Vai trò của giá trị đạo đức truyền thống với xây dựng đạo đức của con người Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***** NGUYỄN THỊ LIÊN

VAI TRÒ CỦA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
VỚI XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.80
HÀ NỘI, 2007
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
NỘI DUNG
6
CHƯƠNG
1.
ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC - NHỮNG GIÁ TRỊ
CẦN KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY

1.1.
Giá trị đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
6
1.1.1.
Khái niệm giá trị, đạo đức
6
1.1.2.
Giá trị đạo đức, giá trị đạo đức truyền thống
13
1.1.3.
Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc

47
2.2.1.
Các giá trị đạo đức truyền thống - cơ sở cho việc chấn hưng đạo đức dân tộc
47
2.2.2.
Một số giá trị đạo đức truyền thống cần được kế thừa và phát huy
trong công cuộc xây dựng đạo đức mới hiện nay
50
2.3.
Một số giải pháp chủ yếu nhằm kế thừa và phát huy giá trị đạo
đức truyền thống vào xây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay
61
2.3.1.
Nhận thức mới về các giá trị đạo đức truyền thống cần kế thừa và
phát huy
61
2.3.2.
Đưa giá trị đạo đức truyền thống vào xây dựng đạo đức gia đình
62
2.3.3.
Giáo dục và thực hành đạo đức truyền thống trong nhà trường
66
2.3.4.
Giáo dục và thực hành đạo đức truyền thống trong xã hội - đặc biệt
là đối với cán bộ, đảng viên, công chức
68
2.3.5.
Thực hành đạo đức cách mạng theo gương sáng đạo đức Hồ Chí
Minh
72

đặc biệt là các nước đang phát triển những cơ hội lớn, nhưng mặt khác, nó cũng đặt ra
những thách thức không nhỏ. Một trong những thách thức đáng lo ngại đó là sự phá vỡ
những giá trị đạo đức truyền thống vốn có từ lâu đời của các dân tộc, làm cho dân tộc này
có thể bị hoà tan trở thành cái bóng của một dân tộc khác, tức là làm đánh mất bản thân
mình và đánh mất sức mạnh vốn có của chính dân tộc mình.
Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh chung của thế giới và cũng chịu sự tác động
hai mặt tích cực, tiêu cực do nền kinh tế thị trường đem lại. Nền kinh tế thị trường với
mặt tích cực của nó đã làm cho xã hội trở nên năng động, phát triển. Nó thực sự là một
động lực quan trọng đối với dân chủ và dân chủ hoá đời sống xã hội. Và kết quả đã cho
thấy điều đó - xã hội sau một thập kỷ đổi mới (1986 - 1996) đã ra khỏi sự trì trệ, khủng
2
hoảng, đã tạo ra những thay đổi to lớn trong các lĩnh vực văn hoá, kinh tế, chính trị…, và
tạo tiền đề cho quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Song mặt trái của kinh tế thị trường đã thâm nhập rất mạnh, ngày càng mạnh và
còn tiếp tục gay gắt hơn nữa trong những thập kỷ tới. Nó đã trực tiếp làm cho đạo đức xã
hội ở nước ta hiện nay suy thoái nghiêm trọng, đang trở thành tình huống có vấn đề trong
phát triển, cần phải đưa ra lời cảnh báo và nghiên cứu các biện pháp giải quyết.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế chúng
ta không những không đánh mất những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc mà còn có
thể giữ gìn, kế thừa, phát huy và đổi mới những giá trị đó, biến chúng thành sức mạnh tinh
thần của dân tộc đưa đất nước lên một tầm cao mới, đủ sức nắm bắt những cơ hội mới do
chính quá trình hội nhập kinh tế đem lại. Đây là một vấn đề cấp bách đang gây sự chú ý
của nhiều cấp, nhiều ngành, là một vấn đề đặt ra cho các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu
phải trăn trở suy nghĩ, tìm ra con đường phát triển tối ưu nhất cho đất nước mình. Vì vậy,
việc tìm hiểu giá trị đạo đức truyền thống và ảnh hưởng của nó tới đạo đức của con người
Việt Nam trong nền kinh tế thị trường là rất cần thiết, cấp bách cả về mặt lý luận thực tiễn,
vừa có tính thời sự, vừa có ý nghĩa lâu dài. Với lý do đó tôi chọn vấn đề ”Vai trò của giá trị

thị trường, Tạp chí Triết học số 1/1995 đã đề cập trực tiếp tới chủ đề nghiên cứu gần với
đề tài đã nêu trên.
Nền kinh tế thị trường lại đặt các giá trị đạo đức truyền thống trước những thách
thức mới, do vậy, những năm gần đây, đã có những cuộc hội thảo quốc tế lớn bàn về vấn
đề giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống của các dân tộc trong bối cảnh toàn cầu
hoá hiện nay. Trong đó phải kể đến một số báo cáo tiêu biểu như: Nguyễn Trọng Chuẩn,
Các giá trị truyền thống trước sự thẩm định và thách thức của thời đại trong bối cảnh
toàn cầu hoá, Hà Nội, 2001; Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống về mục tiêu phát
triển, Hà Nội, 1998; Nguyễn Văn Huyên, Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên
trong của sự phát triển đất nước, dân tộc, Hà Nội, 1998; Đỗ Huy, Những giá trị truyền
thống ở Việt Nam trước thách thức của toàn cầu hoá, Hà Nội 2001; Nguyễn Tài Thư,
Khả năng phát triển của giá trị truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá, Hà
Nội, 2001; Lê Ngọc Anh, Sự chuyển đổi giá trị truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn
cầu hoá, Hà Nội, 2001… ; Nguyễn Duy Quý, Hoàng Chí Bảo: “Đạo đức xã hội dưới tác
động và ảnh hưởng của kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay”, “Thực trạng và nguyên
nhân suy thoái đạo đức trong xã hội”, trong cuốn sách Đạo đức xã hội ở nước ta hiện
nay - vấn đề và giải pháp, Nxb. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006. Công trình chuyên
khảo này đã lần đầu tiên nghiên cứu, khảo sát về đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị
trường và đề xuất phương hướng, giải pháp chấn hưng đạo đức dân tộc.
Bên cạnh các cuốn sách, các báo cáo nêu trên, còn có nhiều bài báo tập trung vào
việc tìm hiểu vấn đề đạo đức, nhân cách, các giá trị truyền thống trong điều kiện hiện
nay. Chẳng hạn, Lê Thị Tuyết Ba, Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển kinh tế-xã
4
hội trong điều kiện kinh tế thị trường (Tạp chí Triết học, số 5, 2002); Trần Nguyên Việt,
Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong
nền kinh tế thị trường, (Tạp chí Triết học số 5, 2002); Trần Sĩ Phán, Vai trò của giáo dục
đạo đức đối với việc hình thành và phát triển nhân cách trong giai đoạn hiện nay (Tạp

5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vai trò các giá trị đạo đức truyền thống và ảnh hưởng của
nó tới đạo đức con người Việt Nam trong nền kinh tế thị trường.
Phạm vi: Luận văn tập trung nghiên cứu đạo đức ở nước ta trong những năm gần
đây khi chuyển sang kinh tế thị trường.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ vai trò và mức độ ảnh hưởng của giá trị đạo đức truyền
thống đối với việc xây dựng đạo đức của con người Việt Nam hiện nay trong nền kinh tế
thị trường.
Đề xuất những giải pháp định hướng cho việc xây dựng đạo đức trong điều kiện
hiện nay ở nước ta.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận:
Luận văn góp phần vào việc xây dựng lý luận nhân cách đặc biệt về đạo đức trong
điều kiện hiện nay.
Luận văn góp phần vào việc giải quyết những vấn đề bức thiết của nghiên
cứu đạo đức học hiện nay, vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị đạo đức truyền thống
trong việc xây dựng đạo đức mới khắc phục tình trạng suy thoái đạo đức xã hội -
để chấn hưng đạo đức dân tộc.
Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, học tập, giảng
dạy về đạo đức học, về nhân cách, về giá trị đạo đức truyền thống.
Luận văn có ý nghĩa khuyến nghị đối với công tác xây dựng đạo đức mới trong
điều kiện hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2
chương, 5 tiết.
trị. Trong kinh tế chính trị học, giá trị là một phạm trù lịch sử, nó chỉ tồn tại
trong nền sản xuất hàng hoá mà thôi.
Nhìn từ góc độ đạo đức học, giá trị được xem xét trong phạm vi đời sống
đạo đức tinh thần của con người. Giá trị đạo đức chính là những thái độ, hành vi
được con người lựa chọn, được đánh giá là có ý nghĩa tích cực đối với đời sống
xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương, phù hợp với những
chuẩn mực đạo đức của xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Đối với triết hoc, có nhiều quan niệm khác nhau về giá trị, điều đó được
thể hiện thông qua các quan điểm của các trường phái triết học khác nhau. Họ
xem xét giá trị từ phía chủ thể, hoặc từ phía khách thể, hoặc từ sự tương tác giữa
chúng, theo lập trường thế giới quan duy vật hoặc duy tâm.
7
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi giá trị là cái phụ thuộc vào kinh nghiệm
của con người, là biểu hiện thái độ chủ quan của con người đối với khách thể mà
người đó đang đánh giá.
Chủ nghĩa duy tâm khách quan coi giá trị như là cái thuộc về khách thể, là
đặc tính riêng biệt chủ yếu của chính các khách thể.
Chủ nghĩa tương đối xem giá trị là cái không thuộc về khách thể, cũng
không thuộc về chủ thể, mà là một quan hệ, một liên hệ có tính ngẫu nhiên giữa
chủ thể và khách thể.
Việc xem xét giá trị không phải từ một phía khách thể hoặc chủ thể, hoặc
mối liên hệ ngẫu nhiên giữa chúng. Giá trị là sự thống nhất biện chứng giữa
khách thể và chủ thể. Giá trị được hình thành trong quá trình lao động sản xuất,
trong quá trình phát triển của xã hội. Trong quá trình đó, sự mưu sinh và hoạt
động sáng tạo làm nảy sinh các nhu cầu. Quan hệ giữa các nhu cầu sinh ra các lợi
ích. Sự thoả mãn các lợi ích chính là căn nguyên bên trong của sự hình thành các
giá trị [29, tr.1].

Như vậy, chính nhờ có sự chế định của các nhu cầu và lợi ích của con
người mà giá trị mang tính chất khách quan, nghĩa là, sự tồn tại hay mất đi của
một giá trị nào đó không phụ thuộc vào chủ thể, mà phụ thuộc vào sự tồn tại hay
mất đi của một nhu cầu nào đó. Điều này là do thực tiễn qui định, được thực tiễn
kiểm nghiệm, bởi “thực tiễn vừa là tiêu chuẩn của chân lý về bản chất của khách
thể, vừa là tiêu chuẩn của chân lý về giá trị của khách thể” [54, tr.129]. Thực tiễn
là nơi tạo ra các giá trị, vừa là nơi mà ở đó, các giá trị hình thành và nảy sinh.
Một sự vật, hiện tượng được coi là có giá trị nhất thiết phải thông qua sự
đánh giá của con người. Giá trị là một phạm trù mang bản chất người. Bởi vì, chỉ
có trong xã hội loài người, sự vật mới có giá trị. Nếu một sự vật nào đó không
thông qua sự đánh giá của con người thì nó không thể có giá trị. Ví dụ. Một sự
vật A được gọi là đẹp, là có giá trị cần phải có sự kiểm nghiệm, sự đánh giá của
con người thì mới biết được sự vật đó đẹp, có giá trị hay không. Như vậy, bên
cạnh tính chất khách quan, giá trị còn mang tính chủ quan. Đó là thái độ, sự đánh
giá và sự lựa chọn giá trị xã hội của con người. Do đó, giá trị không chỉ bị chế
ước bởi tính chất của khách thể mà còn bị chế ước bởi chủ thể hành động. Chính
vì vậy, ở mỗi một thời kỳ, một giai đoạn lịch sử khác nhau, quan niệm về giá trị
có sự khác nhau, có sự thay đổi. Không những thế, ngay cả trong cùng một thời
đại, mỗi một tập đoàn người, mỗi giai cấp khác nhau cũng có quan niệm về giá trị
khác nhau. Cái là giá trị ở thời đại này, giai cấp này, lại có thể không phải là giá
trị ở thời đại khác, giai cấp khác.
Các hình thái biểu hiện của giá trị là phong phú, đa dạng phụ thuộc vào sự
đa dạng của đối tượng và nhu cầu con người. Sự phong phú, đa dạng của các giá
9
trị hợp thành một hệ thống giá trị. Nhìn chung, có hai loại giá trị cơ bản: giá trị
vật chất và giá trị tinh thần.
Giá trị vật chất: Thể hiện rõ nhất trong đời sống kinh tế, đời sống vật chất


10
giá trị được xã hội chấp nhận để lựa chọn cách thức suy nghĩ và hành động phù
hợp nhất nhằm đem lại kết quả mang giá trị được xã hội thừa nhận.
Các giá trị luôn tạo ra động cơ thúc đẩy ý chí, thái độ, quyết tâm và sức
mạnh giúp con người hành động, vượt qua khó khăn, vươn tới mục đích tốt đẹp.
Theo Giáo sư Nguyễn trọng Chuẩn, “nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt
tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với
cái đúng, cái tốt, cái đẹp; là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người nỗ lực
hành động và nỗ lực vươn tới” [6, tr.16].
Mỗi một dân tộc có một hệ thống chuẩn mực giá trị khác nhau, một hệ
thống chuẩn mực giá trị nào đó khi được xã hội chấp nhận thì sẽ trở thành phương
thức điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác, phù hợp với lợi
ích xã hội. Giá trị vì thế có ý nghĩa thiết yếu đối với đời sống xã hội.
Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội. Trong quá trình phát triển của
xã hội loài người, đạo đức chịu sự qui định của đời sống kinh tế, là sự phản ánh
quan hệ lợi ích của con người. Đạo đức được hình thành rất sớm và luôn được cả
nhân loại quan tâm.
Trước đây, có người cho rằng: đạo đức con người là do thượng đế sinh ra,
hay con người sinh ra vốn đã là “thiện”, hoặc là “ác” rồi. Có quan niệm qui đạo
đức của con người vào “ý niệm siêu cảm giác” hay “ý niệm của điều thiện”
(Aritxtốt và Platôn). Cũng có quan niệm cho rằng: đạo đức là biểu hiện của “ý
niệm tuyệt đối” (Hêghen) hay qui đạo đức vào tình yêu chung chung, không phân
biệt giai cấp hay tình yêu nam nữ (Phơiơbắc), và có cả quan niệm cho rằng: đạo
đức là cái gì đó bất biến, tồn tại vĩnh cửu (Đuyrinh).
Theo quan điểm Mácxít, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một chế
định xã hội thực hiện các chức năng điều chỉnh hành vi con người. Đạo đức là
những nguyên tắc sống, những qui phạm gắn liền và phù hợp với một hình thái
kinh tế xã hội nhất định, được hình thành từ những điều kiện sinh hoạt vật chất

hội thay đổi tất sẽ dẫn đến những thay đổi trong đời sống tinh thần của xã hội,
đến những thay đổi trong hệ thống giá trị tinh thần xã hội trong đó có đạo đức.
Mặt khác, đạo đức cũng có sự tác động trở lại đối với chính cơ sở kinh tế – xã hội
mà trên đó, nó được nảy sinh. Sự tác động diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc
tiêu cực. Để phát huy vai trò tích cực của đạo đức đối với sự phát triển kinh tế thì
không thể để cho các chuẩn mực đạo đức hình thành một cách tự phát, mà cần
phải có sự chỉ đạo, hướng dẫn và xây dựng một cách tự giác. Một trong những
giải pháp chủ yếu là kinh tế, bởi các quan hệ kinh tế bao giờ cũng là cơ sở, nền
12
tảng của các quan hệ đạo đức. Điều đó có nghĩa, muốn định hướng giá trị đạo đức
thì trước tiên phải định hướng ngay trong cơ sở kinh tế - xã hội đã sản sinh ra nó.
Nói về ảnh hưởng của những biến đổi diễn ra trong đời sống kinh tế - xã
hội đối với quá trình hình thành quan niệm của con người về đạo đức và các giá
trị đạo đức, Ph. Ănghen khẳng định: “Con người dù tự giác hay không tự giác, rút
cuộc đều rút ra những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn
đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong
đó người ta sản xuất và trao đổi Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức
đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy
giờ” [15, tr.136- 137].
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, đời sống vật chất của con người
ngày một nâng cao và theo đó cũng xuất hiện những điều kiện “thuận lợi” cho sự
“thăng tiến” về đạo đức và tinh thần của con người theo hướng “phú quí sinh lễ
nghĩa”, cùng với khả năng nảy sinh những giá trị đạo đức tiêu cực. Do vậy, khả
năng phát triển đạo đức theo xu hướng tích cực không phải tự nhiên mà có hay
được thực hiện một cách tự động, mà cần phải đấu tranh với những thói hư, tật
xấu bằng hình thức pháp luật, bắt mọi cá nhân đều phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về hành vi đạo đức của mình. Trong nền kinh tế thị trường, mọi mệnh

các giá trị tinh thần của đời sống xã hội, giá trị đạo đức được xác định là những
chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những qui tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và
chuẩn hoá hành vi con người trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Trong mỗi một vùng miền, dân tộc, mỗi thời kỳ lịch sử, có hệ thống các giá
trị đạo đức tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau, được sắp xếp theo những thang bậc
khác nhau. Do đó, việc tiếp thu các giá trị đạo đức diễn ra dưới nhiều hình thức
khác nhau trong quá trình giáo dục và hoạt động của cá nhân, cũng như trong quá
trình tác động qua lại giữa cá nhân với môi trường xung quanh.
Mỗi thời đại lịch sử, có những mẫu giá trị đạo đức khác nhau. Trong thời
Cổ đại, giá trị đạo đức cao quí nhất là phục tùng các giá trị của cộng đồng, mọi
người không được ăn cắp. Mẫu người điển hình là những người anh hùng khoẻ
mạnh, có khả năng bảo vệ được cộng đồng; thời Trung cổ, do ảnh hưởng nặng nề
của tôn giáo, giá trị đạo đức cao nhất là sự phụng Chúa hết mình. Mẫu người lý
tưởng là những người truyền giáo, những con chiên ngoan đạo; sang thời Tư bản
chủ nghĩa, đây là thời kỳ kinh tế, khoa học, kỹ thuật phát triển và việc đề cao lý
tính con người ở một mức độ nhất định, con người phải tự biết định đoạt số phận
của mình, nên đã hình thành những giá trị đạo đức như tự chủ cá nhân, tài năng
được đề cao, đặc biệt là lao động trí óc; ở trong xã hội Cộng sản cộng sản chủ
nghĩa, giá trị đạo đức cao quí nhất của con người là mang hết sức mình phục vụ
14
mọi người, mình vì mọi người và mọi người vì mình. Đó là xã hội mà tất cả mọi
người dân đều được hưởng ấm no, hạnh phúc.
Bởi vậy, khi phán xét, thẩm định một hiện tượng giá trị đạo đức nào đó,
chúng ta không thể dừng lại ở chỗ lý giải nội dung khái niệm của nó mà phải đi
sâu tìm hiểu nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, nền tảng kinh tế xã hội, nghĩa là
phải hiểu tồn tại xã hội đã sản sinh ra nó. Đạo đức luôn thay đổi theo tồn tại xã
hội, và do vậy theo các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác, “không thể có thứ đạo đức

quan niệm “trung với vua” của học thuyết Nho giáo làm ví dụ. Học thuyết này
cho rằng: tất cả mội người trong thiên hạ, đặc biệt là quan lại phải trung thành
với vua, với dòng họ nhà vua trong bất kỳ hoàn cảnh nào, điều kiện nào. Quan
niệm đó tạo ra những nhà nho trung với vua một cách cứng nhắc. Ngay cả trong
xã hội ta hiện nay, chúng ta đang xây dung nền kinh tế thị trường với những yêu
cầu về đạo đức được đề cao như tính tự chủ cá nhân thì tâm lý ỷ lại, dựa vào tập
thể trong nhiều trường hợp vẫn còn ăn sâu trong ý thức của con người Việt Nam.
Nhưng không phải ai cũng tỏ ra bảo thủ trước những biến đổi của đời sống xã hội.
Lịch sử đã từng ghi lại rất nhiều trường hợp, các giá trị truyền thống được con
người sử dụng và phát huy sáng tạo một cách có hiệu quả, mà Chủ tịch Hồ Chí
Minh là một ví dụ tiêu biểu.
Vậy giá trị đạo đức là gì?
Giá trị đạo đức là những giá trị được xác định là những chuẩn mực có tính
phổ biến được con người lựa chọn nhằm định hướng ý nghĩ, hành vi của mình. Nó
có sức mạnh điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội thông qua dư luận xã hội lành mạnh, nhưng trong sự vận động hiện thực, nếu
không có một Nhà nước pháp quyền mạnh mẽ thì nó dễ bị đẩy xuống hàng thứ yếu.
Trong tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài người, hệ thống giá trị
tinh thần của đời sống xã hội nói chung, các giá trị đạo đức nói riêng luôn được
coi là yếu tố cấu thành diện mạo của một thời đại, một xã hội, một dân tộc, một
nền văn hóa và của nhân cách con người. Và do vậy, mọi phương thức thẩm định,
định hướng giá trị nói chung, giá trị đạo đức nói riêng đều phải dựa trên cơ sở
tính ổn định tương đối của các giá trị đó.
Với tư cách là sản phẩm của tiến trình phát triển lịch sử, của sự phát triển
kinh - tế xã hội và mang tính thực tiễn – lịch sử cụ thể, các giá trị đạo đức được
xác định là tất cả những gì đem lại sự phát triển, sự tiến bộ cho xã hội và cho bản
thân con người. Bởi thế, mọi giá trị đạo đức đều phải hướng tới tính nhân văn đó
[43, tr.29].
Không có một dân tộc, một xã hội nào lại không có giá trị đạo đức của
riêng mình. Vấn đề đặt ra là con người phải biết lựa chọn những giá trị đạo đức

Mặc dù truyền thống là những gì ổn định, được lưu truyền từ đời này qua
đời khác, nhưng với tư cách là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, khi điều kiện
kinh tế-xã hội có những biến đổi, thì nó cũng có những biến đổi nhất định, trong
đó có sự biến đổi của giá trị đạo đức truyền thống. Tuy vậy, các giá trị đạo đức
truyền thống trong quá trình vận động của mình, vẫn giữ được những hạt nhân,
những cái cốt lõi căn bản nhất. Chẳng hạn, sự tương thân, tương ái, bao dung,
17
tinh thần đoàn kết luôn là những giá trị trường tồn, bền vững. Có điều chúng
cần được bổ sung và chuyển hoá cho ngày càng phong phú và phù hợp với đặc
trưng, tính chất của thời đại [29, tr.3].
Ngày nay, mặc dù cơ chế thị trường với nhiều mặt trái của nó đang có ảnh
hưởng không phải hoàn toàn tích cực, cũng không phải chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới
các giá trị đạo đức truyền thống của nước ta, song việc đặt vấn đề về tính bất
dung giữa cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn không
có căn cứ. Do vậy, việc xây dựng một nền kinh tế thị trường lành mạnh, phát
triển nhanh và bền vững, hướng theo mục tiêu độc lập dân tộc, dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa là
đòi hỏi có tính nguyên tắc của việc tạo dựng nền đạo đức mới mà trong đó, các
giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận hợp thành, được đổi mới phù hợp với
yêu cầu và xu thế phát triển của thời đại.
Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, một hệ thống đạo đức xã hội sẽ không thể phát triển nếu phủ nhận sạch
trơn đạo đức truyền thống và không hướng vào mục tiêu ngày càng nhân đạo hóa
con người, ngày càng phát triển và hoàn thiện con người. Phát triển tách khỏi cội
nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa. Đi vào kinh tế thị trường,
hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị đạo đức truyền thống, đánh mất
những cái làm nên “cốt cách” của dân tộc mình, đất nước mình sẽ làm mất bản

đánh giá hành vi của các cá nhân.
Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc vừa là kết quả, vừa là cơ sở,
động lực của quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và giao lưu văn hoá lâu dài
của dân tộc, góp phần tạo dựng bản lĩnh dân tộc, nhân cách con người Việt Nam.
Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa
được cô đúc nên trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc.
Cho nên giá trị đạo đức truyền thống là cái thể hiện bản chất nhất, đặc trung nhất
của cốt lõi văn hoá dân tộc tạo nên một sức mạnh tiềm tàng và bền vững.
Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc không phải là những gì sẵn có khi
dân tộc đó xuất hiện, mà do các thế hệ người nối tiếp nhau trong lịch sử tạo
thành. Tuy nhiên, mỗi dân tộc cũng không thể tự lựa chọn cho mình những giá trị
truyền thống như mong muốn, mà những giá trị truyền thống được hình thành dựa
trên cơ sở những điều kiện kinh tế, lịch sử, xã hội của chính dân tộc đó trong suốt
tiến trình lịch sử của mình. Theo CácMác, “con người làm ra lịch sử của chính
mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tuỳ tiện của mình, trong những điều
kiện tự mình chọn lấy, mà là trong những điều kiện trực tiếp có trước mắt, đã có
sẵn và do quá khứ để lại” [39, tr.145].
Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cũng không phải là giá trị vĩnh
cửu, nó có lõi bất biến đồng thời có phần biến động để có thể bổ sung, đổi mới
cho ngày càng phong phú và phù hợp với đặc trưng, tính chất thời đại. Một giá trị
19
khi đã trở thành giá trị truyền thống không có nghĩa là nhất thành, bất biến và có
giá trị cao cho mọi thời đại, mà cùng với sự vận động, biến đổi của lịch sử nó
cũng có sự thay đổi cho phù hợp. Giáo sư Trần văn Giàu nhận định: “Nếu mỗi lúc
một thay thì tính truyền thống không còn nữa; nói truyền thống là nói lâu dài qua
nhiều thời mà lõi cốt vẫn giữ; nói của dân tộc là nói chung của đại đa số người
dân. Trong giá trị truyền thống dân tộc thì người xưa và người nay đều cơ bản

sung cho những cái bên trong mà nó đang thiếu hụt, giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc sẽ ngày càng phong phú thêm và sẽ là cơ sở vững chắc cho sự vận động
của xã hội, cho sự phát triển của đất nước và của dân tộc.
Vậy sức mạnh nội sinh của truyền thống dân tộc ta là gì?
Cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc, cùng với thời gian, các giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển. Những giá trị
đạo đức truyền thống đã trở nên ổn định và được lưu truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác và trở thành động lực, sức mạnh, bản sắc của nhân cách con người
Việt Nam.
Theo Giáo sư Vũ Khiêu, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam
bao gồm: ”lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù, tinh thần nhân
đạo, lòng yêu thương và quí trọng con người” [34, tr.74 – 86]. Giáo sư Trần Văn
Giàu cho rằng các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm:
yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa [19,
tr.94].
Trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các giá trị đạo đức truyền thống
thường được đề cập đến và được coi là những giá trị nổi bật chẳng hạn, Nghị
quyết của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng đã
khẳng định: “Những giá trị văn hoá truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam
là: lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý “thương người như
thể thương thân”, “đức tính cần cù…” [55, tr.19].
Như vậy, từ quan điểm của các nhà khoa học cũng như quan điểm của Đảng
ta có thể khẳng định: dân tộc Việt Nam có một di sản giá trị đạo đức vô cùng
phong phú, trong đó các giá trị điển hình là: tinh thần yêu nước, lòng thương
người sâu sắc, tinh thần đoàn kết, tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm.
Đó là những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần phải được trân trọng và
phát huy làm cơ sở cho việc nắm bắt, tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tri thức
khoa học, công nghệ của nhân loại để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã
hội của đất nước. Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc là cái không dễ bị
phai mờ khi đối mặt với những biến chuyển dồn dập của xã hội hiện đại.

nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi
ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng, - dĩ nhiên phép biện chứng
bao hàm trong nó nhân tố phủ định, và thậm chí với tính cách là nhân tố quan trọng nhất
của nó, - không, mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của liên hệ; vòng khâu của sự
phát triển, với sự duy trì từ cái khẳng định” [36, tr.245].
Giá trị của kế thừa và phát huy biện chứng được quy định bởi vai trò của nó trong
sự ra đời của cái mới. Không có cái mới nào lại ra đời từ hư vô. Nhờ việc giữ lại những
nhân tố tích cực của cái bị phủ định – tức là nhờ có kế thừa và phát huy mà cái mới tạo
22
tiền đề cho sự xuất hiện của mình. Trong dòng chảy của thời gian, cái quá khứ, cái truyền
thống không mất đi mà không để lại dấu vết nào trong cái hiện tại, tạo ra mối liên hệ chặt
chẽ và sống động giữa các sự vật, hiện tượng trong quá khứ với hiện tại và tương lai. Mối
liên hệ này biểu hiện khuynh hướng phát triển đi lên của các sự vật hiện tượng.
Vậy kế thừa và phát huy với xây dựng cái mới là gì?
Xét về thực chất, đó chính là biểu hiện khuynh hướng phát triển đi lên của các sự
vật. Đó là kết quả của quá trình vận động phát triển của sự vật để cái mới ra đời được
hoàn thiện hơn. Trong quá trình vận động phát triển, những yếu tố tích cực của cái cũ
được giữ lại, được cải biến để tham gia vào sự vật mới với tư cách là yếu tố cấu thành của
nó. Con đường phát triển đó không phải là bước đi thuần tuý mà là một khuynh hướng
trải qua nhiều giai đoạn bao hàm trong nó những bước quanh co, phức tạp, nó không diễn
ra theo đường thẳng mà theo đường xoáy ốc. V.I. Lênin viết: “Sự phát triển hình như
diễn lại những giai đoạn đã qua nhưng dưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn
(“Phủ định của phủ định”); Sự phát triển có thể nói là theo đường trôn ốc chứ không phải
theo đường thẳng” [35, tr.65]. Sự nối tiếp nhau của các vòng xoáy ốc thể hiện tính vô tận
của sự phát triển, sự tiến hoá từ thấp đến cao. Mỗi một vòng xoáy mới thể hiện một trình
độ cao hơn của sự phát triển đồng thời dường như quay lại cái đã qua, dường như lặp lại
vòng trước. “Đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng chính là sự phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status