lý luận triết học-kinh tế của các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác-Lênin theo hướng tiếp cận mới, với những cách kiến giải mới xuất hiện
ngày càng nhiều, góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận cho sự nghiệp đổi mới
của đất nước. Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng, vẫn còn nhiều vấn
đề cần được nhận thức, luận giải sâu sắc hơn nữa ở tầm triết học, nhất là nhận
thức và luận giải trên cơ sở so sánh, đối chiếu, tranh luận với những quan
điểm mới trong lĩnh vực lý luận triết học-kinh tế.
Trong bối cảnh Đảng ta kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên trì

động lực quan trọng trong sự nghiệp đổi mới. 8
Lê Hữu Tầng: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam-vấn đề nguồn gốc
và động lực (Nxb. KHXH , Hà Nội 1991), Tác giả đã nêu vấn đề mâu thuẫn
trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, mâu thuẫn vừa là nguồn gốc
vừa là động lực phát triển xã hội. Về động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội
(Nxb. KHXH, Hà Nội 1997), Tác giả đã phân tích và làm rõ hệ thống động
lực phát triển kinh tế-xã hội, luận giải sâu sắc một số động lực cơ bản đối với
sự phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta.
Đặng Quang Định: Quan điểm của Đảng về động lực cơ bản trong phát
triển kinh tế-xã hội ở nước ta (Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2008). Dựa trên
quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin coi động lực cơ bản thúc đẩy xã hội phát
triển là khối đông đảo quần chúng, tác giả đã nêu xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước hiện nay.
Phạm Ngọc Quang: Những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình nhận
thức và vận dụng triết học Mác-Lênin về con đường và động lực lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam hiện nay (Tạp chí Triết học số 3-2008), Tác giả đã nêu ra
động lực của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là một hệ thống kết hợp hài
hòa lợi ích cá nhân, tập thể và toàn dân thi đua xã hội chủ nghĩa; đấu tranh
giai cấp, hội nhập kinh tế quốc tế, đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ hai: là các công trình nghiên cứu về động lực phát triển kinh tế
Việt Nam hiện nay. Có thể kể đến một số công trình sau:
- Hà Chuyên: Động lực phát triển kinh tế-xã hội- văn hóa của Việt Nam
để Việt Nam có thể trở thành con rồng Châu Á (Nxb. Thống kê 2002). Theo
tác giả, dựa trên kinh nghiệm phát triển của các nước Đông Á trong vài thập
kỷ trở lại đây như: Hàn Quốc, Singgapo, Đài Loan , để có động lực của sự
phát triển, Việt Nam cần dưạ trên sự kết hợp các yếu tố truyền thống và hiện

vận dụng các quan điểm ấy nhằm tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế 10
Việt Nam hiện nay. Tuy vậy, đây vẫn là những tài liệu tham khảo hữu ích cho
việc thực hiện đề tài nghiên cứu của chúng tôi.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ hệ thống quan điểm cơ bản của
C.Mác về động lực phát triển kinh tế và vận dụng các quan điểm ấy để nhận
thức và giải quyết một số vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế nước
ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, xác định các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu đề tài, hệ
thống hóa và luận giải những quan điểm cơ bản của C.Mác về động lực phát
triển kinh tế.
Thứ hai, vận dụng quan điểm của C. Mác về động lực phát triển kinh tế
để xem xét hiện trạng các động lực chủ yếu của kinh tế Việt Nam hiện nay, đề
xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm của C.Mác về động lực phát
triển kinh tế và một số vấn đề về động lực trong qúa trình phát triển kinh tế ở
Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu:
+ Tập trung nghiên cứu các quan điểm cơ bản của C.Mác về động lực
phát triển kinh tế được C.Mác và Ăngghen phát biểu trong các tác phẩm kinh
tế tiêu biểu của các ông, nhất là các tác phẩm nghiên cứu về xã hội loài người
từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời.

VỀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm “động lực”
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do Hoàng Phê chủ biên thì
động lực là “cái thúc đẩy, làm cho phát triển” [56, tr. 451] .
Theo Aphannaxep thì, động lực là “nút bấm của hành động”, là “huyệt”
mà sự tác động vào sẽ gây ra phản ứng nhanh nhạy nhất của cơ thể xã hội”
[61, tr. 27]. Cho nên, chỉ thuần túy riêng về mục đích của động lực thì khái
niệm này gần nghĩa với kích thích, đòn bẩy.
Do tính khách quan của mối liên hệ phổ biến, nên mọi sự vật, hiện
tượng trong quá trình vận động và phát triển luôn có những yếu tố tác động
vào, trong đó có những yếu tố tác động làm kìm hãm sự phát triển (tức là trở
lực) và cũng có những yếu tố tác động vào làm thúc đẩy sự phát triển (tức là
động lực). Quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng mang tính
khách quan, cho nên động lực cũng mang tính khách quan, tùy thuộc vào
những điều kiện lịch sử cụ thể thì bản thân các yếu tố tác động vào sự vật,
hiện tượng cũng mang tính lịch sử cụ thể, có thể lúc này, nơi này là động lực,
nhưng cũng yếu tố đó ở nơi khác, lúc khác không phải là động lực, thậm chí
có thể trở thành trở lực.
Khi cách mạng Tháng 10 Nga thành công, để huy động, phát huy mọi
tiềm lực kinh tế và sức mạnh của đất nước, V.I.Lê-nin đã thi hành chính sách
cộng sản thời chiến và chính sách này đã phát huy tác dụng to lớn giúp nhà
nước Nga lúc bấy giờ chiến thắng thù trong giặc ngoài, bảo vệ được thành quả
cách mạng. Tuy nhiên, khi thù trong giặc ngoài qua đi thì chính sách cộng sản
thời chiến lại chính là yếu tố cản trở sự phát triển kinh tế nói riêng và đất nước 13
chung, chính sách này đã phản tác dụng và không còn phù hợp nên V.I.Lê-nin
đã phải thay thế bằng chính sách kinh tế mới (NEP).

quyết mâu thuẫn nội tại của sự vật hiện tượng.
Như vậy, theo chúng tôi: Động lực là yếu tố kích thích sự vận động và
phát triển của sự vật, hiện tượng. Do đó, động lực là chất “xúc tác” trong quá
trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Động lực khác nguồn lực,
nếu như nguồn lực là các yếu tố tham gia vào việc cấu thành nên sự vật, hiện
tượng còn động lực chỉ là “chất xúc tác” tham gia vào quá trình vận động của
sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, trên nhiều phương diện, cách phân chia như
vậy cũng chỉ mang tính chất tương đối, bởi vì nhiều khi xét trong hoàn cảnh
này, mối quan hệ này thì là động lực, nhưng xét trong mối quan hệ khác hoàn
cảnh khác lại là nguồn lực.
Để tìm ra được động lực của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện
tượng, trước hết, cần tìm hiểu tính chỉnh thể của sự vật, hiện tượng - hay kết
cấu nội tại của chúng, trong quá trình vận động và phát triển, cái tác động vào
các kết cấu và làm thúc đẩy nhanh quá trình biến đổi ấy chính là động lực của
sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
1.1.2. Khái niệm động lực phát triển kinh tế theo quan điểm duy vật
của C.Mác
Để duy trì và nâng cao chất lượng đời sống của mình, con người phải
tiến hành sản xuất của cải vật chất. Nếu không có sản xuất thì xã hội sẽ tiêu
vong. Vì thế, sản xuất của cải vật chất là hành động lịch sử mà con người phải
thực hiện hàng ngày, hàng giờ từ ngàn vạn năm trước cũng như hiện nay và
mai sau. Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ tạo ra của cải vật chất
cho sự tồn tại của bản thân, mà còn thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất
những quan hệ xã hội của mình. 15
Sản xuất vật chất là quá trình hoạt động có mục đích của con người, là
quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên, cải
biến các dạng vật chất của giới tự nhiên tạo ra của cải vật chất phục vụ con

sản xuất ra những tư liệu để sinh sống và trao đổi vật phẩm với nhau” [49, tr.
270]. Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên gọi là lực lượng sản xuất, mối
quan hệ giữa con người với con người gọi là quan hệ sản xuất, đây là hai mặt,
hai yếu tố cấu thành của kinh tế, của hoạt động sản xuất vật chất của con
người, hai mặt này vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau.
Lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ của nó qua công cụ sản xuất, điều
này đã được C.Mác khẳng định:

“Những thời đại kinh tế khác nhau không
phải chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào
với những tư liệu lao động nào” [41, tr. 269]. Trong lịch sử phát triển công cụ
sản xuất của con người từ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, cơ khí, nửa tự động và đến
bây giờ là tự động hóa. Công cụ sản xuất của con người đã có ba bước thay
đổi về chất đó là từ đồ đá lên kim loại thủ công, từ kim loại thủ công lên cơ
khí, từ cơ khí lên tự động hóa.
Nhờ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII đã
đưa công cụ sản xuất từ thủ công lên cơ khí, đặc biệt cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật lần thứ hai và ba diễn ra trong thế kỷ XX đã đưa công cụ sản xuất
từ cơ khí lên tự động hóa và mở ra một thời đại kinh tế mới đó là kinh tế tri
thức. Yếu tố trực tiếp quyết định sự phát triển của công cụ lao động chính là
khoa học kỹ thuật, bởi nhờ chính thành tựu khoa học kỹ thuật (những phát
kiến khoa học), công cụ lao động được cải tiến không ngừng nhằm giảm nhẹ
lao động cơ bắp của con người và đem lại hiệu quả lao động cao hơn. Do đó,
khoa học kỹ thuật là động lực trực tiếp đưa đến cuộc cách mạng trong lực
lượng sản xuất, không chỉ tạo ra bước nhảy vọt về chất trong bản thân lực 17
lượng sản xuất, mà còn quyết định các bước chuyển biến cách mạng trong lịch
sử xã hội, đưa xã hội từ nền văn minh này sang nền văn minh khác cao hơn.

lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành xiềng xích của các lực lượng sản
xuất”

[11, tr. 15-16],

dẫn đến đòi hỏi phải xóa bỏ hình thức sở hữu cũ để tạo ra
kiểu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất mở đường
cho lực lượng sản xuất phát triển. Như vậy, khi quan hệ sở hữu phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất là địa bàn, là động lực cho lực lượng sản xuất
phát triển, ngược lại nếu quan hệ sở hữu lạc hậu hoặc vượt trước trình độ của
lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Đến đây, chúng ta có thể rút ra một kết luận rằng: một quan hệ sản xuất
được coi là phù hợp với lực lượng sản xuất, nếu ở một trình độ phát triển nhất
định của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất ấy đáp ứng được những yêu cầu
của lực lượng sản xuất đặt ra. Nhưng làm thế nào để biết được quan hệ sản
xuất thoả mãn những yêu cầu để phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất.
Muốn vậy, cần phải có các tiêu chuẩn để căn cứ vào đó mà đánh giá,
nhận biết quan hệ sản xuất có phù hợp hay không. Như vậy, tiêu chuẩn phù
hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất là những quy định dùng làm
căn cứ để đánh giá sự phù hợp các quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất
song dựa vào cơ sở nào để rút ra tiêu chuẩn về sự phù hợp;
+ Quan hệ sản xuất phải đáp ứng những yêu cầu khách quan của người
lao động với tư cách là lực lượng sản xuất cơ bản nhất về các mặt sở hữu,
quản lý và phân phối. Điều đó kích thích được sự nỗ lực sáng tạo của người
lao động ngay trong lực lượng sản xuất.
+ Tạo ra sự gắn bó hữu cơ giữa các yếu tố trong lực lượng sản xuất,
thúc đẩy sự phân công lao động xã hội, tạo ra nhiều ngành nghề mới, giải
quyết tốt việc làm cho người lao động.



20
thể kéo lùi quá trình phát triển kinh tế của quốc gia. Điều này giải thích tại sao
ở nước ta từ những năm 80 của thế kỷ XX, khi nước ta rơi vào khủng hoảng
kinh tế-xã hội sâu sắc do nhận thức sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cho nên, để đưa nước ta
thoát khỏi cuộc khủng hoảng này, Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới mà
phương châm đầu tiên là: đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật, nói rõ sự thật , chứ chúng ta không tiến hành đổi mới hay thay
đổi bản thân kinh tế, bản thân lực lượng sản xuất
Đến đây, theo chúng tôi: Động lực để kinh tế phát triển là sự phát triển
của khoa học và một quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất phù hợp trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua hệ thống chính sách,
pháp luật về kinh tế của nhà nước.
Như vậy, dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, chúng tôi cho rằng khoa
học là “chất xúc tác” đầu tiên của kinh tế, tiếp theo là sở hữu và nhà nước. Bởi
vì, ngay từ giai đoạn lịch sử đầu tiên của mình, con người đã chiếm hữu,
chiếm lĩnh những điều kiện tự nhiên như môi trường sống, nguồn thức ăn.v.v
và tiến hành “sản xuất” mang tính bản năng, và nếu con người chỉ dừng lại ở
việc chiếm hữu môi trường sống và kiếm ăn theo bản năng thì con người cũng
chỉ dừng lại như bao các loài động vật khác. Nhưng trong quá trình kiếm ăn
ấy, con người đã dần dần tích lũy những tri thức, kinh nghiệm (tức là khoa
học ở dạng sơ khai nhất), và nhờ vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm
này mà con người đã thay đổi cách thức kiếm sống, biết chế tạo ra các công cụ
sao cho việc kiếm ăn được tiến hành có hiệu quả và an toàn hơn. Từ chỗ chỉ
kiếm ăn theo bản năng, nay con người kiếm ăn đã có mục đích và nền sản
xuất của xã hội ra đời. Như vậy, khoa học là yếu tố có vai trò đầu tiên trong
việc thúc đẩy sản xuất phát triển, khi sản xuất phát triển của cải trở lên dư
22
thành động lực của sự phát triển lực lượng sản xuất thì không phải khoa học
nói chung mà chỉ có khoa học được đem áp dụng vào sản xuất mới có tác
dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, điều này được C.Mác chỉ rõ
“Thiên nhiên không tạo ra máy móc, đầu máy xe lửa, đường sắt, điện báo,
máy sợi con dọc di động…Tất cả thứ đó là thành quả sáng tạo của bộ óc con
người, được bàn tay con người tạo ra, là sức mạnh đã được vật hóa” [51, tr.
372]. C.Mác là người đã chỉ ra cơ sở kỹ thuật của nền kinh tế công nghiệp là
máy móc mà trong đó, yếu tố có vai trò cách mạng trong việc đưa năng suất
lao động tăng vọt là máy công tác, nhờ đó chuyển nền kinh tế nông nghiệp thủ
công lên công nghiệp. Quá trình vật hóa này được thực hiện từ cuối thế kỷ
XVIII với việc phát minh ra máy hơi nước đã đưa quá trình lao động-sản xuất
của con người thay đổi về chất, từ đây khoa học đã thúc đẩy sản xuất phát
triển, làm thay đổi bộ mặt của thế giới một cách nhanh chóng, điều này đã
được C.Mác và Ăngghen phát biểu: “Chúng ta sẽ hài lòng nhận thấy rằng
công việc trong lĩnh vực khoa học cũng được bù đắp về mặt vật chất, rằng chỉ
một thành quả khoa học như chiếc máy hơi nước của Giêm-oát, trong năm
mươi năm tồn tại đầu tiên của nó, cũng đã mang lại cho thế giới nhiều hơn so
với cái mà thế giới đã chi phí ngay từ đầu cho sự phát triển của khoa học” [31,
tr. 762]. Và sở dĩ giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ
của nó đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng
sản xuất của tất cả thế hệ trước kia gộp lại là nhờ áp dụng những thành tựu
khoa học vào việc chinh phục tự nhiên như: sản xuất bằng máy, việc áp dụng
hóa học vào công nghiệp, nông nghiệp, sử dụng tầu chạy bằng hơi nước,
đường sắt, khai phá các lục địa và khai thông các dòng sông…
Như vậy, khoa học muốn phát huy tác dụng đối với sản xuất, bao giờ
cũng phải thông qua những thiết bị, máy móc , nói chung là những công cụ
sản xuất, ở đó các quy luật do khoa học phát hiện chi phối sự vận động để
24
tư liệu lao động có được một phương tức tồn tại vật chất đòi hỏi phải thay thế
sức người bằng những lực lượng tự nhiên và thay thế những phương pháp nệ
cổ có tính chất kinh nghiệm bằng việc áp dụng một cách tự giác khoa học tự
nhiên” [41, tr. 556]. Điều đó, khoa học có vai trò cực kỳ to lớn đối với sự phát
triển của lực lượng sản xuất, và nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là khi
được chuyển hóa, ứng dụng ở một mức độ nhất định nào đó, điều này đã được
C.Mác nhận định: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức
xã hội phổ biến [Wisser Knowledge] đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực
lượng sản xuất trực tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện của
chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến mức nào sự kiểm soát của trí
tuệ phổ biến và đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy;
những lực lượng sản xuất của xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không
những dưới hình thức tri thức, mà cả như là những cơ quan thực hành xã hội
trực tiếp, những cơ quan trực tiếp của quá trình sống hiện thực” [51, tr. 372-
374]. Mức độ biến đổi khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp là mức độ
xây dựng lực lượng sản xuất ở dạng tri thức, hay nói cách khác, những tri thức
này (khoa học) chiếm vị trí như thế nào trong các lực lượng sản xuất, tức là sự
sáng tạo vào ứng dụng các phương tiện kỹ thuật vào sản xuất, điều này thể
hiện qua sự phát triển của các hệ thống máy móc.
Chủ nghĩa tư bản đã đánh bại chế độ phong kiến bằng máy móc, máy
móc đã thay thế sức mạnh cơ bắp, thao tác của đôi tay, C.Mác đã nói: “Do có
được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất
của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài
người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình. Cái cối quay bằng tay
đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà
tư bản công nghiệp” [30, tr. 187]. Và ngày nay, các chức năng cao cấp trong
lao động như logich, điều khiển đang được các máy tính, các hệ thống hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status