Tư tưởng triết học hiện sinh cơ bản của Albert Camus qua một số tác phẩm - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THÚY HỒNG
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HIỆN SINH CƠ BẢN CỦA ALBERT
CAMUS QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

1.2.3 Tồn tại người phải là tồn tại đích thực 36
1.2.4 Con quỷ lo âu làm tổ trong thân phận người ( Goeth) 38
1.2.5 Tồn tại người luôn vượt qua chính mình (siêu việt hóa) 40
1.2.6 Đối mặt với hư vô 41
Chương 2 ALBERT CAMUS – MỘT DÒNG CHẢY MỚI 46
CỦA TRIẾT HỌC HIỆN SINH 46
2.1. Albert Camus: cuộc đời và sáng tạo 46
2.2. Sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học hiện sinh của Albert Camus 54
2.2.1. Kẻ xa lạ và Huyền thoại Sisyphus 54
2.2.2. Dịch hạch 72
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, tiếp biến văn hóa toàn cầu là tất yếu, quá trình đó
diễn ra trên cả hai khía cạnh: bộc lộ văn hoá dân tộc ra với thế giới và tiếp nhận
văn hoá nhân loại. Trên lộ trình ấy, tiếp nhận văn hoá phương Tây là xu hướng
tất yếu. Chủ nghĩa hiện sinh là một phong trào văn hóa – triết học biểu hiện rất rõ
diện mạo văn hóa tinh thần của người phương Tây hiện đại. Đây là một trường

Camus chính là những diễn đạt về tồn tại người - một trong những đề tài cơ bản
của triết học và nhận được sự hưởng ứng xã hội rộng rãi. Trong đó, quan niệm
của Camus về nổi loạn là rất đáng tìm hiểu để hiểu thấu hiểu sâu sắc hơn và tìm
thấy giải pháp cho đời sống nội tâm, tinh thần con người thời hiện đại - đang
dường không đủ sức chịu đựng những áp lực của cuộc sống, đang ngày càng có
thiên hướng muốn nổi loạn, phá huỷ đời sống. Tìm hiểu, nghiên cứu về A. Camus
đã được tiến hành rộng rãi trên khắp thế giới nhưng, ở Việt Nam, vẫn còn ít công
trình nghiên cứu sâu sắc về chủ nghĩa hiện sinh nói chung và về A.Camus ở góc
độ triết học nói riêng. Vì vậy, chúng tôi muốn bước đầu tìm hiểu những tư tưởng
triết học hiện sinh căn bản của Camus để góp phần làm phong phú và sâu sắc hơn
các nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh, đóng góp một phần tư liệu cho những
người quan tâm đến lĩnh vực này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, sáng tạo văn học và triết học, đạo đức học hiện sinh của
Camus đã được nghiên cứu sâu rộng. Tuy vậy, do sự hạn chế về ngoại ngữ của
bản thân và nguồn tài liệu ít ỏi ở Việt Nam nên, ở đây, chúng tôi chỉ xin trình bày
khái quát những tư liệu cơ bản về tư tưởng triết học của Camus.
Herbert Lottnan. Albert Camus: A Biography (Cortr Madera: Ginko,
1997). Đây là tác phẩm cung cấp nhiều chi tiết về cuộc đời của Camus nhưng
Lottman lại không đưa ra những vấn đề mà Camus đã gặp phải khi cố gắng lưu
giữ những giá trị trong một thế giới loạn lạc. Ông đưa ra các ảnh hưởng khác 3
nhau tới Camus thời trẻ, ví dụ như cái chết của người cha và sự căm ghét án tử
hình. Oliver Todd. Albert Camus, a life (New York: Carol & Graf Publishers,
2000). Đây là công trình nghiên cứu rất công phu về cuộc đời của Camus. Todd
nói đến những thách thức mà Camus phải đối mặt nhằm xác định và phát triển
những giá trị siêu việt trong thế giới đã hoàn toàn bị thế tục hóa. Về quá trình
phát triển tư tưởng Camus, Todd viết: "Camus không vướng bận niềm tin vào

4
không tạo nên các giá trị mà chỉ chứng thực sự tồn tại của các giá trị. Tuy nhiên,
Sprintzen lại đưa ra quá ít nội dung về bản chất tiền phản tư của các giá trị mà
ông coi là cái biểu hiện kinh nghiệm nội tâm của con người.
Thụy Khuê. ( cho rằng, từ lý
thuyết hiện sinh - được xác định là sự đi tìm bản thể của con người, Albert
Camus giữ lại những hướng chính, đặc biệt là: nhân bản, phi duy lý như cốt lõi
của phận người và dấn thân. Chỉ có hành động và qua hành động thì con người
mới thật sự tự do, mới có được bản chất của mình. Tác giả kết luận: có thể nói,
Albert Camus là một nhánh lạc quan của hiện sinh, tin là con người có thể có
hạnh phúc trong cuộc đời phi duy lý.
Ở Việt Nam cũng đã có các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh
xuất bản ở miền nam trước năm 1975. Đáng chú ý là các tác giả Trần Thái Đỉnh
với Triết học hiện sinh (Nxb Thời Mới, Sài Gòn, 1968), Ý nghĩa thức tỉnh của
chủ nghĩa hiện sinh ( tạp chí Văn, số 15, 16, Sài Gòn) đã trình bày một cách có
hệ thống và sâu sắc về chủ nghĩa hiện sinh và các đại diện tiêu biểu của nó, đặc
biệt là chủ nghĩa hiện sinh công giáo. Những phát biểu của Trần Thái Đỉnh có thể
coi là những tri thức giáo khoa căn bản về chủ nghĩa hiện sinh. Tuy nhiên, tác giả
này hầu như không trình bày triết hiện sinh của A.Camus mà chỉ dừng lại ở
J.P.Sartre. Nguyễn Văn Trung với tập Nhận định (I) ( Nam Sơn xuất bản, 1963)
cũng có nhiều bài viết về chủ nghĩa hiện sinh, đặc biệt nhấn mạnh tới sự vong
thân của tồn tại người dưới cái nhìn của kẻ khác. Tác giả này đã có một số bài
viết về Camus như Một vài cảm nghĩ về Con người phản kháng của Albert
Camus, Quê hương lưu đày trong “Người đàn bà ngoại tình” (Văn số 2, 1963),
nhưng đây chỉ là những bài viết ngắn để giới thiệu tác phẩm của Camus nhiều
hơn là một công trình nghiên cứu, và thiên về loại hình cảm nhận văn học.
Bùi Giáng. Tác gia này dường như đặc biệt quan tâm tới Camus, ngoài
việc dịch một số tác phẩm của Camus như Ngộ nhận, Mùa hè sa mạc, Con người

6
tiếp xúc với Nguồn sống thiên thu "[19, 422]; Caligula tượng trưng cho một tình
trạng tinh thần điên đảo của thời hiện đại, một tấm thảm kịch đày đọa tâm thức
con người thời nay bị tàn phá bởi hư vô chủ nghĩa. Tác giả cho rằng, nhiều nhà
phê bình đã nhận đinh sai lầm một cách tai hại tư tưởng của Camus. Sở dĩ Camus
thường nói đến cuộc đời phi lý, đến nghĩa sa mạc của tồn tại, không phải để tán
dương hành động điên cuồng của những anh hùng phi lý như Caligula, Martha,
v.v., mà "trước sau, Camus chỉ có một mối ưu tư đau đớn: đẩy tư tưởng hư vô
đến cùng độ, đẩy chủ nghĩa hư vô đến cuối đường để chúng ta nhìn rõ những hậu
quả gớm guốc của nó. Có thế, thì sau đó ta mới đủ sáng suốt đưa tinh thần phản
kháng của mình ra để lựa chọn, vượt qua hư vô chủ nghĩa, chinh phục tự do chân
chính của con người "[19, 455]. Theo tôi, những nhận định về Camus của Bùi
Giáng rất có ích cho những ai quan tâm đến giá trị thực sự của chủ nghĩa hiện
sinh: chiến đấu cho địa vị con người trong thế giới, con người cùng với những
tâm tình ưu tư của nó chứ không phải hệ thống lý luận, cơ giới mới là cứu cánh
của mọi triết lý. Tuy vậy, văn phong Bùi Giáng rất đặc biệt nên cũng khá khó
khăn khi muốn sử dụng những bài viết này làm tư liệu tìm hiểu chủ nghĩa hiện
sinh dựa trên những chủ đề của nó.
Nguyễn Nam Châu. Tập Sứ mệnh văn nghệ (Đại học xuất bản), bình luận
tư tưởng của một số triết gia, nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến thời đại. Trong
đó bài viết về Camus có tựa "Albert Camus, con người công phẫn". Tác giả nhấn
mạnh, thế hệ của Camus đã tuyệt đối từ chối hết mọi thứ giá trị luân lý, tôn giáo,
chính trị, xã hội, họ công phẫn với cái châu Âu đó, như lời Camus nói: "Ác thần
của châu Âu ngày nay mang danh các triết gia, họ là Hegel, Marx, Nietzsche, v.v.,
chúng ta đang sống trong châu Âu của họ"[47, 190]. Ông cho rằng, "Công phẫn
trước thời cuộc nhưng chính Camus cũng đi vào ngõ bí: một đằng nói rằng cuộc
đời vô nghĩa và người ta được phép làm mọi sự; một đằng bảo rằng con người
đừng làm hại kẻ khác, phải thương hại nó, tức kìm hãm tự do của mình. Nhưng ta
sẽ nhân danh cái gì để thương xót con người trong khi mà chính con người cũng

lịch sử phi lý tính, song đồng thời ông cũng cự tuyệt bạo lực chính nghĩa mà ông 8
gọi là lịch sử lý tính; và ông đánh giá ngang hàng hai thứ bạo lực ấy; sai lầm
nghiêm trọng của Camus là ở chỗ ấy. Ông tìm đến con đường ôn hòa, nhiều khi
thỏa hiệp với kẻ thù của loài người. Từ đó, Camus đi vào con đường chống cộng
đáng khinh bỉ". [24, 120]
Đối với quan điểm của Camus về sứ mệnh của nghệ thuật và của nhà văn,
tác giả cho rằng, việc Camus vứt bỏ cả hai thứ mỹ học: nghệ thuật vị nghệ thuật
và cả chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, là những lập luận siêu hình, phi lịch
sử và phi giai cấp không có gì mới mẻ và ghê gớm. Kết luận, cũng như những
học thuyết hiện sinh chủ nghĩa khác, học thuyết của Camus cũng chất chứa đầy
mâu thuẫn và không khỏi dẫn đến bi kịch. Chính vì vậy ảnh hưởng của nó trong
cuộc sống hàng ngày rất tai hại ở những xã hội thuộc thế giới tự do.
Hoàng Trinh, Phương Tây văn học và con người (Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội,1969). Trong bài “Anbe Camuy và vấn đề “văn học nổi loạn”, tác giả
nhận xét về triết học hiện sinh của Camus: khác với một số nhà triết học hiện sinh
đã nâng thuyết hiện sinh thành “bản thể luận”, Camus không bàn đến những vấn
đề siêu hình rắc rối, như thực thể, hư vô, tồn tại, bản chất mà chỉ nói đến ý nghĩa
sự “sinh tồn” và thân phận con người. Nhìn chung, tác giả chủ yếu phê phán
thuyết “phi lý” của Camus, mà ở đó, thứ luân lý mơ hồ và nguỵ biện là hạt nhân.
Nổi loạn như là hệ quả của cái phi lý thì không xác định rõ lập trường: ai nổi
loạn, nổi loạn chống ai và nổi loạn như thế nào; không phân biệt nổi loạn tiến bộ
và nổi loạn phản động.
Những nhận định của các tác giả Hoàng Trinh và Đỗ Đức Hiểu về Camus,
một mặt, chủ yếu dựa trên tinh thần phê phán; mặt khác, về cơ bản là góc nhìn
văn học. Các tác giả có nêu ra một số điểm tích cực của Camus. Tuy vậy, theo
tôi, họ chưa bộc lộ được sự thâm trầm của tư tưởng Camus và chủ nghĩa nhân
văn sâu sắc trong các tác phẩm của Camus.

Đây là sự phân tích thuần tuý văn học, về nghệ thuật tả cảnh trong văn chương
Camus. 10
Như vậy, các nghiên cứu về Camus ở Việt Nam hoặc thuộc lĩnh vực văn
học hoặc chưa quan tâm đầy đủ đến Albert Camus ở góc độ triết học, triết học
hiện sinh. Theo chúng tôi, tìm hiểu nghiên cứu Camus như một hiện tượng văn
hóa cần thiết xem xét riêng biệt khía cạnh triết học trong các sáng tác của ông.
Điều này là thực sự cần thiết cho việc tìm hiểu lịch sử triết học. Luận văn này
được hoàn thành trong cố gắng đưa lại một chân dung Camus – nhà triết học rõ
nét hơn.
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở trình bày một cách khái quát về chủ nghĩa hiện sinh, luận văn
làm rõ quá trình hình thành và sự phát triển tư tưởng triết học hiện sinh của
A.Camus qua một số tác phẩm chủ yếu của ông.
Để thực hiện mục đích ấy, luận văn sẽ giải quyết những vấn đề sau đây:
- Giới thiệu khái quát chủ nghĩa hiện sinh: sự ra đời của chủ nghĩa hiện
sinh (bối cảnh văn hóa tinh thần và cội nguồn tư tưỏng), những chủ đề chính của
triết học hiện sinh.
- Trên cơ sở đó tìm hiểu, phân tích, trình bày, hệ thống hóa, đánh giá sơ lược
tư tưởng triết học hiện sinh của A.Camus thông qua việc xem xét cụ thể bốn tác
phẩm: Kẻ xa lạ, Huyền thoại Sisyphus, Dịch hạch, Con người nổi loạn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên nguyên tắc về sự thống nhất giữa triết
học và lịch sử triết học. Đồng thời, luận văn cũng sử dụng các phương pháp
nghiên cứu lịch sử triết học như phân tích và so sánh, phân tích và tổng hợp, logic
và lịch sử.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần vào lĩnh vực nghiên cứu triết học hiện sinh, đặc biệt
12
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

1.1 Sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh, với tư cách là trào lưu văn hoá - triết học, xuất hiện
đầu tiên ở Đức ngay sau Thế chiến I và làn sóng mới của nó nổi lên ở Pháp sau
Thế chiến II. Có thể thấy chủ nghĩa hiện sinh biểu hiện rõ khủng hoảng kinh tế xã
hội trong và sau những cuộc chiến - khi mà tâm trạng lo âu, bi quan, nổi loạn bao
trùm lên xã hội. Thuật ngữ này được nhìn nhận rộng rãi theo cách mô tả của
J.P.Sartre: tồn tại có trước bản chất. Hãy cứ sống như mình vốn có, Thượng đế
đã chết và mọi cái đều được phép. Tuy nhiên, đó chỉ mới là cái nhìn về chủ nghĩa
hiện sinh như một trào lưu văn hoá. Chủ nghĩa hiện sinh còn là một khuynh
hướng triết học phương Tây nổi trội của thế kỷ XX. Rõ ràng, đó là sự phản ứng
của chủ nghĩa phi duy lý chống chủ nghĩa duy lý. Và ở giác độ này, chủ nghĩa
hiện sinh là triết học hiện sinh, là một đóng góp lớn cho sự hình thành bản thể
luận phương Tây hiện đại. Các nhà hiện sinh coi sự lý giải siêu hình học về tồn
tại người của triết học truyền thống là thất bại, không đưa đến những kết quả thoả
mãn. Tồn tại người cũng không thể dừng lại ở những chân lý mà khoa học, cả
khoa học tự nhiên và tâm lý học đem lại. Những phạm trù của đạo đức học cũng
không đủ để định nghĩa tồn tại người. Không từ chối hiệu lực nhất định của
những phạm trù khoa học được chi phối bởi khuôn mẫu chân lý hay những phạm

suốt gần hai mươi thế kỷ, những giá trị, chuẩn tắc tuyệt đối đã giam hãm tồn tại
người vốn tự do, đột biến và đầy sáng tạo. Tồn tại người rạn nứt, nhiều tầng
cảm xúc bị đè nén bừng tỉnh với câu hỏi: hiện sinh của tôi là đích thực hay
không đích thực? Và, chính câu hỏi mang ý nghĩa thức tỉnh này đã khởi dấy lên
một cách mạnh mẽ những tư tưởng triết học hiện sinh lấy tồn tại người là cứu 14
cánh của mọi triết lý. Triết thuyết này trở nên có tác động mạnh mẽ tới đời sống
xã hội phương Tây lúc bấy giờ. Sự ra đời của triết học hiện sinh trong dòng
chảy của lịch sử triết học là biểu hiện của sự biến văn hoá. Cách tiếp cận nhân
học văn hoá trong lĩnh vực tri thức nhân văn buộc chúng ta phải tìm hiểu sâu
sắc những tiền đề văn hoá cho sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh. Trên cơ sở hiểu rõ
những tiền đề văn hoá đó, chúng ta có thể có những góc nhìn, những soi rọi triết
học hiện sinh từ góc độ nhân học văn hoá.
Bối cảnh văn hoá cho sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh có phông nền chính là
chủ nghĩa duy lý và cuộc khủng hoảng mà nó đưa đến cho châu Âu. Văn hoá châu
Âu Cận đại khởi từ văn hoá Phục hưng đã đưa con người vào vị trí trung tâm của
mọi sáng tạo văn hoá. Đây là thời đại “khám phá ra con người”. Những sự lý giải
con người trên chiều cạnh lý tính diễn ra trong triết học Khai sáng, tới Kant và đạt
đến đỉnh cao trong thống triết học Hegel. Lý tính trở thành chiều đo tuyệt đối về
tồn tại người, tức nhân tính. Sự tự vận động của lý tính đã kiến tạo nên một hệ
thống hoàn hảo điều chỉnh hành vi con người. Những hệ giá trị tuyệt đối được áp
dụng trong xã hội một cách triệt để bởi nhà cầm quyền. Không gì dễ dàng hơn là
điều khiển đám đông không nhân cách, hay chính là mẫu hình con người đại chúng
theo cách gọi của Oterga I Gasset. Con người đại chúng có thái độ thờ ơ với những
vấn đề quan trọng, chỉ tiếp nhận những nhận xét, sở thích do người khác đưa ra và
được phương tiện truyền thông gán cho chứ không tự mình xây dựng, và, vì vậy,
nó là nơi nhận những mỹ từ được nhồi nhét từ kẻ cầm quyền. Con người đại chúng
quen với nếp sống theo những khuôn mẫu phổ biến và sợ hãi sự thay đổi do chính

là lịch sử của lãnh tụ, nên thái độ với lịch sử phải là thái độ có nhân cách, có trách
nhiệm, có đạo đức. Ông phản đối thái độ xác tín đối với tính có quy luật của lịch
sử. Tâm thế tin tưởng một cách vô căn cứ vào tương lai tốt đẹp mà không biết suy
nghĩ nghiêm túc về việc bắt đầu xây dựng tương lai đó như thế nào (Berdyaev gọi
là Tiến bộ giáo) sẽ hình thành một lớp người vô ơn với di sản quá khứ, tàn nhẫn
với hiện tại và vô trách nhiệm với tương lai. Hơn nữa, nó còn tạo ra tâm lý thù hằn 16
giữa các thế hệ do niềm tin vào sự vượt trội tất yếu của thế hệ sau so với thế hệ
trước và như vậy, tạo ra sự xa lạ ngày càng lớn giữa người với người.
Chủ nghĩa vô thần trở thành một nguyên nhân quan trọng cho các vấn đề
của triết học hiện sinh. Sự sụp đổ truyền thống tôn giáo ở châu Âu, một mặt, làm
mất đi những giá trị nhân bản, hướng thiện trong đời sống tinh thần của xã hội mà
tất cả tôn giáo đều hướng đến; mặt khác, điều đó làm cho ý thức về sự vô nghĩa,
vô giá trị của đời sống càng trở nên trầm trọng. Sau cái chết của Chúa là cái chết
của con người. Andre Malraux đã viết trong bài diễn văn đọc trước Đại hội văn
hoá Liên hợp quốc (1948): “Thảm kịch của châu Âu chính là cái chết của con
người” [47, 188].
Triết học hiện sinh đến lúc tất yếu phải xuất hiện. Cá nhân con người trong
nhiều thế kỷ đã bị đẩy vào hậu trường bởi những hệ thống tư tưởng không quan
tâm đến tính độc đáo của con người cá nhân, khinh rẻ khát vọng sống, tình cảm cá
nhân. Triết học hiện sinh khẳng định tự do của con người, từ chối việc ý thức cá
nhân phụ thuộc vào những khái niệm trừu tượng hay các cấu trúc xã hội đã bị phi
nhân tính hoá. Triết học này là biểu tượng nổi loạn chống lại những tư tưởng và
định chế một mặt đã kìm hãm tự do cá nhân, mặt khác, lại biến cá nhân thành kẻ
chối bỏ trách nhiệm, trước hết là trách nhiệm với chính bản thân mình. Trước và
cùng với chủ nghĩa hiện sinh, đã xuất hiện nhiều sự phản kháng từ các phong trào
xã hội nhằm chống văn hoá tuyệt đối hoá, nhưng chỉ có triết học hiện sinh đã tìm
ra lối thoát: không phải đập phá các giá trị hiện tồn, mà tương đối hoá các giá trị và

Thánh Augustin, theo nhận xét của Foulquié, là “triết gia thuộc phái hiện
sinh vì ta có thể tìm thấy nơi thánh nhân cũng như thấy nơi tất cả những người nào
có một đời sống cá nhân mãnh liệt, những thái độ giống như thái độ của phái hiện
sinh tân thời, đó là cách sống thực sự, không giả dối” [58, 134]. Trong Thú tội,
thông qua việc thuật lại những tội lỗi của đời sống xa rời Thiên Chúa của mình,
ông đã thể hiện tâm trạng hiện sinh lo âu và xao xuyến, bất an. Từ đó, ông chú
trọng đến sự hiện hữu của cá nhân mà theo ông là sự hiện hữu gắn với hiện hữu 18
của Thiên Chúa, thấu hiểu bản thân và thấu hiểu Thiên Chúa, “sống biết Thiên
Chúa chính là biết mình”.
Blaise Pascal được nhìn nhận như là người đầu tiên, tuy sống trong thời đại
của chủ nghĩa cơ giới, nhưng lại bảo vệ cá nhân vì ông đã nhận ra bản chất và ý
nghĩa quan trọng của hiện sinh cá nhân. Pascal đưa ra quan điểm mà sau này được
các nhà hiện sinh phát triển: con người đánh mất mình trong sự lạc hướng nhằm
tránh phải nghĩ tới bản chất yếu đuối, hữu hạn của chính mình, làm như vậy họ
thoát khỏi sự tất yếu phải phán xét cuộc sống của họ có phải là không có giá trị gì
hay không. Lẩn trốn sự phán xét này rất quan trọng với họ bởi dường như đúng là
cuộc sống của họ không có giá trị. Lẩn tránh việc định giá cuộc sống, con người
đồng thời cũng lãng quên bản thân mình theo nghĩa là họ đã từ bỏ bất kỳ cơ hội
nào để tiếp cận với cuộc sống theo cách có thể khiến họ sống với nó trọn vẹn.
“Thảng hoặc, khi tôi đặt mình để xem xét những trạng thái đau khổ khác nhau của
con người, nỗi đau và nguy hiểm mà với nó họ phơi bày con người của mình, tại
toà án hay trong cuộc chiến…tôi khám phá ra rằng mọi bất hạnh của con người đều
xuất phát từ những sự kiện cá nhân, rằng họ không thể ngủ yên trong căn phòng
của mình… Nhưng xem xét kỹ lưỡng hơn, khi mà, sau khi tìm kiếm nguyên nhân
của sự đau khổ, tôi tìm thấy nguyên nhân của nó rồi thì tôi lại nhận ra rằng chỉ có
một lý do thực sự, ấy là, sự nghèo nàn mang tính bản chất của đời sống hữu hạn và
yếu đuối của chúng ta, điều đó khủng khiếp đến nỗi không có gì có thể làm ta

đốc giáo. Cha ông là một người có đời sống cá nhân dữ dội, đặc biệt với những
tình cảm tôn giáo cùng với ám ảnh vì tội lỗi đối với Thiên Chúa. Nỗi ám ảnh ấy
ông dồn hết vào người con trai út - Soren. Kierkegaard không có tuổi thơ, ông bị
lôi cuốn vào ám ảnh tội lỗi của cha mình, luôn đau khổ, cô đơn. Năm 1839, ông
đính hôn với Regina Olsen nhưng sau đó một năm thì từ hôn vì nghi ngờ sự thích
hợp của bản thân với hôn nhân. Sự kiện này lại khiến ông càng thêm đau khổ vì
tội lỗi, làm tăng thêm sự xa cách giữa ông và thế giới xung quanh. Song tiếp theo
đó là thời kỳ sáng tạo mãnh liệt của Kierkegaard. 20
Kierkegaard, trong sự sáng tạo đặc biệt mang những dấu ấn tâm lý đậm nét
từ bi kịch của gia đình và của bản thân, đã đưa vào khái niệm “hiện sinh” dấu ấn
đặc biệt của ông. Ông lần đầu tiên đưa ra khái niệm hiện sinh như là tổng thể
những biểu hiện của nhân tính, là cuộc sống đích thực của cá nhân. Hiện sinh
không thể định nghĩa được mà chỉ có thể mô tả. Con người bất hạnh vì nó bị gạt ra
ngoài bản thân nó, ngay lúc nó sống bằng hồi tưởng quá khứ hoặc hy vọng vào
tương lai cũng là lúc nó đánh mất cuộc sống đích thực của mình. Hiện sinh nhấn
mạnh tính chất cụ thể và riêng biệt của một đời sống hiện hữu trong thời gian và
những đòi hỏi về tính cá nhân như là sự tương phản với những nỗ lực để điều
chỉnh cuộc sống của họ một cách trừu tượng, theo những chuẩn mực phổ biến,
quên lãng cái tôi độc đáo. Dấu hiệu đặc thù của hiện sinh là sự lo âu xao xuyến của
cá nhân do cái họa đánh mất mình luôn ở trước mắt nó. Đây là một mô tả điển hình
cái “lo âu hiện sinh”: “Tôi ở đâu? Tôi là ai? Tôi đến đây từ đâu? Từ thế giới có
nghĩa là gì? Ai là người đã đưa tôi vào tồn tại và bây giờ lại bỏ rơi tôi? Tôi có mặt
trong thế giới này như thế nào? Tại sao người ta không hỏi ý kiến tôi, tại sao không
giới thiệu tôi với những tập quán của họ, mà đơn giản đẩy tôi đứng cùng một dãy
với những người khác, dường như tôi bị bắt làm tù binh của một kẻ bán linh hồn
nào đó? Tại sao tôi lại quan tâm tới xí nghiệp khổng lồ được gọi là thực tại này?
Sự quan tâm tự nguyện của tôi là gì? Nếu tôi buộc phải tham gia vào nó, thì ai là

tiếng, những hiện tượng tự nhiên có thể quan sát được một cách công cộng. Một
cuộc sống hướng ngoại hoàn toàn có thể che đậy sự đồi bại, tầm thường hay một
trái tim trống rỗng. Tính cá nhân được định nghĩa trong sự đối lập với cuộc sống
bị định hướng bởi người khác hay của đám đông. Đám đông luôn lầm lạc và tai
ác. Cá nhân là duy nhất và độc đáo. Trở thành cá nhân tức là cảm nhận và hành
động ở một trình độ độc lập xã hội cao, nghĩa là không trở thành đối tượng cho
sự chấp thuận hay không chấp thuận từ những kẻ cầm quyền và rồi bị nô dịch
một cách êm ái. Kierkegaard kiên quyết chống lại hệ thống của Hegel. Trong triết
học Hegel, cá nhân chỉ còn là một yếu tố bị giản lược vào hệ thống: “mỗi người
chỉ là khoảnh khắc của hài hước, bạn là khoảnh khắc của sự trả đũa của lãng mạn 22
thuyết, bạn là giai đoạn của chủ thể tính. Một khoảnh khắc sẽ bị vượt qua và tất
nhiên luôn luôn bị vượt qua” [58, 157]. Kierkegaard phản đối lại Hegel: “ông
muốn nói gì thì nói, tôi không phải một khoảnh khắc lý luận trong hệ thống của
ông. Tôi hiện hữu, tôi tự do. Tôi là tôi, một cá nhân mà không phải một khái
niệm. Không một ý tưởng trừu tượng nào có thể diễn tả nổi nhân cách của tôi,
hay thiết định được dĩ vãng, hiện tại và nhất là tương lai của tôi, hay múc cạn
được những khả tính của tôi, không một lập luận nào có thể giảng nghĩa cho tôi
về chính tôi, về cuộc đời và những tự do lựa chọn của tôi hay về sự sinh tử của
tôi. Do đó triết lý cần thiết phải từ bỏ những tự phụ điên cuồng của mình là muốn
nhìn mọi sự hợp lý theo lý trí để chú tâm vào con người và mô tả hiện sinh của
con người theo thực trạng cụ thể của nó” [58, 157]. Nếu những gì biểu hiện ra
bên ngoài là đã đầy đủ ý nghĩa rồi, bên ngoài là biểu hiện đầy đủ của tâm hồn thì
cuộc đời như vậy chỉ có bề mặt mà không có bề sâu. Cá nhân không còn gì là
riêng tư nữa, mọi sự đã trở thành công khai. Trong khi đó “mỗi cá nhân là một vũ
trụ, ở đó không có một bàn tay ngoại lai nào có thể thò vào được”. Cá tính là đối
lập với kiểu người tiêu biểu của thời đại vốn “thiếu đam mê, hời hợt, say mê
trong chốc lát và lười biếng một cách khôn ngoan”. Một cá nhân có cá tính đưa

tri thức phù hợp với đối tượng trong hiện thực, triết học không phải có nhiệm vụ
nhận thức các quy luật khách quan và tham gia vào lĩnh vực cải tạo thế giới hay
định hướng cho khoa học. Trong Sợ hãi và run rẩy, Kierkegaard đã phân tích sự
bất lực của triết học truyền thống mà cụ thể là triết học Hegel, khi cho rằng cuộc
sống cá nhân trở nên có ý nghĩa khi đặt mình hướng tới cái phổ quát, làm cho
những ước vọng trực tiếp của cá nhân phải cúi mình trước những quy phạm đạo
đức. Triết học đó chấp nhận sự đánh mất tính cá nhân của con người để đổi lấy
một ý nghĩa bị chi phối bởi khuôn mẫu có sẵn. Dựa vào triết học Hegel cũng
không thể hiểu được ý nghĩa việc Abraham hiến con trai mình cho Thiên Chúa và
cho rằng hành động đó phạm vào giá trị đạo đức rồi kết án ông ta nhân danh luân
lý. Lời của Thiên Chúa khi yêu cầu Abraham hiến con trai mình không phải là
luật lệ dành cho tất cả mọi người mà nó đến với Abraham một cách kỳ lạ. Nếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status