Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII-XVIII - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
====================
NGUYỄN THỊ TƢƠI TƢ TƢỞNG VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN TRONG
TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ XVII – XVIII LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Triết học
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
====================

học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII 13
1.2.1. Tư tưởng sơ khai về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây
Âu thời cổ đại 13
1.2.2. Tư tưởng thần quyền thời trung cổ và học thuyết chính trị phi
tôn giáo của Makiaveli thời Phục hưng 23
Chƣơng 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG VỀ
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ
XVII - VIII 34
2.1. Quan điểm về quyền tự nhiên, chủ quyền nhân dân và khế ƣớc
xã hội 34
2.2. Quan điểm về sự phân quyền 55
2.3. Quan điểm về nhà nƣớc và pháp luật 75
2.4. Một số giá trị và hạn chế của tƣ tƣởng về nhà nƣớc pháp quyền
trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII 83
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới ở nƣớc ta, bên cạnh những đổi mới mạnh
mẽ về kinh tế, xây dựng và phát triển một nền kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa; thì về mặt chính trị, ở kiến trúc thƣợng tầng, vấn
đề xây dựng nhà nƣớc pháp quyền đang đƣợc đặt ra nhƣ một tất yếu khách
quan. Đảng và Nhà nƣớc luôn xác định một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng
là tiếp tục xây dựng nhà nƣớc ta theo hƣớng nhà nƣớc pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân, với tính chất là công cụ bảo vệ vững
chắc các quyền tự do của nhân dân.

pháp quyền đã bắt đầu định hình trong quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về nhà nƣớc, nhƣng thuật ngữ nhà nƣớc pháp quyền chƣa đƣợc sử
dụng trong văn kiện. Đến tận Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (4/1994),
lần đầu tiên thuật ngữ này mới đƣợc sử dụng trong văn kiện. Tƣ tƣởng đó
đƣợc phát triển liên tục qua các Đại hội VII, VIII và đến Đại hội IX
(4/2001), Đảng ta xác định Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng và chỉ rõ: “Nhà nƣớc ta là công cụ chủ
yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nƣớc pháp quyền của
dân, do dân, vì dân”[13, 131]. Đại hội X, Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục
khẳng định: Nhà nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhà nƣớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất
cả quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Nhƣ vậy có thể thấy, trong quá trình lãnh đạo đất nƣớc từ khi bắt đầu
công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định việc tiếp tục xây dựng nhà
nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực tế cho thấy chúng ta
cũng đang ở giai đoạn định hƣớng xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, chứ không có nghĩa là đã đạt đƣợc nhà nƣớc pháp quyền một
4
cách đầy đủ. Để công cuộc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam có thể thu đƣợc
những kết quả thực sự, bên cạnh việc trở lại nghiên cứu những tƣ tƣởng
kinh điển của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về nhà nƣớc thì việc nghiên cứu những tƣ tƣởng về nhà nƣớc pháp
quyền ở Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII là hết sức quan trọng. Trong một thế
giới đầy biến động nhƣ hiện nay, vai trò của nhà nƣớc cũng nhƣ các vấn đề
về nhà nƣớc và pháp luật ngày càng trở nên phức tạp và có ý nghĩa quan

hội Nhân văn Hà Nội xuất bản tác phẩm Tinh thần pháp luật (L’esprit des
lois) của S.L Môngtexkiơ cũng do dịch giả Hoàng Thanh Đạm dịch. Cuốn
sách đƣợc xuất bản năm 1748. Tác phẩm đã phác thảo những nét cơ bản về
xã hội công dân và nhà nước pháp quyền. Trong đó đã tiếp tục phát triển lí
thuyết phân quyền và xây dựng ý tƣởng về cơ chế kiềm chế, kiểm soát lẫn
nhau của ba bộ phận lập pháp, hành pháp, tƣ pháp. S.L Môngtexkiơ đã đề
cập và lí giải hàng loạt vấn đề lí luận và thực tiễn trong luật học cũng nhƣ
khoa học đƣơng thời. Đây là cuốn sách mà S.L Môngtexkiơ đã “làm việc
bằng cả cuộc đời mình”. Cuốn sách có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
chính tác giả cũng nhƣ các học giả sau này.
Tác phẩm Bàn về khế ước xã hội của G.G Rutxô ra đời năm 1762
thƣờng đƣợc coi là tác phẩm kinh điển chứa đựng những tƣ tƣởng tiên
phong về cách mạng dân chủ. Trong đó trình bày những tƣ tƣởng cơ bản
của G.G G.G Rutxô về xã hội, xây dựng xã hội công dân và nhà nƣớc pháp
quyền. Tác phẩm này đƣợc dịch giả Hoàng Thanh Đạm dịch xong năm
1982, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh in năm 1992. Tác giả Trọng
Chân trong bài Tìm hiểu Khế ước xã hội, đƣợc trích ở đầu tác phẩm đã viết:
“Có những cuốn sách khi tác giả của nó còn sống thì bị cấm đoán, truy nã,
nhƣng tƣ tƣởng của sách thì tạo ra sự chuyển biến lớn lao trong xã hội và
đã trở thành di sản trí tuệ quý báu cho nhiều thế hệ mai sau” [49, 11].
6
Ở Việt Nam những năm gần đây, có nhiều cuốn sách viết về chủ đề
nhà nƣớc pháp quyền đƣợc công bố. Trƣớc hết, các nghiên cứu về nhà
nƣớc pháp quyền tại Pháp, Mỹ, Đức…trong vài thập niên qua đã đƣợc trình
bày tổng thuật trong chuyên khảo Tìm hiểu về nhà nước pháp quyền do
viện nhà nƣớc và pháp luật chủ trì, Đào Trí Úc chủ biên, nhà xuất bản
Pháp lý ấn hành năm 1992. Đây là một trong những công trình sớm nhất về

phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền.
Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Châu Loan, thực hiện năm 2007
với đề tài Tư tưởng triết học chính trị Rutxô trong tác phẩm “Bàn về khế ước
xã hội, giúp ta hiểu một cách chi tiết và khái quát những tƣ tƣởng chính trị nổi
bật của G.G Rutxô, thể hiện trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội.
Luận văn thạc sĩ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay do tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Quỳnh thực hiện năm 2010. Tác
giả luận văn đã trình bày khái quát những tƣ tƣởng về nhà nƣớc pháp quyền
trong lịch sử; đồng thời chỉ ra những thành quả, phân tích những mặt chƣa
làm đƣợc, giải pháp cho vấn đề xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, vấn đề về nhà nƣớc pháp quyền và tƣ tƣởng về nhà nƣớc
pháp quyền cũng đƣợc đề cập ở nhiều bài viết trên nhiều tạp chí khác
nhau, dƣới nhiều khía cạnh: Một số tư tưởng triết học chính trị của G.
Lôccơ, thực chất và ý nghĩa lịch sử của tác giả Đinh Ngọc Thạch, Tạp chí
Triết học, số 1 - 2007; G. Lôccơ – nhà triết học lớn của phong trào khai
sáng (Phạm Văn Đức, Tạp chí Triết học, số 2 - 2008); Quan niệm của G.
Lôccơ về sự hình thành và bản chất quyền lực nhà nước trên Tạp chí Thông
tin Chính trị học, số 9 - 2008 của tác giả Lê Công Sự. Bài Tư tưởng về nhà
nước pháp quyền trong lịch sử triết học trước Mác của tác giả Hoàng Thị
Hạnh, đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 11 - 2008.
8
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, trong các lí thuyết xã hội, vấn đề nhà
nƣớc là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả
và đã có rất nhiều công trình của nhiều nhà khoa học đề cập đến vấn đề nhà
nƣớc. Tuy nhiên, những công trình đó chỉ mới đề cập đến một khía cạnh
nào đó, hay tìm hiểu tƣ tƣởng của riêng một tác giả nào đó, mà chƣa khái

5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tâp trung vào một số nội dung
trong quan niệm về nhà nƣớc pháp quyền của triết học Tây Âu thế kỷ XVII
– XVIII.
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát những tƣ tƣởng về nhà
nƣớc pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII qua các nhà
tƣ tƣởng tiêu biểu của thời kỳ này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần vào hệ thống lại tƣ tƣởng của các triết học Tây
Âu thế kỷ XVII - XVIII về nhà nƣớc pháp quyền, nêu những đóng góp mà
các nhà triết học thời kỳ này đã đem lại cho thực tiễn chính trị cũng nhƣ
kho tàng tri thức nhân loại.
Có thể dùng kết quả nghiên cứu của luận văn làm tƣ liệu tham khảo
trong hoạt động quản lý nhà nƣớc, trong hoạt động nghiên cứu và giảng
dạy các chuyên môn có liên quan, phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu
của sinh viên. Luận văn đồng thời có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
các tác giả khác muốn nghiên cứu đề tài này.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có hai chƣơng, bốn tiết
Chương 1, “Tiền đề ra đời của tƣ tƣởng về nhà nƣớc pháp quyền
trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII”.
Chương 2, “Một số nội dung cơ bản của tƣ tƣởng về nhà nƣớc pháp
quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII”.
10
NỘI DUNG
Chƣơng 1:
TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN

tài nguyên của các nƣớc thuộc địa. Thời kỳ này đƣợc Mác - Ăngghen nhận
xét: “Giờ đây lần đầu tiên ngƣời ta đã thật sự phát hiện ra trái đất và đặt
nền móng cho buôn bán quốc tế sau này và … đại công nghiệp hiện đại”
[35, 459].
Tuy nhiên, sự chia cắt về kinh tế, chính trị, xã hội dƣới chế độ cát cứ
phong kiến ngày càng cản trở xu thế phát triển của lịch sử. Tầng lớp tƣ sản
dù mới xất hiện nhƣng ngày càng có vị trí quan trọng đối với đời sống kinh
tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, tại Italia - nơi đƣợc coi là quốc gia tƣ bản
sớm nhất của Tây Âu đã bắt đầu một trào lƣu văn hoá lớn - văn hoá Phục
hƣng. Phong trào Phục hƣng phát triển trong suốt thế kỷ XIV - XV và đạt
cực thịnh ở thế kỷ XVI. Trong phong trào Phục hƣng, các giá trị văn hoá,
tinh thần, nhân văn cổ đại sau “đêm trƣờng trung cổ” bị lãng quên nay
đƣợc phục hồi. Những di sản văn hoá đó có ý nghĩa lớn đối với xã hội Tây
Âu thời kỳ này, nhƣ Ăngghen từng nói: “Không có sơ sở của nền văn minh
Hy Lạp và đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện đại” [35, 254]. Nhiều
công trình kiến trúc, những giá trị văn hóa tinh thần quật khởi và anh hùng
thời cổ đại sau giấc ngủ dài giờ đây đƣợc sống lại và mang đến những
luồng sinh khí mới cho cả Châu Âu. Con ngƣời châu Âu khát khao một
cuộc sống thực sự là của chính mình, cuộc sống mới có sự soi rọi của ánh
bình minh của xã hội mới.
Khát khao trở dậy vƣơn mình trong ánh bình minh của nền văn minh
công nghiệp ấy của ngƣời châu Âu cùng với ƣớc muốn giải phóng mình
đến mãnh liệt đã đƣa đến việc nổ ra nhiều cuộc cách mạng tƣ sản lớn ở
nhiều nƣớc Tây Âu. Cuộc cách mạng tƣ sản đầu tiên nổ ra ở Hà Lan, sau
đó cuộc cách mang tƣ sản Anh nổ ra (1642 - 1648) báo hiệu giờ cáo chung
12
của chế độ phong kiến châu Âu đã đến. Tiếp theo, đại cách mạng tƣ sản

nghĩa vô thần đối với hữu thần.
Có thể nói, hoàn cảnh lịch sử Tây Âu thế kỷ XV - XVIII và nền tảng
tƣ tƣởng trên đây đã đƣa đến sự ra đời những mầm mống tƣ tƣởng về nhà
nƣớc pháp quyền trong triết học Tây Âu thời kỳ cận đại. Tƣ tƣởng về nhà
nƣớc pháp quyền thời kỳ này không chỉ là sự tiếp thu giá trị của các tƣ
tƣởng truyền thống mà còn phát triển ngày càng sâu sắc với những màu sắc
riêng. Nói về thời kỳ này, Ăngghen nhận xét: “Đó là một cuộc đảo lộn tiến
bộ nhất mà từ xƣa tới nay, nhân loại đã trải qua; đó là một thời đại cần có
những con ngƣời khổng lồ và đã sinh ra những con ngƣời khổng lồ: khổng
lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lằm
tài, lắm nghề và các mặt học thức sâu rộng” [35, 459 - 460].
1.2. Cơ sở lý luận của tƣ tƣởng về nhà nƣớc pháp quyền trong
triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII
1.2.1. Tư tưởng sơ khai về nhà nước pháp quyền trong triết học
Tây Âu thời cổ đại
Lịch sử các học thuyết chính trị và pháp luật trên thế giới cho thấy,
sự phôi thai các tƣ tƣởng về nhà nƣớc pháp quyền đầu tiên của nhân loại có
từ rất lâu đời. Ở phƣơng Tây cổ đại, tƣ tƣởng đó ra đời gắn liền với quá
trình hình thành và phát triển của nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ Hy Lạp. Ngay
từ thời Hy Lạp cổ đại, ngƣời ta đã quan tâm tới vai trò của pháp luật cũng
nhƣ mối quan hệ giữa công dân và nhà nƣớc trong việc thiết lập một trật tự
chung. Thế kỷ XI - VI (TCN) các nhà tƣ tƣởng Hy lạp cổ đại đã chỉ ra
rằng, sự khẳng định các nguyên tắc công bằng, pháp chế và một cuộc sống
vĩnh hằng bao giờ cũng gắn liền với quyền năng của các thiên thần trên núi
Ôlimpơ, đứng đầu là thần Zơt. Thần Zơt (trong trƣờng ca nổi tiếng Iliat và
14
Ôđixê) đƣợc miêu tả nhƣ một đấng tối cao ban phát công lí chung và trừng

về quan hệ khế ƣớc giữa nhà nƣớc và công dân của mình” [dẫn theo 24,
120]. Trƣớc tình trạng nền dân chủ Athen cuối thế kỷ V (TCN) lâm vào
khủng hoảng, Xôcrát đã lên tiếng phản đối nền dân chủ Athen. Ông khẳng
định “quyền lực căn cứ không phải trên pháp luật, mà trên thói chuyên
quyền của ngƣời cầm quyền, quyền lực nhƣ vậy chống lại nhân dân” [dẫn
theo 45, 175]. Tuy nhiên sự phản đối đó không phải là ông muốn dùng bạo
lực để thay thế nó bằng một hình thái chính trị khác, mà là ông muốn nhấn
mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện nền dân chủ, ở đó có ngƣời cầm quyền
xứng đáng, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Ngoài ra, Xôcrát còn thể
hiện quan điểm lên án kịch liệt đối với nền bạo chính độc đoán, dã man,
phản tiến bộ.
Xôcrát ủng hộ triệt để nguyên tắc tƣ tƣởng pháp chế khi cho rằng, việc
tổ chức đời sống nhà nƣớc có đạo đức không thể thiếu luật pháp, cũng nhƣ
không thể có thứ luật pháp nào đứng bên ngoài nhà nƣớc. Ủng hộ nguyên
tắc tuân thủ pháp luật, ông cho rằng: công lí nằm ở trong sự tuân thủ pháp
luật hiện hành; sự công minh và sự hợp pháp đều là một. Mỗi một công dân
mới của nhà nƣớc đều phải tôn trọng các trật tự, quy định của nhà nƣớc, đó
là sự tuân thủ pháp luật, và nếu công dân của nhà nƣớc nào tuân thủ pháp
luật thì nhà nƣớc đó sẽ vững mạnh. Vì thế, ông kêu gọi mỗi công dân hãy
thể hiện sự trung thành tuyệt đối của mình với nhà nƣớc và luật pháp .
Xôcrát đƣợc biết đến là một nhà đạo đức duy lí, ông đã vận dụng
những quan điểm về đạo đức duy lí vào quan điểm chính trị để thực hiện
chủ trƣơng duy lí hóa nhà nƣớc. Điều này thể hiện ở chỗ, ông đƣa ra tiêu
chuẩn của ngƣời cầm quyền nhà nƣớc là phải có tri thức và năng lực, phải
xứng đáng và biết cai trị. Họ phải là ngƣời biết kết hợp giữa đạo đức và
pháp luật, mà những ngƣời có phẩm chất đạo đức lại thuộc tầng lớp quý
tộc. Bên cạnh đó, ngƣời cầm quyền theo Xôcrát phải luôn học cách kìm chế


17
phải cao hơn lợi ích cá nhân. Một nhà nƣớc công lý và hoàn thiện là cái cao
quý mà con ngƣời phải trân trọng, vì thế theo ông, con ngƣời phải sống vì
nhà nƣớc chứ không phải nhà nƣớc vì con ngƣời.
Theo đuổi mô hình nhà nƣớc lí tƣởng, nhà nƣớc của sự công bằng,
Platôn cho rằng nhà nƣớc xuất hiện một cách tự nhiên, từ những nhu cầu
của con ngƣời, trên cơ sở cùng hợp tác giữa họ cùng hƣớng đến lợi ích
cộng đồng. Nhà nƣớc công bằng theo Platôn phải đƣợc xây dựng dựa trên
chức phận xã hội, năng lực khác nhau của mỗi ngƣời và sự phân chia các
thành phần của linh hồn con ngƣời. Theo đó, ông phân chia xã hội thành ba
hạng ngƣời tùy theo bộ phận linh hồn nào của họ đóng vai trò chủ đạo.
Thứ nhất, đó là những ngƣời lao động, ngƣời buôn bán thuộc đẳng
cấp đồng và sắt, có nhiệm vụ phục tùng trật tự đã đƣợc đặt ra. Đó là đẳng
cấp gần với các sự vật cảm tính, thích hợp với lao động chân tay và họ có
đức hạnh chủ yếu là sự cam chịu, ôn hòa, thực hiện nhiệm vụ nuôi sống xã
hội, đảm bảo cuộc sống cho nhà nƣớc.
Thứ hai, đó là các chiến binh – đẳng cấp bạc, tƣơng ứng phần ý chí
của linh hồn. Họ là những ngƣời lính làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho nhà
nƣớc lí tƣởng. Vì thế, những ngƣời này đƣợc đào tạo kỹ lƣỡng cả về thể
chất lẫn tinh thần, họ là những ngƣời dũng cảm và gan dạ.
Cho rằng những ngƣời lính chiến phải là những ngƣời cƣờng tráng,
vì thế Platôn kêu gọi thanh niên phải biết sinh hoạt điều độ trong tình ái và
ăn uống, luyện tập thể thao để học cách buộc cơ thể phải tuân theo sự điều
chỉnh của tinh thần. Ngoài ra, ông còn chú trọng đến việc giáo dục giới tính
cho thanh niên. Trong Nền cộng hòa, ông viết: Những ngƣời đàn ông ƣu tú
nhất phải đƣợc thƣờng xuyên chung sống với những phụ nữ ƣu tú nhất
trong khả năng cho phép. Ngƣợc lại, những ngƣời đàn ông nào yếu kém thì
cũng cần hạn chế tới mức tối đa chung sống với những ngƣời phụ nữ yếu 19
Trong mô hình nhà nƣớc đó, mọi công dân sống chung, ăn chung
trong doanh trại, kể cả phụ nữ cũng là của chung. Nhà nƣớc có nhiệm vụ
bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và bảo đảm an ninh cho mọi thành viên, còn
các công dân có nhiệm vụ tuân thủ pháp luật, nhất là cần phải tuân thủ pháp
luật một cách tự giác Tuy nhiên, nhà nƣớc lí tƣởng của Platôn chủ
trƣơng thủ tiêu sở hữu tƣ nhân và gia đình đối với tầng lớp chiến binh, phủ
nhận khoa học và nghệ thuật. Điểm này về sau đã bị nhiều nhà tƣ tƣởng
phản đối.
Xây dựng mô hình nhà nƣớc lí tƣởng, Platôn gắn liền nhà nƣớc này
với quyền tối thƣợng của luật pháp. Mọi công dân không phân biệt vị trí
đều phải tuân thủ pháp luật nhƣ nhau. Nhận thấy pháp luật có vai trò quan
trọng trong hoạt động nhà nƣớc, Platôn cho rằng cần phải xây dựng một hệ
thống biện pháp đặc biệt bảo đảm sự ổn định, vững chắc, có sức răn đe với
mọi ngƣời. Đây là điểm quan trọng, có ý nghĩa để các nhà tƣ tƣởng sau này
kế thừa trong học thuyết chính trị - triết học của mình.
Arixtốt (384 - 322 TCN) đƣợc coi là bộ “bách khoa toàn thƣ” thời cổ
đại. Sự sụp đổ của nền dân chủ Athen giữa thế kỉ thứ IV (TCN) là cơ sở
thực tiễn mà trên đó Arixtốt tiếp tục phát triển và làm sâu sắc hơn các quan
điểm chính trị, pháp luật của Platôn cũng nhƣ việc đƣa ra các kết luận mới
về nhà nƣớc. Những tƣ tƣởng ấy đƣợc thể hiện rõ trong hai tác phẩm: Hiến
chế Athens (Athenian constitution, 350 TCN), và Chính trị (Politics, 350
TCN).
Trong các tác phẩm của mình, Arixtốt đã nêu ra những lập luận quan
trọng về các vấn đề liên quan đến nhà nƣớc và pháp luật. Ông cho rằng
nhà nƣớc là một tổ chức phức tạp, tập hợp của những cá thể khác nhau về
chức phận, về tình trạng tài sản, về phẩm chất đạo đức, về trình độ học vấn;

Cộng hòa, nơi quyền lực thuộc về số đông. Ba hình thức nhà nƣớc đúng
này phù hợp với lợi ích chung. Và tƣơng tự cũng có ba hình thức nhà nƣớc
21
sai không phù hợp với lợi ích chung: 1. Nền bạo chính, bảo vệ lợi ích cho
một ngƣời; 2. Những tập đoàn, bảo vệ lợi ích số ít; 3. Chế độ dân chủ,
quyền lực trong tay số đông dốt nát nghèo khổ và xu nịnh.
Trong sự phân chia ấy Arixtốt ca ngợi nhà nƣớc quân chủ, cho rằng đó
là nhà nƣớc lý tƣởng nhất. Tuy nhiên đây là hình thức nhà nƣớc không thể
có đƣợc. Nhà nƣớc quý tộc có thể thực hiện nhƣng phải kết hợp cùng các
dạng nhà nƣớc do một tập đoàn thống trị và dân chủ, trong đó tập trung vào
việc thiết lập và ủng hộ tầng lớp trung lƣu. Ông cho rằng quá giàu hay quá
nghèo đều là những thái cực không tốt. Arixtốt đƣa ra lời khuyên cho các
nhà hoạt động xã hội là không nên nhìn phiến diện, một chiều mà cũng nên
nhìn nhận những điểm tích cực của những hình thức nhà nƣớc khác.
Điểm độc đáo nữa của Arixtốt thể hiện ở chỗ, ông là ngƣời đầu tiên có
ý tƣởng phân loại quyền lực nhà nƣớc. Theo đó, nhà nƣớc đƣợc phân tách
thành ba bộ phận: cơ quan tƣ vấn pháp lý cho hoạt động nhà nƣớc, tòa thị
chính và cơ quan xét xử, “bóng dáng” của ba bộ phận đó chính là ba cơ
quan lập pháp, hành pháp và tƣ pháp trong lý thuyết phân quyền của
Môngtexkiơ và trong bộ máy nhà nƣớc hiện đại. Tƣ tƣởng chính trị của
Arixtốt có ảnh hƣởng sâu đậm tới nhiều nhà triết học chính trị ở phƣơng
Tây sau này.
Vào khoảng thế kỷ I (TCN), cuộc đấu tranh chính trị ở các nƣớc
cộng hoà La Mã đã trở nên sâu sắc. Trong bối cảnh ấy, giới quý tộc chủ nô
tiến hành đấu tranh dƣới khẩu hiệu vì quyền lợi “ái quốc chung” và đã đƣa
đến sự thiết lập một nền độc tài quân sự tại nơi đây. Thực chất, đó là các
hoạt động bảo vệ quyền lợi của tầng lớp chủ nô thống trị trong xã hội La

ông, có các hình thức nhà nƣớc là nhà nƣớc dân chủ, quý tộc và quân chủ.
Ông phê phán kịch liệt chế độ dân chủ khi cho rằng đó là một trong những
hình thức thể chế nhà nƣớc xấu nhất, đồng thời khẳng định: không có gì
ghê tởm hơn sự độc đoán của đám đông, không có gì nguy hại hơn đám
23
đông tự ngộ nhận mình là nhân dân. Quan điểm đó cho thấy thái độ kỳ thị
của ông đối với dân chúng.
Phê phán chế độ dân chủ, Xixêrông chỉ ra sự ƣu việt của chế độ quân
chủ, đó là sự thể hiện những tƣ tƣởng của nền độc tài quân sự La Mã, dùng
ý chí để cai quản nô lệ. Quan điểm của Xixêrông về nhà nƣớc và pháp luật
thể hiện sự tiến bộ khi cho rằng: ngƣời hoạt động trong các lĩnh vực nhà
nƣớc cần phải sáng suốt, công minh, có khả năng hùng biện và hiểu đƣợc
những nguyên lý cơ bản của pháp luật, nếu thiếu kiến thức đó thì không thể
công minh đƣợc. Đặc biệt hơn ông còn đƣa ra nguyên tắc pháp lý quan
trọng: Tất cả mọi ngƣời đều phải tuân thủ pháp luật. Ông luận giải quan
điểm này nhƣ sau: sự bình đẳng của mọi công dân trƣớc pháp luật nhà nƣớc
xuất phát từ chỗ bản thân nhà nƣớc là pháp luật chung của mọi công dân.
Đó là nguyên tắc mà hiện nay đƣợc xem là nguyên tắc cơ bản của nhà nƣớc
pháp quyền.
Nhƣ vậy, tƣ tƣởng của các nhà triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại về
nhà nƣớc và pháp luật đã bƣớc đầu đặt nền móng tƣ tƣởng sơ khai cho
những quan điểm về nhà nƣớc pháp quyền. Các nhà tƣ tƣởng đã chú ý tới
tính tối cao của luật pháp, thấy đƣợc mối liên hệ thiết yếu không thể tách
rời giữa nhà nƣớc và pháp luật. Các nhà tƣ tƣởng cũng đã chú ý tới việc tổ
chức hợp lý hệ thống quyền lực nhà nƣớc và pháp luật, tổ chức các cơ quan
nhà nƣớc.
1.2.2. Tƣ tƣởng thần quyền thời trung cổ và học thuyết chính trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status