Vai trò của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở tỉnh Cao Bằng hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
 NGUYỄN THỊ VÂN CHI
VAI TRÕ CỦA GIA ĐÌNH
TRONG VIỆC BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC
TRẺ EM Ở TỈNH CAO BẰNG HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. PHẠM CÔNG NHẤT


2.2. Thực trạng việc phát huy vai trò của gia đình trong việc bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em ở tỉnh Cao Bằng hiện nay 61
2.2.1. Những thành tựu 61
2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân 67
2.2.3. Những vấn đề đặt ra 74
2.3. Một số giải pháp cơ bản và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của
gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở tỉnh Cao
Bằng hiện nay 75
2.3.1. Một số giải pháp 75
2.3.2. Một số đề xuất, kiến nghị 89
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 98 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là nơi cội nguồn sinh ra và lớn lên của mỗi con người và là
nơi trẻ em được chăm lo về thể chất và trí tuệ, đạo đức và nhân cách để hoà
nhập với cộng đồng xã hội. Trong các thiết chế xã hội của một xã hội nhất
định đều có những vai trò cụ thể trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em nhưng chúng ta có thể khẳng định được rằng: Gia đình là môi trường đầu
tiên và có tầm quan trọng quyết định việc hình thành nhân cách của trẻ em và
ảnh hưởng lâu dài tới mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời.
Với tầm nhìn xa trông rộng "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích
trăm năm trồng người" [24, tr.222], Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công săn
sóc vun trồng thế hệ mầm non của đất nước. Người nói: "Ngày nay các cháu
là nhi đồng, ngày sau các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới" [22,

Do đó tôi chọn đề tài: "Vai trò của gia đình trong việc bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em ở tỉnh Cao Bằng hiện nay", qua đề tài này mong
muốn sẽ góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao nhận thức xã hội để trẻ em, đặc
biệt là trẻ em vùng khó khăn được tạo những điều kiện tốt nhất để phát triển
toàn diện.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề gia đình cũng như vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,
từ lâu đã được các nhà giáo dục, tâm lý học, xã hội học nghiên cứu. Tiêu biểu
là một số công trình của Pêtrecnhicôva: "Giáo dục trong gia đình Mác", Nxb
Thanh niên, Hà Nội, 1977; A.Macarencô: "Nói chuyện về giáo dục gia đình:,
Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1978; I.A. Pêtechnhicôva, "Dạy con yêu lao động",
Nxb Phụ nữ, Hà Nội.1980. Các công trình này đã đề cập đến một số khía cạnh
về giáo dục trẻ em trong môi trường gia đình. A.Macarencô nhấn mạnh: Giáo

3
dục trẻ em phải được bắt đầu từ thời thơ ấu và từ gia đình. Nếu tuổi thơ không
được gia đình giáo dục ngay từ đầu thì công việc giáo dục sẽ tốn kém rất
nhiều về công sức không chỉ của gia đình mà còn của xã hội; theo I.A.
Pêtechnhicôva: muốn con cái lớn lên khoẻ mạnh, vui tươi, yêu đời và cống
hiến được nhiều cho xã hội thì lúc còn nhỏ phải được giáo dục về lao động
(lao động học tập, lao động gia đình và lao động xã hội ) bởi con người được
hình thành trước hết phải trải qua quá trình lao động.
Tháng 12 năm 1989, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua "Công
ước về quyền trẻ em". Nội dung của Công ước quy định từng vấn đề cụ thể
liên quan đến toàn bộ cuộc sống tinh thần và vật chất của trẻ em, trong đó có
đề cập đến trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em.
Ở Việt Nam, sau Cách mạng tháng Tám 1945, Đảng và Nhà nước ta đã
quan tâm đến vấn đề gia đình và trẻ em, đã có nhiều văn bản về gia đình và
vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Như Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ

Thanh Khôi (đồng chủ biên) “Một số vấn đề về những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin”, tập III, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008…
Các công trình đã góp phần làm rõ thêm về mặt lý luận cũng như thực
tiễn về vai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách của con người.
Tỉnh Cao Bằng tuy còn nhiều bất cập trong công tác chăm sóc bảo vệ và giáo
dục trẻ em nhưng hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu về vai trò của
gia đình trong chăm sóc và bảo vệ trẻ em ở tỉnh Cao Bằng một cách có hệ
thống và đó là một khoảng trống mà đề tài luận văn này hướng tới nghiên
cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn

5
Luận văn làm rõ thực trạng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của gia
đình ở Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải
pháp, kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của gia đình trong công tác bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em ở tỉnh Cao Bằng hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ những vấn đề lý luận về vai trò của gia đình trong việc bảo vệ,
chăm sóc, giáo dục trẻ em;
- Tiến hành khảo sát và phân tích thực trạng về những nội dung cơ bản
của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình ở tỉnh Cao
Bằng trong giai đoạn hiện nay;
- Đề xuất những giải pháp kiến nghị để nhằm nâng cao vai trò của gia
đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở tỉnh Cao Bằng trong
giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng của luận văn:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến vai trò của gia đình
trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Luận văn góp phần làm sảng tỏ thêm về mặt lý luận vai trò của gia
đình trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và thực tiễn ở một tỉnh còn
gặp nhiều khó khăn như Cao Bằng
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp nguồn tư liệu
để các cấp uỷ chính quyền, các tổ chức xã hội, các gia đình ở Cao Bằng tham
khảo, từ đó làm tốt hơn công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

7
7. Kết cấu chính của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 2 chương, 6 tiết.
Chương 1: Gia đình và vai trò của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em ở nước ta hiện nay.
Chương 2: Thực trạng và những giải pháp nhằm phát huy vai trò của
gia đình trong việc công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở tỉnh Cao
Bằng hiện nay.

8
Chương 1
GIA ĐÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC BẢO VỆ,
CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1. Gia đình và chức năng giáo dục của gia đình
1.1.1. Gia đình và những đặc điểm cơ bản của gia đình

Ở Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về gia đình:
Xét từ góc độ xã hội học: Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên
cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng các thành
viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn
hoá, tình cảm) giữa họ, là những quan hệ có tính pháp lý được nhà nước thừa
nhận và bảo vệ, đồng thời có những quy định rõ ràng về quyền được phép và
những cấm đoán trong quan hệ tiìn dục giữa các thành viên trong gia đình [2,
tr.190].
Xét từ góc độ triết học: Gia đình là một nhóm xã hội có quan hệ gắn bó
về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, có chung những giá trị vật chất,
tinh thần, ổn định trong các thời điểm lịch sử. Gia đình là một đơn vị nhỏ nhất
của xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với xã hội và là tấm gương phản chiếu
mọi thành tựu,cũng như mâu thuẫn xã hội.
Khái quát các nội dung trên, tác giả Lê Thi cho rằng: Khái niệm gia
đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn
nhân và huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và chung sống (cha mẹ,
con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại), gia đình có thể bao gồm một số người
được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống, các thành viên
trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa,
tình cảm), giữa họ có những điều ràng buộc bởi tính pháp lý, được nhà nước

10
thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong luật hôn nhân và gia đình của nước
ta). Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép
và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên [30, tr.20-21].
Khái niệm gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam ghi nhận trong Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 8) xác định: Gia đình là tập hợp những
người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do
quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với
nhau theo luật định.

xã hội, là lớp người kế cận người đi trước, là chủ nhân tương lai của đất nước
C.Mác khẳng định: con người là một thực thể trong đó có sự thống nhất
giữa hai mặt sinh vật - xã hội. Sau khi lọt lòng mẹ, nếu đứa trẻ không được
sống trong môi trường xã hội, nếu không được hưởng những chế độ giáo dục
của gia đình và của xã hội đứa trẻ không trở thành một con người đúng nghĩa.
Những thành tựu khoa học đã chứng minh quan điểm này là đúng đắn. Bởi
vậy có thể khẳng định rằng, quá trình chuyển biến đứa trẻ thành một con
người thực sự được diễn ra trong môi trường xã hội, trong đó đặc biệt là sự
chăm sóc và giáo dục của gia đình.
Thực tiễn cuộc sống ngày nay đã chỉ ra rằng: chăm sóc và giáo dục
trong gia đình có vai trò đặc biệt to lớn, vì nuôi dưỡng, giáo dục gia đình
mang tính cá biệt và đậm nét giáo dục thông qua tình cảm và là môi trường
đầu tiên cho con người lớn lên. Giáo dục trong nhà trường và xã hội không
phân biệt giới tính, trí tuệ sức khoẻ, đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh sống của
mỗi cá nhân.
Chức năng giáo dục của gia đình thể hiện ở một số nội dung cơ bản
như: giáo dục tri thức, giáo dục về kỹ năng lao động, giáo dục về đạo đức lối
sống, giáo dục về thể chất thẩm mỹ, giáo dục về giao tiếp ứng xử… diễn ra
trong mọi giai đoạn của con người (từ trong bào thai, giai đoạn tuổi thơ,

12
trưởng thành) và được thực hiện qua tất cả các hoạt động tổ chức đời sống vật
chất và tinh thần cho các thành viên trong gia đình.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa chức năng giáo dục của gia đình thực sự
góp phần lớn vào việc đào tạo thế hệ trẻ xây dựng con người mới nói chung
trong việc duy trì và phát triển đạo đức, văn hoá dân tộc. Giáo dục gia đình là
bộ phận của giáo dục xã hội, giáo dục trong gia đình mới đòi hỏi sự cố gắng
cao và những hiểu biết về khoa học, tâm lý… của cha mẹ và của mọi thành
viên khác, kết hợp chặt chẽ môi trường giáo dục (gia đình, nhà trường, xã hội)
để tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho

và xã hội sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện về cả nhân cách lẫn trí tuệ. Ở giai
đoạn này, tâm lý trẻ có những biểu hiện đặc thù và rất nhạy cảm nên nhiều
bậc cha mẹ đã gặp phải không ít khó khăn trong quá trình giáo dục con cái.
Điều quan trọng nhất ở giai đoạn này trong giáo dục ở gia đình là các thành
viên trong gia đình phải nắm bắt và tìm hiểu tâm lý của con, thường xuyên trò
chuyện để đồng cảm và cùng con giải quyết những vấn đề đặt ra theo hướng
tốt nhất.
Việc kết hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp
và huy động được các nguồn lực trong xã hội tham gia ngày càng tích cực vào
sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
1.1.3.2. Giáo dục thái độ, kỹ năng lao động
Lao động là tiêu chí số một để đánh giá đạo đức và tài năng con người
ở trong bất cứ xã hội nào. Nếu không có lao động của cá nhân thì sớm hay
muộn con người cũng tự đánh rơi mất giá trị vốn có và hạ thấp nhân phẩm của
mình xuống trình độ con vật. Bản chất tốt đẹp của lao động và của con người
lao động trước hết là để tự nuôi sống bản thân mình, không phải là một loài
ký sinh sống bám gia đình và xã hội.

14
Giáo dục thái độ, kỹ năng, thói quen lao động đối với con người là vô
cùng quan trọng phải bắt đầu từ tuổi thơ. Thái độ lao động, kỹ năng, thói quen
và tình yêu lao động là những yếu tố nhân cách gốc mà gia đình cần đặc biệt
quan tâm. Những thái độ, kỹ năng, thói quen lao động cần thiết phải giáo dục
cho trẻ trong gia đình là:
- Thái độ tôn trọng mọi loại lao động chân tay cũng như trí óc đều tạo
ra sản phẩm vật chất và tinh thần cần thiết cho đời sống con người trong xã
hội.
- Tôn trọng, quý mến đối với mọi người lao động vì bất cứ là nghề gì
cũng cần thiết cho đời sống xã hội. Kính phục, khiêm tốn, kiên trì học tập, noi

chặn kịp thời những biểu hiện sai lệch. Xác định ý nghĩa quan trọng của lao
động học tập không những là lao động chính đối với các em hiện tại mà còn
rất cần thiết đối với tương lai, đối với cả cuộc đời, giúp trẻ ý thức tự nỗ lực
vươn lên để đạt được kết quả giáo dục tốt.
1.1.3.3. Giáo dục hành vi đạo đức
Đạo đức là những chuẩn mực giá trị mang tính xã hội để mọi người căn
cứ vào đó tự nguyện, tự giác điều chỉnh của mình sao cho lợi ích của mình
phù hợp với lợi ích của cộng đồng và của người khác.
Đối với các thành viên trong gia đình như ông bà, cha mẹ là những
người lớn tuổi nhất trong gia đình, đã lao động vất vả và góp phần tạo dựng
nên sự nghiệp và nuôi dạy con cháu. Vì vậy, cần giáo dục lòng kính trọng,
hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ. Ông bà, cha mẹ khi tuổi già sức yếu đi lại
khó khăn thậm chí mang bệnh tật cần giáo dục cho trẻ biết thường xuyên giúp
đỡ mọi mặt trong cuộc sống một cách vui vẻ. Kính trọng ông bà, cha mẹ thì
con cháu phải thể hiện trong cách cư xử: nói năng lễ phép, không cáu gắt hay
tỏ thái độ khinh mạn khi ông bà nhầm lẫn, sai sót hoặc có ý ngăn cản những
suy nghĩ, hành động chưa rõ ràng, minh bạch của mình; dù trong trường hợp
nào, kể cả lúc cha mẹ kết luận sai, áp đặt những điều không phù hợp cũng

16
phải bình tĩnh để phân tích đầy đủ có tình, có lý, không được cãi lại bằng
những lời lẽ khiếm nhã…
Giáo dục cho trẻ sự thông cảm sâu sắc với điều kiện và hoàn cảnh đời
sống của gia đình bằng cách công khai thu nhập, chi tiêu chính đáng của cha
mẹ để trẻ biết sống không đua ăn, đua mặc, không suy bì, tỵ nạnh với những
gia đình khác có điều kiện kinh tế, địa vị xã hội hơn gia đình mình nhằm tạo
nên một không khí hoà thuận, ấm cúng, đồng cam cộng khổ, đưa đời sống
ngày càng phát đạt hơn.
Đạo đức trong gia đình còn thể hiện trong quan hệ giữa anh em, chị em
ruột thịt (hoặc anh chị em nuôi). Anh, chị, em dù trai hay gái đều bình đẳng

yêu thương, đồng cảm với người khác. Chính vì vậy gia đình phải có trách
nhiệm giáo dục phẩm chất đạo đức đó cho con cái ngay từ tuổi ấu thơ thể hiện
trong hành vi biết tôn trọng mọi người, không tham lam, độc ác, lừa gạt, dối
trá với những người xung quanh để trở thành công dân lương thiện.
- Tính khiêm tốn: khiêm tốn là một phẩm chất vô cùng quan trọng trong
nhân cách, nội dung của khiêm tốn có nghĩa là sự kính nhường, có ý thức và
thái độ đúng mực trong công việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu,
không tự cho mình là hơn người. Gia đình phải giáo dục cho trẻ luôn luôn tỏ
ra khiêm tốn, không chủ quan, ngạo mạn tự cho mình là hay, là biết hơn
người khác. Tính khiêm tốn thường được biểu hiện bằng những ngôn ngữ
hành vi lễ phép trong giao tiếp đối với mọi người. Chẳng hạn gặp người cao
tuổi, thầy cô giáo thì lễ phép chào hỏi, nhường bước, bày tỏ sự tôn trọng. Với
bất kỳ ai cũng không nên nói năng thô tục, có hành vi gây gổ.
Tính khiêm tốn không những giúp cho con người ta học tập được
những điều hay ở nhiều người khác mà còn làm cho người ta có phong cách
cư xử, chu đáo, cẩn thận, cung kính, không hấp tập, vội vàng, không tranh ăn,

18
tranh nói, khoe khoang, phô trương năng lực của mình. Chính vì vậy mà họ
được nhiều người tin tưởng, mến phục.
- Tính chân thực: Quy luật tất yếu để tồn tại và phát triển của mỗi
người trong xã hội là phải giao tiếp ứng xử với người xung quanh. Quan hệ
giao tiếp, ứng xử đó có đạt được ý muốn, có thuyết phục được mọi người
xung quanh hay không, điều đó phụ thuộc vào đức tính chân thực của mỗi cá
nhân. Chân thực, trung thành, trung trực đều có nghĩa tương tự là đối lập với
dối tra, manh trá, giả dối… mà các bậc cha mẹ cần phải quan tâm giáo dục
cho trẻ từ tuổi nhỏ
Con người có đức tính chân thực cũng chính là con người luôn luôn tôn
trọng nhân cách, phẩm giá của mình, không để những người xung quanh coi
thường, khinh bỉ, đồng thời cũng là người giữ được chữ tín, lấy chữ tín làm

tình người đã được gia đình truyền đạt từ những năm tháng tuổi thơ. Có thể
nói những mầm mống của cái đẹp được tiếp nhận ở trong gia đình là nền tảng
để xây dựng cái đẹp của cả cuộc đời. Thế giới tự nhiên, cuộc sống xã hội, các
hoạt động văn hoá, nghệ thuật của con người như thơ ca, hội hoạ, điện ảnh…
chứa đựng biết bao vẻ đẹp thâm thuý, sâu sắc của nó. Vì vậy, không phải các
bậc cha mẹ nào cũng có khả năng, trình độ để phân tích, giảng giải trang bị
cho trẻ những kiến thức, trình độ thẩm mỹ chuyên sâu trong tất cả các loại
hình đó. Nhưng giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện cho trẻ những cảm xúc, những
tình cảm thẩm mỹ về cái đẹp trong giao tiếp, quan hệ giữa con người với con
người, con người với tự nhiên, với xã hội và ngay chính với bản thân con
người thì cha mẹ hoàn toàn có thể thực hiện được.
Trong gia đình, ngay từ thủa ấu thơ, các bậc cha mẹ đã phải dạy cho trẻ
“học ăn, học nói, học gói, học mở” về mọi vấn đề sao cho phù hợp với những
nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Cái đẹp thường gắn bó với cái “chân”, cái
“thiện” thể hiện một nhân cách tốt đẹp. Nếu thiếu hụt sự giáo dục “thẩm mỹ”
trong gia đình thì con người tuy có bản chất tốt nhưng khi giao tiếp ứng xử

20
với người khác có thể trở thành cẩu thả, thiếu tế nhị, thậm chí thô lỗ khiến cho
người khác khó chịu. Vì vậy, giáo dục thẩm mỹ trong gia đình, trước hết phải
quan tâm giáo dục những hành vi trong nếp sống.
Trên đây là những nội dung cơ bản về giáo dục gia đình. Tuỳ vào
trường hợp và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình mà các bậc cha
mẹ lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp giúp các em phát triển hoàn thiện
tài năng, phẩm chất của mình.
1.2. Trẻ em và mối quan hệ giữa trẻ em với gia đình và xã hội
1.2.1. Trẻ em
Trẻ em là một thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm xã hội thuộc về độ tuổi
trong giai đoạn đầu đời của sự phát triển con người. Đó là những người chưa
trưởng thành, còn non nớt về thể chất, trí tuệ, dễ bị tổn thương và cần được

Trẻ em bắt đầu bằng các quan hệ với cha mẹ, sau dần giao tiếp với các
thành viên khác trong gia đình: bạn bè, làng xóm, thầy cô…Trẻ em tiếp thu
nếp sống, tập tục, thói quen hàng ngày của gia đình, làng xóm, địa phương
biến thành vốn sống, kỹ năng, kỹ xảo, ý chí, tình cảm, động cơ thái độ của
riêng mình. Trẻ em do chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, non nớt về
mặt tâm sinh lý mà chính các em không tự mình giải quyết được những thiếu
hụt đó. Do vậy, đòi hỏi người lớn phải có sự quan tâm đúng mức để tạo ra
định hướng tích cực cho sự phát triển nhân cách ở trẻ em, từ đó bảo vệ, chăm
sóc và hỗ trợ trẻ.
Khi còn nhỏ mối quan hệ xã hội của trẻ chủ yếu là gia đình, hoạt động
giao tiếp cảm xúc trực tiếp đấu tiên của trẻ là người mẹ. Sự non nớt về thể
chất lẫn tinh thần của trẻ đỏi hỏi cần có sự đáp ứng về vật chất và sự chăm sóc
đặc biệt của cha mẹ và những người thân. Khi trẻ lớn lên, các em mở rộng
mối quan hệ xã hội ra bên ngoài như bạn bè, hàng xóm, thầy cô,…trong giai
đoạn này trẻ rất háo hức và sẵn sàng học hỏi nhiều điều mới lạ xung quanh.
Các em thường xây dựng cho mình những thần tượng hoặc hình mẫu để phấn

22
đấu theo. Các em có tình cảm vô tư trong sáng , tin yêu ở cha mẹ và người
lớn. Đến giai đoạn trẻ phát triển sang nhóm lớn, tâm lý trẻ xuất hiện nhiều xu
hướng trái ngược nhau: khi hăng hái, lúc chán nản, bi quan, có thể dẫn tới
trầm tư… những thay đổi này có nguyên nhân từ những biến đổi về chất trong
sinh lý do sự phát triển cơ thể nhanh và sự chín muồi về giới tính đã nhanh
chóng tạo ra những thay đổi tương đối đột ngột, điều này gây ra nỗi sợ hãi lo
lắng của các em.
Cuộc sống con người dù có được tổ chức đến trình độ nào cũng mang
đậm màu sắc tình cảm. Con người cần được chia sẻ khi vui, buồn, yêu ghét,
có cảm xúc mãnh liệt hay chán nản và đặc điểm này càng nổi bất đối với lứa
tuổi thiếu niên nhi đồng. Do đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi nên trẻ dễ bị xúc
động, kích động, hành vi không ổn định, rất dễ hành động theo cảm tính mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status