ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o NGUYỄN LAN ANH
NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT
NAM THỜI LÝ - TRẦN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Thị Lan HÀ NỘI - 12/2008
LỜI CẢM ƠN 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới hiện có ba tôn giáo lớn đó là Phật giáo, Thiên chúa giáo và
Hồi giáo. Mặt tiêu cực của tôn giáo là làm cho con người hoàn toàn thụ động
và chịu khuất phục trước sức mạnh siêu nhiên, dẫn đến tâm lý bị động trước
hoàn cảnh và không thực sự tin tưởng vào nội lực bản thân. Nhưng bên cạnh
đó, tôn giáo cũng có nhân tố tích cực đó là tinh thần nhân đạo và sự hướng
thiện, trong đó Phật giáo thể hiện rõ hơn cả những nhân tố tích cực ấy.
Phật giáo xuất hiện trong một xã hội tồn tại nhiều bất công và phân chia
đẳng cấp rất nghiệt ngã, vì vậy mà triết thuyết của nó thể hiện tinh thần bình
đẳng, từ bi, hỷ xả rõ nét. Cũng bởi vậy mà, giáo lý của Phật giáo ngày càng
gần gũi hơn với mọi người, không phân biệt địa vị, giai – tầng khác nhau
trong xã hội, mà chỉ cần có thiện tâm. Trong các tôn giáo du nhập vào Việt
Nam như Đạo giáo, Nho giáo, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành, Hồi giáo… thì
Phật giáo là tôn giáo bám rễ bền chắc hơn cả. Phật giáo đã góp phần xây dựng
nên truyền thống yêu nước, đoàn kết gắn bó của dân tộc Việt. Phật giáo có vai
trò quan trọng trong việc hình thành tâm lý, lối sống, đạo đức của con người
nhiều chuyển biến cả tích cực, cả tiêu cực trong đời sống xã hội và đến số
phận của từng người. Bên cạnh những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế, chính
trị, xã hội như: chúng ta đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bậc, tình
hình chính trị ngày càng ổn định; địa vị và uy tín của nước ta trên trường quốc
tế ngày càng được nâng cao; Việt Nam cũng là điểm đến của nhiều quốc gia
trong khu vực và trên thế giới về hợp tác kinh tế và du lịch. Nhưng mặt khác,
chúng ta đang gặp phải những khó khăn: Việt Nam chưa thoát khỏi danh sách
những nước nghèo trên thế giới, người dân chưa thực sự được hưởng cuộc
sống sung túc, ấm no, hạnh phúc; tâm lý người dân chưa hoàn toàn thích nghi
3
với sự thay đổi của cơ chế mới; tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng Chính vì
thế, con người Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực về tinh thần.
Kinh tế phát triển nhanh chóng, đời sống vật chất và tinh thần của con người
thay đổi, xuất hiện nhiều cám dỗ dẫn đến sự biến thái về đạo đức. Trước tình
hình đó, Phật giáo với tư cách tôn giáo dân tộc của Việt Nam mà đỉnh cao là
Phật giáo Lý – Trần đã có những đóng góp vĩ đại cho dân tộc Đại Việt trong
những thời điểm đầy biến cố về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá…vậy,
nhân sinh quan Phật giáo có vai trò, ảnh hưởng và tác dụng như thế nào trong
thời kỳ đó, và ngày nay chúng ta phải tiếp tục phát huy cũng như khắc phục
những điểm gì của nhân sinh quan Phật giáo trong điều kiện, hoàn cảnh hiện
nay.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đó, với mong muốn tìm hiểu về Phật
giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng, cùng với ảnh hưởng
của Phật giáo trong thời Lý – Trần, chúng tôi đã chọn đề tài: “Nhân sinh
quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó tới đời sống xã hội thời Lý - Trần”
cho luận văn thạc sĩ triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói
riêng, trong những năm gần đây, đã trở thành một đề tài thu hút nhiều nhà
được nhắc đến trong luận án, nhưng tác giả chỉ dừng ở mức khái quát.
Luận án Tiến sĩ Triết học của tác giả Nguyễn Thị Toan: Quan niệm về
giải thoát trong Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người Việt
Nam hiện nay. Đề tài đã phân tích khá sâu sắc về quan niệm về giải thoát. Tác
giả đã tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của quan niệm về giải thoát
của Phật giáo nguyên thuỷ, Phật giáo Đại thừa, Phật giáo Tiểu thừa qua khảo
sát một số bộ kinh của Phật giáo. Tiếp theo, tác giả trình bày về quan niệm
5
giải thoát trong Phật giáo Việt nam, trên cơ sở đó tác giả phân tích sự ảnh
hưởng của quan niệm giải thoát đối với đời sống người Việt trong lịch sử và
đời sống người Việt Nam hiện nay. Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu
về một nội dung quan trọng của nhân sinh quan Phật giáo: vấn đề giải thoát.
Công trình nghiên cứu này đã mang lại một cái nhìn toàn diện về quá trình
hình thành và phát triển của quan niệm giải thoát trong Phật giáo nói chung và
Phật giáo Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên cũng giống như đề tài của tác giả
Đặng Thị Lan, đề tài cũng chỉ tập trung trình bày một nội dung của nhân sinh
quan Phật giáo, và dù có giành một vài trang đi vào phân tích ảnh hưởng của
tư tưởng giải thoát dưới thời Lý – Trần nhưng chỉ giới hạn ở nội dung về ảnh
hưởng của triết lý giải thoát ở lĩnh vực chính trị.
Đề tài về Phật giáo thời Lý – Trần cũng được nghiên cứu khá nhiều
như Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Văn Sinh: Về vai trò Phật giáo ở Việt
Nam (qua triều đại Lý). Trong đề tài của tác giả Phạm Văn Sinh, tác giả có
cách tiếp cận riêng khi xem xét tôn giáo với tư cách là một hiện tượng xã hội -
một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội. Cách tiếp cận như vậy, có
ưu điểm là không chỉ nhận thấy những hạn chế, sai lầm của tôn giáo nói
chung, Phật giáo nói riêng mà còn có khả năng tìm ra những yếu tố hợp lý và
tích cực của tôn giáo trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, tác giả Phạm Văn Sinh
chỉ tập trung vào đặc trưng của Phật giáo Việt Nam thời Lý qua việc phân biệt
rõ ràng vai trò của phái Thiền tông so với phái Tịnh độ tông và phái Mật tông.
Qua việc tham khảo các đề tài trên tác giả nhận thấy, nhân sinh quan
Phật giáo Lý – Trần mặc dù là một nội dung khá hấp dẫn và được đề cập đến
ở hầu hết các đề tài nghiên cứu về Phật giáo, tuy nhiên nó lại chỉ được đề cập
đến ở một khía cạnh nhất định (quan niệm về đạo đức, giải thoát) và ảnh
hưởng của nhân sinh quan đến các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng chưa có
công trình nghiên cứu nghiên cứu chuyên biệt. Tuy nhiên, qua việc khảo sát,
7
nghiên cứu này, tác giả luận văn cũng đã tiếp cận được nhiều cách đánh giá,
phân tích khác nhau về Phật giáo nói chung, nhân sinh quan Phật giáo thời Lý
- Trần nói riêng và kế thừa được cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kết
cấu trình bày có tính khoa học chặt chẽ từ các nghiên cứu. Trên cơ sở các
nghiên cứu đó, tác giả nhận thấy, nhân sinh quan Phật giáo đã góp phần lớn
tạo lên thần thái văn hoá, bản sắc dân tộc Việt Nam. Chính tính nhân bản của
Phật giáo đã góp phần làm cho giáo lý Phật giáo được truyền bá sâu rộng vào
trong các tầng lớp dân chúng, đặc biệt trong thời Lý – Trần, một thời đại anh
hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc lại chính là thời kỳ mà
Phật giáo phát triển mạnh nhất ở Việt Nam.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các đề tài trước đó và bằng sự nghiên
cứu của mình, tác giả đi vào tìm hiểu về sự ảnh hưởng của nhân sinh quan
Phật giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam thời Lý - Trần và đưa ra một số
kết luận, đánh giá về sự ảnh hưởng đó đối với con người Việt Nam hiện đại,
dù chỉ mang tính khái quát.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến một số lĩnh vực
chủ yếu của đời sống xã hội Việt Nam thời kỳ Lý-Trần.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích khái quát về mặt triết học những nội dung chủ yếu của
nhân sinh quan Phật giáo.
9
NỘI DUNG
Chương 1
NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO, SỰ DU NHẬP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO TRONG THỜI LÝ – TRẦN
1.1. Nhân sinh quan Phật giáo
1.1.1. Khái lược về sự ra đời của nhân sinh quan Phật giáo
Phật giáo hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ VI trước công
nguyên. Người sáng lập là Tất Đạt Đa (Siddharatha), họ là Cồ Đàm
(Gautama) nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), là con vua Tĩnh Phạn
(Suddhodana) trị vì bộ tộc Thích Ca ở miền Bắc Ấn Độ. Từ nhỏ, bản tính của
Đức Thích ca rất nhân từ, bác ái. Dù được sống trong cảnh sung túc và hạnh
Đẳng cấp nô lệ dù không phải là lực lượng sản xuất chính trong xã hội, nhưng
họ làm đầy tớ cho các gia đình giàu có, thuộc đẳng cấp trên và chỉ được coi là
một tài sản, họ bị lệ thuộc hoàn toàn vào người khác, có thể bị đuổi, bị đánh
đập hoặc bị giết bất cứ lúc nào… Sự bất bình đẳng giữa các giai cấp trong xã
hội là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao các tư tưởng tôn giáo –
11
triết học ấn Độ cổ đại bàn nhiều về nhân sinh quan: quan niệm về con người,
đời người; về sự sinh thành, tồn tại, phát triển của con người; về lẽ sống -
chết; về quan niệm sống và mục đích sống của mỗi người.
Giống như hầu hết các trường phái triết học lúc ấy, mục đích chính của
nhân sinh quan Phật giáo là tìm ra con đường giải thoát, lên cõi “Niết bàn”.
Giải thoát là phạm trù trung tâm, là hạt nhân của các trường phái triết học Ấn
Độ cổ đại. Tư tưởng giải thoát có mầm mống từ kinh Vêda. Tuy nhiên, thời
kỳ đầu tư tưởng giải thoát chưa thật rõ rệt trong Vêda bởi con người còn đang
lệ thuộc vào tự nhiên, các khúc ca trong kinh Veda đã gữi gắm ước vọng của
người dân vào sự giúp đỡ của thần linh bằng cầu xin, tế lễ. Cuối thời kỳ Veda,
tư tưởng giải thoát hoàn thiện hơn trong kinh Upanisad (bộ phận cuối cùng
của kinh Vêda), Upanisad cho rằng linh hồn vũ trụ tối cao (Brahman), là thực
thể có trước, tồn tại vĩnh viễn và từ đó mà sinh ra vạn vật, đồng nhất với linh
hồn cá nhân (Atman) tồn tại trong mỗi con người, nhưng con người không
nhận thấy được. Upanisad còn cho rằng, linh hồn cá nhân tồn tại trong vỏ bọc
thể xác, mà thể xác lại chứa đựng những ham muốn, dục vọng, nên đã gây
đau khổ cho linh hồn cá nhân. Linh hồn con người bị giam hãm vào các kiếp
sống khác nhau, gánh chịu hậu quả của kiếp sống trước, bị ràng buộc bởi thế
giới ảo ảnh nên không trở về với linh hồn vũ trụ. Giải thoát chính là giúp linh
hồn cá nhân vượt qua khỏi thế giới ảo ảnh, thoát khỏi vòng nghiệp báo luân
hồi để nhập vào bản thể tuyệt đối của linh hồn vũ trụ. Tư tưởng giải thoát
trong Upanisad mới chỉ là sự vươn lên của linh hồn cá nhân hợp nhất với linh
hồn vũ trụ tối cao. Tư tưởng giải thoát tiếp tục được phát triển trong các
Tập đế (nhân đế): chân lý về nguyên nhân nỗi khổ; 3. Diệt đế: chân lý về sự
diệt trừ nỗi khổ; 4: Đạo đế: chân lý về con đường diệt trừ nỗi khổ. Sau khi
Phật tịch diệt, những nội dung này được tập hợp trong cuộc kết tập lần thứ
nhất, ghi lại trong bốn bộ chính: Trường A hàm, Trung A hàm, Tạp A hàm và
Tăng nhất A hàm.
13
Khoảng 100 năm sau, trong cuộc kết tập lần thứ hai, một số người đòi
hỏi phải sửa chữa, bổ sung, biên soạn lại kinh điển Phật giáo. Mâu thuẫn này
đã dẫn tới sự phân hoá giáo đoàn Phật giáo thành hai phái: Thượng tọa bộ
(Sthaviravada) và Đại chúng bộ (Mahasanghika). Các bộ phái Phật giáo sau
này được gọi là Phật giáo Tiểu thừa (Hinayana). Phật giáo Tiểu thừa (con
đường nhỏ): chủ trương bảo tồn giáo lý và phương pháp tu đạo mà Đức Thích
ca lúc đương thời thường thuyết giảng, chủ trương giác ngộ cho bản thân
mình. Phật giáo tiểu thừa chấp nhận về mặt lý thuyết có nhiều vị Phật, nhưng
chỉ thờ riêng một Đức Thích ca.
Đầu công nguyên, Phật giáo Đại thừa (Mahayana) ra đời, mầm mống là
từ Đại chúng bộ. Phật giáo Đại thừa (con đường lớn): chủ trương tự giác, tự
tha, không cố chấp vào kinh điển, giác ngộ cho mình đồng thời giác ngộ cho
người khác. Phật giáo Đại thừa không những thờ Đức Thích ca mà còn thờ cả
các Đức Phật khác, Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai: Đức A-di-đà, Bồ
tát Di Lặc và các vị Bồ tát khác.
Trong lịch sử, Phật giáo tuy ra đời ở Ấn Độ nhưng về sau này nó không
phải là tôn giáo chính thống. Không những thế, Phật giáo còn bị áp chế ở Ấn
Độ ngay từ cổ xưa. Song chính điều này đã làm cho Phật giáo truyền bá rộng
rãi ra các nước xung quanh. Sự truyền bá của Phật giáo theo hai hướng, một
xuống phía Nam và một lên phía Bắc. Hướng Bắc: truyền từ Ấn Độ tới vùng
Cadacxtan rồi truyền sang vùng Tân Cương và Tây Tạng của Trung Quốc.
Phật giáo từ đó lại truyền sang Mông Cổ và vào nội địa Trung Quốc, rồi sang
Triều Tiên và Nhật Bản. Hướng Bắc truyền cũng nhập vào Việt Nam từ
(khoảng trống trong cơ thể). Danh chính là ý thức, tinh thần của con người,
yếu tố này là những dấu hiệu cơ bản để phân biệt giữa con người với các động
15
vật khác. Mỗi cá thể người liên hệ, nhận biết thế giới bên ngoài bởi sự kết hợp
giữa lục căn và lục cảnh. Lục căn gồm: Nhãn (mắt), Nhĩ (tai), Tỵ (mũi), Thiệt
(lưỡi), Xúc (da), Ý thức. Lục cảnh gồm: màu sắc, âm thanh, hương, vị, các
cảm giác, các pháp (danh vọng, địa vị).
Bản chất con người theo Phật giáo, là một tích hợp của nhân duyên do
tinh cha, huyết mẹ cộng với dòng nghiệp thức. Nếu có đầy đủ các nhân duyên
mà thiếu vắng dòng nghiệp thức thì con người không thể hình thành như một
sinh vật biết tư duy, có tri giác, biết sáng tạo và có trái tim yêu thương…
Nghiệp chính là tư duy và hành động của chính mỗi con người. Con người
trên trần thế, đã tạo nghiệp (nhân) thì phải gánh chịu nghiệp (quả) đó.
Theo Phật giáo, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới nằm trong dòng
chảy không ngừng nghỉ. Thế gian là vô thường nên cuộc đời vô ngã. Phật
giáo phủ nhận linh hồn cá nhân (Atman) và thuyết linh hồn vĩnh cửu của
Upanisad khi cho rằng không có một cái ngã thường hằng, ổn định, mọi cái
trên thế gian chỉ là phù du, ảo ảnh, nằm trong sự biến đổi không cùng của đời
sống. Trong khi, con người luôn khao khát một sự thường hằng, cố tìm mọi
cách thoả mãn những dục vọng tầm thường. Đau khổ nảy sinh chính từ mâu
thuẫn của lòng khao khát về cái vô hạn, trường cửu trong khi dời người lại
hữu hạn.
Nội dung chủ yếu và là cái cốt lõi trong nhân sinh quan Phật giáo nằm
trong Tứ diệu đế – Bốn chân lý kỳ diệu.
Một, Khổ đế - Dukkha Satya - lý luận về cái khổ, về những nỗi khổ
của con người, của đời người.
Trong nội dung này, Phật giáo khẳng định rằng, cuộc đời con người là
bể khổ, tồn tại đã là khổ. Phật giáo cho rằng, khổ đau là do con người luôn
tham ái. Phật giáo có nhiều cách phân loại khổ: nhị khổ, tam khổ, tứ khổ, ngũ
17
tưởng (trí), hành và thức. Các yếu tố ấy là vô thường, sự kết hợp của cái vô
thường lại càng vô thường. Bởi vậy, ngũ uẩn là khổ, con người, cuộc đời con
người là khổ. Sự hình thành con người suy cho cùng cũng chỉ là giả hợp của
ngũ uẩn. Nội dung của khổ đế cũng không hoàn toàn bi quan, yếm thế, Dukkha
cũng hàm chứa cả đau khổ và hạnh phúc. Trong kinh Tăng nhất A hàm đã phân
chia hai loại hạnh phúc: hạnh phúc của người bình thường và hạnh phúc của cư sĩ,
hạnh phúc của thân và tâm, hạnh phúc đời thường và hạnh phúc giải thoát. Tuy
nhiên, nếu con người cứ bám víu lấy vào những khoái lạc, nhục dục giả tạm thì
con người sẽ khổ. Con người chỉ tìm thấy hạnh phúc ở sự giải thoát, khi đó con
người sẽ đạt được hạnh phúc thực sự, được tự do vĩnh cửu nơi nội tâm chứ không
phải ở tiền bạc, của cải hay danh vọng.
Hai, Tập đế - Sammudaya Satya - sự phát sinh hoặc nguồn gốc của khổ.
Cuộc đời là khổ, nguyên nhân sâu xa của khổ là gì? Nguyên nhân của
khổ có nhiều, trước hết là do tồn tại dục vọng. Dục vọng không phải là
nguyên nhân đầu tiên và cũng không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến
Dukkha. Nó chỉ là nguyên nhân trực tiếp dễ thấy, là nguyên nhân phổ biến
nhất. Nguyên nhân trực tiếp là do tồn tại dục vọng, nhưng nguyên nhân cơ
bản, then chốt nhất là vô minh - ý tưởng sai lạc về sự tồn tại của một cái ngã
làm trung tâm, sự vật trong thế giới chỉ là ảo giả nhưng cứ tưởng là thật rồi
triền miên trong cảnh luân hồi, từ đó mà nảy sinh dục vọng. Phật giáo cụ thể
hoá nỗi khổ mà chúng sinh gặp phải trong thập nhị nhân duyên - mười hai
nhân duyên, nó mô tả cuộc sống qua những thời kỳ, kế tiếp nhau của cuộc
đời. 1. Vô minh: tức là không sáng suốt, không nhận thức được thế giới, sự
vật, hiện tượng đều là giả, là ảo mà cứ cho đó là thực; 2. Duyên hành: hành là
hoạt động của ý thức, sự dao động của tâm, của khuynh hướng, và đã có
manh nha của nghiệp; 3. Duyên thức: tâm thức từ chỗ trong sáng, cân bằng
trở nên ô nhiễm, mất cân bằng. Cái tâm thức đó tuỳ theo nghiệp mà tìm đến
19
không hoàn toàn giống nhau, mỗi con người có một cảnh sướng khổ riêng. Bởi
theo triết lý nhân quả tương tục, mọi hành động của mỗi người tạo thành kết
quả về sau. Những kết quả do hành động của con người gây ra đó gọi là nghiệp
báo. Nếu tạo nghiệp thiện, con người sẽ được hưởng hạnh phúc và ngược lại.
Đã mang cái nghiệp vào thân, thì chỉ có ở chủ quan lòng ta, tâm ta quyết định
cuộc đời ta.
Ba là, Diệt đế - Nirodha Satya - Lý luận về giải thoát
Phật quan niệm sống trên đời là khổ, “nước mắt chúng sinh nhiều hơn
nước biển”, nhưng Phật cũng khẳng định con người có thể giải thoát khỏi đau
khổ, khỏi tính liên tục của Dukkha. Trong mười hai nhân duyên của Phật
giáo, cái này là kết quả của cái trước nhưng là nguyên nhân của cái sau, có cái
này nên có cái kia, cái này hết nên cái kia cũng hết. Từ đó, Phật giáo chỉ ra
con đường để giải thoát khỏi đau khổ, khỏi tính liên tục của Dukkha bằng
cách chặt đứt một mắt xích trong chuỗi xích mười hai nhân duyên, lấy đó làm
đầu mối để gỡ các nhân duyên khác. Vậy, khi tìm ra được nguyên nhân của
đau khổ, người ta sẽ tìm ra con đường để diệt trừ nó. Mắt xích quan trọng
nhất để loại trừ Dukkha là diệt trừ vô minh. Diệt trừ vô minh sẽ làm dịu lắng
tất cả những dục vọng, những ham muốn của con người, theo đó, các nguyên
nhân dẫn đến Dukkha cũng sẽ bị trừ khử. Như vậy, nhân loại có thể thoát khổ,
tiến đến giải thoát, đạt được sự an lạc, thanh tịnh, tự do tuyệt đối, tức giác
ngộ, chứng được Niết bàn – trạng thái hoàn toàn sáng suốt, yên tĩnh, chấm dứt
sinh tử, luân hồi. Sau khi khẳng định con người có thể thoát khổ, lên cõi Niết
bàn, Phật giáo đã đưa ra cách thức để đạt được điều này, cách thức đó nằm
trong tứ thứ tư, đạo đế.
Bốn, Đạo đế - Marga Satya - Lý luận về con đường dẫn đến sự chấm dứt của
khổ
Mục đích cuối cùng của các trường phái tôn giáo - triết học Ấn Độ cổ
đại là giải thoát, nhưng ở mỗi trường phái con đường để đạt đến giải thoát lại
21
thực tướng của bản thân mình; 2. Chính tư duy – tư duy đúng đắn, không
tham, sân, si, nhằm đạt tới chân lý và giác ngộ; 3. Chính ngữ - lời nói chân
chính, không nói những điều giả dối, ác độc, xấu xa, vu khống, không nói lời
thêu dệt, nhục mạ người khác; 4. Chính nghiệp – hành động đúng đắn, không
làm việc gian ác; 5. Chính mệnh – sống nhân nghĩa, trung thực, chính trực,
không tham lam, vụ lợi; 6. Chính tinh tiến – nỗ lực, sáng suốt, vươn lên một
cách đúng đắn; 7. Chính niệm – luôn tâm niệm về đạo lý chân chính, đến điều
tốt, không nghĩ về những điều xấu xa; 8. Chính định – kiên định, tập trung tư
tưởng vào chân lý, đạo lý chân chính, đạt tới giác ngộ.
Trong suốt bốn mươi lăm năm giảng đạo của mình, dù thời điểm khác
nhau, đối tượng nghe khác nhau và bằng nhiều hình thức khác nhau những
những thực chất những lời giảng của đức Phật cũng đều nằm trong nội dung
của bát chính đạo.
1.1.2.2. Quan niệm về giải thoát
Dù cuộc đời chứa đựng đau khổ, nhưng con người không được ủ ê, sầu
não mà cần tìm cách thoát khổ. Phật giáo chủ trương cứu khổ, vấn đề “diệt
khổ” cho con người là vấn đề trọng tâm, cơ bản của đạo Phật. Giải thoát khỏi
cái khổ, tức dẫn dắt con người đến cái vui chân thật, thanh tịnh, cái vui mà về
tính chất khác hẳn cái lạc thú, hư giả của thế gian.
Cũng giống như các tôn giáo – triết học thời kỳ đó Phật giáo cũng đưa
ra tư tưởng về giải thoát. Tuy nhiên, người sáng lập ra đạo Phật đã đưa ra một
tuyên ngôn độc đáo “Nước ngoài biển khơi chỉ có một vị mặn, đạo của ta
cũng chỉ có một vị là vị giải thoát”. Tư tưởng giải thoát của Phật giáo có mặt
tích cực, bởi nó hướng tới sự bình đẳng. Đức Phật từng nói: Ta là Phật đã
thành và chúng sinh là Phật sẽ thành. Nghĩa là triết lý của đạo Phật không
phân biệt sang hèn, kẻ trí người ngu, tất cả chúng sinh đều có thể tu tập và có
khả năng tự giải thoát khỏi mọi khổ đau, sầu não. Phật giáo không đặt niềm
22
xuất phát từ thiện tâm, bởi họ phải chịu trách nhiệm trước hành vi của mình.
Nếu tạo nghiệp thiện, con người sẽ được hưởng hạnh phúc về sau và ngược
lại.
Phật giáo cho rằng, thế giới nằm trong dòng trôi chảy không ngừng nên
thế giới là vô thường, vô ngã. Song do vô minh, nên con người không hiểu
điều đó. Con người mắc vào một cái ngã để rồi suốt cuộc đời theo đuổi cái
dục vọng không có thực mà sinh ra đau khổ. Vì vậy, con người cần phải thoát
ra khỏi những u mê, lầm lẫn đó bằng cách tu luyện tâm linh, trí tuệ và đạo
đức. Theo đạo Phật, giải thoát là vượt lên khỏi sự ràng buộc của thế giới hiện
tượng, dập tắt dục vọng, xoá bỏ vô minh, chấm dứt sinh tử, luân hồi tức là đạt
được trạng thái tối cao là nhập Niết Bàn. Bát chính đạo chính là phương thức
thực hành để diệt trừ khổ đau, giải thoát con người khỏi vô minh, ái dục. Niết
Bàn - một trạng thái tâm linh thanh tịnh, an lạc, bất sinh bất diệt, tự do tự tại.
Đây là điểm đích cuối cùng, và chỉ những ai tu thành chính quả mới có được.
Như vậy, để đạt tới cõi niết bàn, bên cạnh việc tu luyện về trí tuệ con
người cũng cần có đạo đức. Ngay cả Tuệ trong Phật giáo cũng hàm chứa những
yếu tố đạo đức (tư tưởng đúng đắn là tư tưởng không tham, sân, si) và trong việc
tu luyện để đạt tới giải thoát, Phật giáo rất coi trọng việc tu luyện về đạo đức.
1.1.2.3. Quan niệm về đạo đức
Phật giáo chỉ cho con người nhận biết nguyên nhân của nỗi khổ và đưa ra
con đường giải thoát khỏi đau khổ, xuất phát từ tinh thần đại từ, đại bi đó, những
giáo thuyết mà Phật giáo đưa ra đã có tác dụng tích cực đến việc tu dưỡng đạo
đức. Chình vì vậy, có thể nói đạo Phật là một tôn giáo từ bi, một hệ thống lý luận
có tính nhân văn, nhân bản cao cả.
Trọng tâm của đạo đức Phật giáo nằm trong Đạo đế – con đường đúng
đắn để mỗi người tự giác đạt tới giải thoát. Đạo đế (đế thứ tư trong Tứ diệu
đế), chính là bát chính đạo, gồm tám con đường, nếu làm theo nó, chúng sinh