Quan hệ công chúng và đào tạo của những người hoạt động trong lĩnh vực quan hệ công chúng - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________________________  TẠ THỊ HỒNG HẠNH

QUAN HỆ CÔNG CHÚNG VÀ ĐÀO TẠO CỦA NHỮNG NGƯỜI
HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC QUAN HỆ CÔNG CHÚNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2010 1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài. 3
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu. 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. 6
4. Cơ sở lý luận và phạm vi nghiên cứu. 7
5. Phương pháp nghiên cứu. 7
6. Đóng góp của đề tài. 7
7. Ý nghĩa của đề tài. 7
8. Cấu trúc của đề tài. 8
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH
QUAN HỆ CÔNG CHÚNG 9
1.1. Lý luận chung về quan hệ công chúng ( PR ). 9
1.1.1. Mô hình truyền thông – cơ sở lý luận của PR. 9
1.1.2. Nguồn gốc PR hiện đại. 17
1.1.3. Công chúng là gì? 20
1.1.4. Quan hệ công chúng là gì? 27

ánh sáng và là tín hiệu nhận biết, truyền tin giữa các thành viên trong bầy đàn với
nhau. Khi xã hội phát triển cao hơn, con người đã biết dùng chữ viết đơn giản để mô
phỏng sự phát triển của thế giới tự nhiên và những sự kiện lịch sử của xã hội, cũng
như những kinh nghiệm, phương thức trong việc sản xuất, các nhận thức cơ bản về
nông nghiệp, y học, giáodục, v.v…
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, các phương
thức, cách thức đẩy nhanh sự phát triển giao tiếp hay còn gọi là sự phát triển “thông
tin” của con người cũng được hiện đại hóa ở một trình độ cao hơn. Ngày nay, sự
phát triển của mạng viễn thông, các thiết bị tin học hiện đại đã giúp tiết kiệm thời
gian, chi phí của mọi người. Với các hình thức phong phú của một xã hội thông tin
hiện đại, mọi người giờ đây có thể tìm hiểu cặn kẽ hơn những gì mà trước đây chưa
có đủ căn cứ để khẳng định.
Các tầng lớp xã hội hiện nay đều có quyền tự do, bình đẳng về việc tra cứu
thông tin, về việc thể hiện tình cảm cá nhân của mình qua các phương tiện thông tin
và truyền thông đại chúng như: email, blog, báo in, báo điện tử, v.v… Trong một xã
hội mà thông tin, truyền thông đóng vai trò là những nhân tố định hướng suy nghĩ,
gia tăng sự hiểu biết về mọi lĩnh vực khác trong đời sống, thì lúc đó một yêu cầu
bức thiết và cơ bản được đặt ra là sự chính xác, trung thực, tin cậy của các nguồn tin
đó.

4
Một cá nhân trong một giờ, một ngày phải tiếp nhận quá nhiều thông tin từ các
phương tiện truyền thông và các mối quan hệ xã hội khác từ Chính phủ đến các
công ty lớn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự bùng nổ thông tin và nhu cầu
được biết những thông tin cập nhật, chân thực là điều xác đáng. Tuy nhiên, trong
một thế giới đầy ắp thông tin như vậy, những thông tin đúng và sai đều xuất hiện.
Sự lẫn lộn ấy khiến nhu cầu về sự sàng lọc thông tin của con người là rất cần thiết
và hợp lý.
Do vậy, số đông tiếp nhận những thông tin đó cần có những người đứng ra làm
công việc thu thập, chỉnh đốn lại những thông tin sai lệch, đồng thời hợp tác với các

v.v… PR được xem như là một ngành nghề được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp ở
các nước phát triển và được nhiều người chọn làm công việc suốt đời của họ do vậy,
PR đã được đưa vào giảng dạy như một môn học không thể thiếu ở các viện nghiên
cứu, các trường đại học, v.v…
Các tác giả viết về PR, cũng như các công trình nghiên cứu, tài liệu, sách báo
về ngành PR rất đa dạng, phong phú, được thể hiện trên nhiều góc độ, khía cạnh
khác nhau như: PR và tiếp thị, PR mới, PR và quảng cáo, PR tài chính, PR sản phẩm,
PR trong vận động hành lang, PR trong quản trị khủng hoảng, v.v…
Ngày nay, nền kinh tế Việt Nam đã phần nào thể hiện tính chất năng động của
một nền kinh tế thị trường, cùng với chính sách mở cửa, giao lưu hội nhập với nền
kinh tế thế giới đã góp phần chuẩn bị những tiền đề vững chắc cho tiến trình toàn
cầu hóa.
PR hiện nay cũng đang được một số trường đại học, trung tâm kinh doanh,
v.v… đưa vào giảng dạy như một môn học mới cho những đối tượng yêu thích
ngành nghề này. PR cũng đạt được sự quan tâm nhiệt tình của các bạn trẻ vì tính
chất mới mẻ và năng động của nó. Tuy nhiên, vì PR là một môn học được du nhập
từ nước ngoài vào Việt Nam, nên vẫn còn tương đối mới lạ. Các tài liệu chuyên
khảo chủ yếu được dịch từ các sách báo nước ngoài.
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động PR mới chỉ chủ yếu tập trung ở các mảng
chính như: tổ chức sự kiện, tư vấn marketing, quan hệ với báo chí, v.v… Nguồn
nhân lực cung cấp cho ngành này chưa thực sự chuyên nghiệp, ít về mặt số lượng và

6
non trẻ về mặt chuyên môn. Những nhân viên PR chiếm phần lớn là những người
được đào tạo ở các ngành học khác như: báo chí, ngoại ngữ, kinh tế, chính trị, v.v…
Chính vì vậy, vốn kiến thức nền tảng của họ bị thiếu hụt và chưa hoàn thiện.
Mặt khác, ở nước ta, các tài liệu, sách báo chuyên khảo về PR còn rất hạn chế,
trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi xin điểm qua một số tác phẩm chính sau:
- Đinh Thị Thúy Hằng ( 2008 ), PR- Lý luận và ứng dụng, Nhà Xuất Bản Lao
động - Xã hội, Hà Nội: Trong tài liệu này, mục đích của tác giả là tập trung vào việc

 Làm rõ lý luận chung về quan hệ công chúng.
 So sánh sự khác biệt giữa PR và các hình thức truyền thông khác.
 Làm rõ thực trạng đạo đức của nhân viên PR hiện nay.
 Đề xuất một số giải pháp xây dựng đạo đức nhân viên PR.
4. Cơ sở lý luận và phạm vi nghiên cứu.
a) Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về truyền thông đại chúng, đồng thời
dựa trên cơ sở lý luận chung của ngành quan hệ công chúng trên thế giới thời gian
qua.
b) Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào phần lý luận cơ bản của PR, làm sáng rõ các khái niệm của
PR, định nghĩa đạo đức và phẩm chất đạo đức cần có theo quan niệm của các nhà
hoạt động và nghiên cứu PR trên thế giới.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn có sử dụng kết hợp các phương pháp sau: phương pháp phân tích và
phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp đối chiếu, so
sánh, khát quát hóa, trừu tượng hóa.
6. Đóng góp của đề tài.
Đã làm rõ lý luận chung về quan hệ công chúng, thực trạng đạo đức của nhân
viên PR và đề xuất một số giải pháp xây dựng đạo đức nhân viên PR.
7. Ý nghĩa của đề tài.

8
Đề tài trên phần nào làm cho độc giả có thêm những kiến thức cụ thể, chi tiết
về những hình thức hoạt động trong lĩnh vực quan hệ công chúng. Những thắc mắc
về PR sẽ được giải đáp một cách thuyết phục và hiệu quả. Mặt khác, đề tài cũng góp
phần khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của đạo đức, lương tâm của người hoạt
động trong lĩnh vực quan hệ công chúng đối với sự phát triển lâu dài, bền vững của
ngành nghề này.

có chính xác, trung thực hay không.

10
Bên cạnh đó, các công ty, các tổ chức xã hội rất cần sự ủng hộ từ phía người
tiêu dùng, từ công chúng của mình. Họ cần phải thường xuyên thiết lập, truyền tải
những thông điệp chân thành, cởi mở đến công chúng để duy trì mối quan hệ tốt đẹp
với công chúng và bảo vệ danh tiếng của chính mình. Vậy bộ phận nào trong các
công ty, các tổ chức trên đảm nhận nhiệm vụ truyền tải, kết nối thông tin giữa doanh
nghiệp, tổ chức với công chúng - đó chính là “phòng hoạt động công chúng” (phòng
PR) do những chuyên viên PR đảm nhận. Một yêu cầu được đặt ra là, làm sao các
nhân viên PR có thể truyền tải được thông điệp đến công chúng một cách dễ hiểu và
họ nên chọn lựa mô hình truyền thông nào cho phù hợp.
Hoạt động truyền thông thật sự đòi hỏi phải có sự trao đổi thông tin mang tính
hai chiều. Tuy nhiên, nhiều chuyên viên PR lại vẫn tin vào mô hình truyền thông
tuyến tính một chiều với các nguyên tắc căn bản do Shannon và Weaver đưa ra năm
1949. Mô hình được thể hiện như sau:

Hình 1.1: Mô hình truyền thông của Shannon và Weaver - [22,pg.117].
Theo mô hình trên, người gửi mang tính chủ động trong khi người nhận thì bị
động, và thông điệp sẽ được hiểu rõ. Ngoài ra, ở đây không có sự phân biệt giữa
truyền thông giao tiếp với các cá nhân, công chúng, hay với một bên thứ ba.
Mô hình của Shannon và Weaver có thể áp dụng cho các cá nhân, nhưng vẫn
còn thiếu một yếu tố là “thông tin phản hồi”. Những nhân viên PR cần biết liệu
thông điệp có ảnh hưởng đến người nhận thông qua sự thay đổi, hay củng cố thái độ,
hoặc điều chỉnh hành vi của họ. Do đó, để khắc phục nhược điểm trên, Osgood và
Schram đã phát triển một mô hình truyền thông khác vào năm 1954.
NGƯỜI GỬI
THÔNG ĐIỆP
KÊNH TRUYỀN TẢI
NGƯỜI NHẬN

MÃ HÓA
TRUYỀN ĐẠT
KÊNH
TRUYỀN TẢI
TIẾP NHẬN
GIẢI MÃ
HIỂU
HÀNH ĐỘNG
PHẢN HỒI
NGƯỜI NHẬN

12
chỉnh thông điệp, hoặc cách truyền đạt của mình để nâng cao hiệu quả truyền thông.
Ở mô hình này, đặc tính quan trọng nhất chính là mức độ bình đẳng giữa người gửi
và người nhận, và cả hai đều tham gia vào hoạt động mã hóa, giải mã và diễn giải.
Bên cạnh đó, hiện nay cũng đã xuất hiện những mô hình truyền thông nhấn
mạnh đến bản chất tuần hoàn của quy trình này. Hai tác giả Rogers và Kincaid đã
phát triển mô hình “hội tụ”. Trong mô hình này, những bên tham gia truyền thông sẽ
cho, nhận thông tin và khám phá sự hiểu biết của mình về thông tin đó đến một
điểm mà cả hai cùng hiểu như nhau và không cần thiết phải trao đổi thêm điều gì
khác. Hình 1.3: Mô hình truyền thông hội tụ - [22,pg.120].
Trên đây là những mô hình đặc biệt thích hợp với loại hình giao tiếp cá nhân
trực tiếp, trong đó, người tham gia có thể dễ dàng kiểm tra mức độ thấu hiểu và đạt
được các phản hồi. Bên cạnh đó, các thông điệp của chuyên viên PR gửi đến các
khách hàng của mình giờ đây không còn khuôn hẹp trong phạm vi cá nhân nữa mà
hoạt động này muốn tác động đến suy nghĩ và niềm tin của cả với số lượng rất lớn
khán giả và nhiều nhóm công chúng khác nhau, vì vậy, để đáp ứng với sự phát triển

 Hình thức truyền thông Internet.
Theo Anne Gregory, tất cả các mô hình đã nêu phía trên đều mô tả quá trình
truyền thông theo những phương pháp cũ, truyền thống đã được thiết lập từ lâu.
Trong khi đó, truyền thông trên mạng Internet đã phá vỡ hầu hết mọi quy tắc vì
Internet có những đặc điểm độc đáo như sau:
- Một khi thông điệp đã được truyền ra ngoài, người gửi sẽ không kiểm soát
được nữa. Mạng Internet có một cơ chế hoạt động và truyền tải mà không một
phương tiện nào khác có được. Đó là một kênh truyền thông, nhưng có thể được sử
dụng để thay đổi, điều chỉnh, tấn công, hay hỗ trợ cho các thông điệp một cách độc
đáo. Một câu chuyện đã in trên báo sẽ không thay đổi được. Còn trên mạng Internet,
các thông điệp đó có thể bị một ai đó kiểm soát và thay đổi ngay lập tức nếu họ cảm
thấy cần phải làm như vậy. Do vậy, nó không phải là một kênh truyền tải độc lập.
- Mạng Internet vừa có tính nhất thời, vừa có tính lâu dài (một trang Web có
thể tồn tại lâu dài, cho phép truy cập và không thay đổi trong nhiều năm).
- Mạng Internet không bị ràng buộc về thời gian. Một thông điệp được gửi đến
công chúng tại một diễn đàn hay qua Email có thể được phản hồi bất cứ lúc nào.
Người đọc có thể ghé thăm trang Web bất cứ khi nào họ muốn.
- Mạng Internet cung cấp một phương tiện độc đáo trong đó các cộng đồng
hoặc nhóm cộng đồng có thể được thành lập, tái thành lập, chuyển đổi hay giải tán.
- Mạng Internet không phụ thuộc vào vị trí địa lý. Việc tiếp cận Internet hoàn
toàn dễ dàng như nhau, dù đó là sự cách biệt xa xôi hàng vạn cây số, hay các tòa nhà

15
nằm cạnh nhau. Mặt khác, nó không nhận diện các ranh giới địa lý, xã hội hay chính
trị.
- Mạng Internet gần như không phát sinh tốn kém sau khi việc thiết lập đã
được hoàn tất. Chi phí cho việc lắp đặt và sử dụng không phải là quá đắt đỏ.
- Mạng Internet cung cấp các mối quan hệ truyền thông đa dạng khác nhau như:
Email, Chat, Forum, Blog, v.v…
- Nó cho phép người sử dụng truy cập lượng thông tin thể hiện ở con số lớn

đồng có tư tưởng giống nhau.
- Việc thiếu thông tin từ các tổ chức là một vấn đề nguy hiểm tiềm tàng, bởi vì
luôn có nhiều nguồn thông tin thay thế, sẵn sàng cung cấp cho người sử dụng
Internet, và không phải tất cả trong số này đều ủng hộ tổ chức. Tình trạng không
cung cấp thông tin được xem là có âm mưu bí mật, và chính bản thân điều này cũng
có thể tạo ra một chủ đề bàn luận trong công chúng.
- Internet thay đổi những mối quan hệ quyền lực giữa các mạng lưới hữu quan,
vì những nhóm nhỏ cũng có cơ hội để trình bày trường hợp của mình như những tổ
chức lớn khác, đồng thời có thể tương tác trực tiếp với các giới hữu quan khác.
Mạng Internet là người bạn của những nhà hoạt động chính trị - xã hội.
- Những ý kiến cá nhân cũng có trọng lượng quan trọng tương đương nhau.
Các quan điểm được hình thành theo cách khác nhau, thường là những nhóm người
sử dụng trong cùng độ tuổi, hay từ những nguồn tin thay thế đáng tin cậy. Những tác
nhân hình thành dư luận truyền thống như: giới truyền thông ngoài mạng Internet và
những nhà lãnh đạo cộng đồng sẽ có ít quyền ảnh hưởng hơn.
- Truyền thông là trực tiếp, không có sự dàn xếp của người khác như nhà báo,
hay những nhóm hình thành dư luận truyền thống khác, mặc dù trong thực tế, có
một số người sử dụng Internet để thu thập tài liệu từ những nguồn Internet khác
nhằm mục đích hỗ trợ cho lập luận của mình để tạo ra tác động tốt.

17
- Internet về cơ bản là một phương tiện “yêu cầu” thông tin. Có rất ít cơ hội để
“đẩy” thông tin nếu người sử dụng thông tin không tìm kiếm. Những nhân viên PR
sẽ ngày càng nhận thấy mình hướng đến con đường cung cấp thông tin theo yêu cầu,
do đó, họ cần phải xem xét lại vai trò của mình trên cơ sở những điều này.
- Với những kiến thức về quản lý, điều hành và sự am hiểu về sự liên hệ ở mức
độ nhanh chóng, cập nhật với những đối tác truyền thông khác, các nhân viên PR có
một lợi thế sẵn có để trở thành người quản lý tri thức cho tổ chức mình. Họ không
phải là kỹ thuật viên viết bài, họ không phải là những nhà quản lý mà họ sẽ là những
người điều hành hoạt động truyền thông - những người được đánh giá và có vị trí

“Tiếng nói của nhân dân cũng là tiếng nói của Chúa”.
Như vậy, PR được áp dụng từ nhiều thế kỷ trước. Ngày nay, tại các sân bay,
chúng ta có thể nhận ra tên của các hãng hàng không thông qua màu sắc của logo,
đồng phục của các nhân viên. Những yếu tố trên gọi là “văn hóa công ty”, hay
thương hiệu đối với các tổ chức kinh doanh.
Nguồn gốc của văn hóa công ty đã được thể hiện từ rất lâu bằng những phương
tiện nhận diện nổi bật và đặc trưng. Khi người Phoenicians và Vikings đi khắp các
nước trong thời kỳ mở rộng Scandinavia, họ đã trang trí tàu thuyền với hình chim
thú để tạo đặc điểm nhận dạng riêng của mình. Cách đây hàng thế kỷ, mỗi đoàn
quân ra trận được dẫn đầu bởi vị thủ lĩnh mang chiếc khiên có biểu tượng riêng.
Tiếp đó, quân phục được sáng chế, các phe phái có thể nhận ra nhau dễ dàng, do đó,
các thủ lĩnh không cần mang khiên dẫn đầu đoàn quân mà có thể ở nhà điều khiển
như các nhà lãnh đạo chính trị ngày nay.
Ngày nay, văn hóa công ty hiện diện trên khắp các phương tiện giao thông từ
tàu thủy, xe buýt, tàu hỏa, máy bay, qua màu sắc và kiểu dáng đặc trưng của chúng,
ví dụ: Chiếc xe buýt màu đỏ, hai tầng là biểu tượng của thành phố Luân Đôn.
Ngoài việc sử dụng logo, biểu tượng nhận biết như là một hình thức quảng bá
hình ảnh của tổ chức, doanh nghiệp, thì sự ra đời và phát triển của tạp chí nội bộ

19
cũng mang tính lịch sử lâu dài. Năm 1842, trong cuốn American Notes, Charles
Dicken ghi lại bài Lowell Offering do những phụ nữ làm ở xưởng bông sợi ở New
England biên tập. Năm 1855, Singer bắt đầu bán máy bay ở Mỹ, ông đã xuất bản
cuốn Gazette để hướng dẫn khách hàng sử dụng. Cách đây 100 năm, anh em nhà
Levers, người đã chế tạo xà bông từ mỡ động vật được nhập khẩu từ Mỹ sang
Liverpool, đã xuất bản tạp chí cho nhân viên.
Năm 1809, Bộ tài chính Anh đã bổ nhiệm một phát ngôn viên báo chí. Năm
1854, Bưu điện trong báo cáo thường niên đầu tiên đã tuyên bố cần phải giải thích
những dịch vụ của mình cho công chúng. Một trong những lần sử dụng PR đầu tiên
của chính phủ Anh là vào năm 1912 khi Lloyd George, Bộ trưởng Bộ tài chính Anh,

mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế đến xã hội, văn hóa, giải trí, và ngày
càng khẳng định vị trí và tầm quan trọng của nó trong sự phát triển chung của các
hình thức truyền thông đại chúng khác.
PR mang chức năng truyền thông, giao tiếp do đó, sự phát triển của phương
tiện truyền thông gắn liền với sự phát triển của PR. Sự bùng nổ thông tin như hiện
nay giúp cho mọi người có khả năng nhận thức các vấn đề kinh tế, xã hội một cách
tỉ mỉ, sâu sắc hơn. Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và
các hình thức truyền thông cũng làm cho thông tin đôi khi không còn giữ được sự
trung thực và chính xác của nó. Công chúng sẽ khó có thể chứng thực và tin tưởng
được đâu là nguồn tin đáng tin cậy. Trong trường hợp này, PR sẽ trở thành công cụ
sàng lọc, đính chính lại thông tin cho công chúng.
1.1.3. Công chúng là gì?
Theo tác giả Robert Lawrence Heath nhận xét: “Đối với những người hoạt
động trong lĩnh vực quan hệ công chúng thì “công chúng” là một trong những khái
niệm nhập nhằng nhất trong kho từ vựng của ngành” [25,pg.23]. Theo ông, khái
niệm “công chúng” đóng vai trò làm nền tảng quan trọng trong việc phát triển

21
nghiên cứu của một số ngành khoa học khác như : tâm lý xã hội, xã hội học, truyền
thông đại chúng, marketing, v.v…
Học giả Gordon cho rằng: “Khái niệm “công chúng” được hiểu là phương tiện
để tổ chức đạt được mục đích cuối cùng của mình. Mặt khác, công chúng còn đóng
vai trò là một phần không thể thiếu trong thực tiễn của ngành, là một hiện tượng xã
hội được tạo nên theo hướng thông tin và họ cần được quan tâm đến” [25,pg.24].
Price thì lại nhận định rằng: “Khái niệm “công chúng” có nguồn gốc từ tiếng
Latinh “poplicus” và “populus”, có nghĩa là “quần chúng”. Ngoài việc đưa ra giả
thuyết về mặt ngôn ngữ học, Price còn nhìn nhận vấn đề theo hướng quy về hành vi
cụ thể: “Khái niệm công chúng ngày nay đề cập một cách phổ quát về phương tiện,
hoặc vấn đề phổ biến của những mối quan tâm và lợi ích chung, đặc biệt nổi bật là
trong những vấn đề của cơ quan và đất nước” [25,pg.24]. Chúng ta có thể dễ dàng

những yêu sách của mình, ví dụ: Các cổ đông của một doanh nghiệp, chính sách của
các chính trị gia tiếng tăm, v.v…
- Sự liên kết với tổ chức: Trên thực tế, có một số nhóm công chúng luôn có
mối liên hệ với tổ chức thông qua nhân viên phòng quan hệ giao tế, nhân viên phòng
khách hàng và qua các trang thông tin điện tử của tổ chức, v.v… Mối quan hệ trên
có thể là tốt đẹp, bình thường, hoặc đang gặp rắc rối, khủng hoảng. Do đó, các nhân
viên PR phải có khả năng nhận thức và điều chỉnh mối quan hệ trên sao cho phù hợp
với lợi ích của tổ chức và của khách hàng.
 Frank Jefkins chia công chúng thành mười nhóm cơ bản sau:
- Cộng đồng: Trên thực tế, cộng đồng của mỗi tổ chức sẽ khác nhau tùy theo
hình thức, nội dung hoạt động của nó, ví dụ như: một trạm y tế, một xí nghiệp dệt
may, bệnh viện, siêu thị, nhà trường, khách sạn, nhà hàng, v.v…
Ngay cả khi có cùng trụ sở tại một khu vực, nhưng các tổ chức khác nhau sẽ
quan tâm và giải quyết những vấn đề khác nhau của cộng đồng như: các vấn đề liên
quan đến tuyển sinh, vấn đề an ninh, vấn đề về bảo hiểm y tế, tiếng ồn, v.v…

23
- Nhân viên tiềm năng: Những người này có thể tồn tại trong những tổ chức
khác nhau, hay có thể được tuyển chọn từ các trường học, hoặc từ nước ngoài.
Những người này có thể không tìm kiếm được việc làm từ một dịch vụ, hay đáp lại
một mẩu quảng cáo tuyển người, trừ khi họ hiểu được công việc của tổ chức đó, và
xem đó là một nơi tốt để làm việc và phát triển.
- Nhân viên (nói chung): Lực lượng này có thể phân thành nhiều nhóm như:
nhóm quản lý và điều hành, nhóm làm việc trong phòng thí nghiệm, nhóm nhân viên
kho hàng và phân xưởng, nhóm nhân viên văn phòng, nhóm hậu cần, v.v… Họ có
thể cùng làm tập trung trong một tòa nhà hay phân bố rải rác. Họ có thể đại diện cho
các nhóm khác nhau về mức lương, tầng lớp xã hội, chủng tộc hay tôn giáo.
- Nhà cung cấp: Đối tượng này có thể phân thành hai nhóm sau: nhóm cung
cấp dịch vụ, các thành phần, dịch vụ đóng gói, những dịch vụ chuyên nghiệp và
nhóm cung cấp nguyên liệu thô như nước và năng lượng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status