Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên với sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG ANH

QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ
BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TỰ NHIÊN VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO … 98

3

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang bước vào những năm đầu của Thế kỷ 21, với niềm
khát vọng sống trong hoà bình, thịnh vượng, hợp tác và phát triển. Trong
xu hướng quốc tế hoá và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ
đang đưa loài người tới những bước tiến to lớn của sự phát triển xã hội.
Song tất cả những gì đã được loài người xem là thành tựu lại đang có
những ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến môi trường tự nhiên, đe doạ tới
sự sống của toàn nhân loại. Hiện tượng trái đất đang nóng lên không bình
thường làm cho thiên tai tăng đột biến và mực nước biển dâng cao; lỗ thủng
tầng ôzôn ngày một lớn làm giảm khả năng bảo vệ sự sống của khí quyển;
ô nhiễm môi trường gia tăng làm cho chất lượng cuộc sống bị xuống cấp;
đa dạng sinh học suy giảm làm cho sự sống ngày càng bị đơn điệu, sự thay
đổi khí hậu bất thường, suy thoái đất canh tác, nạn phá rừng, đang thực
sự là những vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu. Đặc biệt, trong những năm
đầu của thế kỷ 21 này loài người đang chứng kiến ngày một rõ ràng hơn
những hậu quả nghiêm trọng của việc ô nhiễm môi trường sống. Thảm hoạ
sóng thần, bão biển, lũ lụt, động đất, cháy rừng, lũ quét,… xảy ra khắp nơi
trên trái đất đã gây nên những “phản ứng dây chuyền” trong nhịp sống của
nhân loại.
Như chúng ta đã biết, tài nguyên và môi trường có vị trí đặc biệt
quan trọng đối với con người cũng như sự phát triển của xã hội nói chung.
Hằng ngày con người sử dụng không khí, nước, thực phẩm để tồn tại và sử
dụng các nguồn tài nguyên và môi trường để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
mình. Mỗi sự biến đổi của tự nhiên, của môi trường đều tác động trực tiếp

một bức tranh rất đáng lo ngại về tình trạng suy thoái tài nguyên và môi
trường trên phạm vi cả nước. Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong xu
thế bền vững, tiến bộ xã hội phải luôn gắn liền với bảo vệ môi trường. Điều

5
đó đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại một cách đúng đắn và sâu sắc tư
tưởng về mối quan hệ biện chứng ba chiều tự nhiên - con người - xã hội.
Để góp phần lý giải thêm về tư tưởng này của triết học Mácxít cũng như
mong muốn đề ra được những phương sách thích hợp nhằm bảo vệ môi
trường sống, chúng tôi chọn đề tài “QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG
KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TỰ NHIÊN VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” làm đề tài luận văn của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cách đây hơn 150 năm C.Mác đã cảnh báo chúng ta rất rõ ràng về
tác hại của sự tàn phá tài nguyên thiên nhiên một cách thái quá. Điều đó giờ
đây không còn là vấn đề bàn cãi nữa vì nó đã quá rõ ràng. Hệ thống tự
nhiên - con người - xã hội đang bị phá vỡ và kết quả là hàng loạt các đảo
lộn trong quá trình tự nhiên đang xảy ra, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc
sống và sinh hoạt của xã hội loài người.
Mối quan hệ giữa tự nhiên và con người, ảnh hưởng của môi trường
tự nhiên đến sự phát triển của xã hội được đề cập đến rất nhiều trong các
tác phẩm của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác, đặc biệt là tác phẩm
“Biện chứng của tự nhiên” do Ph.Ăngghen viết chủ yếu từ 1873 đến 1883.
Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh rằng: Ảnh hưởng của hệ thống các
mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa xã hội và môi trường sống
được biểu hiện thông qua sự phát triển của lực lượng sản xuất, trong mỗi
phương thức sản xuất nhất định. Phát triển là một nhu cầu tất yếu trong quá
trình sinh tồn của loài người, tuy nhiên phát triển nếu không gắn với bảo vệ
sự cân bằng sinh thái thì loài người sẽ không tránh khỏi những nguy cơ đe

động vật hoang dã; Điều 610 về bảo vệ phòng cháy chữa cháy; Điều 635 về
giữ gìn vệ sinh môi trường. Từ sau thời kỳ đổi mới, mối quan hệ giữa tự
nhiên và con người, những ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến sự phát
triển của xã hội đã được đề cập đến nhiều trong các ấn phẩm, sách báo và
tạp chí. Các công trình nghiên cứu này đã nói lên tính cấp bách cũng như

7
sự cần thiết phải bảo vệ môi trường và việc khai thác tài nguyên thiên nhiên
một cách hợp lý. Các tác giả, Thao Lâm: “Định hướng xây dựng một nền
văn hoá môi trường” (1997); Trần Kim Thanh và Lê Quý Xăng: “Nước
biển dâng lên trong thế kỷ XXI, một thiên tai khủng khiếp có dự báo trước”
(1997); Phạm Song: “Thực hiện vệ sinh môi trường để nâng cao chất lượng
cuộc sống và phát triển bền vững” (1997); Phạm Thị Ngọc Trầm: “Những
tư tưởng cơ bản của Mác - Ăngghen - Lênin về mối quan hệ giữa con
người, xã hội và tự nhiên” (1992); Phạm Thành Dung: “Hãy cứu lấy trái
đất” (1997);… đã vạch ra cho chúng ta thấy hiện trạng nguy kịch của môi
trường tự nhiên, nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường và tương lai
của hành tinh chúng ta. Gần đây, các tác giả Lê Quý An, Lê Thạc Cán,
Phạm Thị Ngọc Trầm, Nguyễn Trọng Chuẩn, Võ Quý, Chu Thái Thành,
Trần Đình Châu, Lê Huy Bá, Phạm Khôi Nguyên đã có nhiều công trình
bàn tới các vấn đề: Môi trường sống và khai thác tài nguyên thiên nhiên;
Một số vấn đề sinh thái nhân văn; Ảnh hưởng của các công trình xây dựng
tới vùng sinh thái xung quanh các phương án bảo vệ môi trường; Bảo vệ
rừng; Quan hệ giữa môi trường và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế và
những điều kiện cần thiết để có một môi trường phát triển bền vững
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về Môi trường và Phát
triển như đã nêu trên, song dưới góc độ triết học thì vấn đề này chưa thực
sự nhiều lắm. Đặc biệt là vấn đề mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững ở một mức độ nào đó đã chưa
thưc sự được quan tâm đầy đủ. Trong tiến trình hội nhập quốc tế và những

trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là cơ sở phương
pháp luận quan trọng cho việc giải quyết những nhiệm vụ của luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng trong luận văn là kết hợp
giữa lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho xã hội.

9
- Phạm vi nghiên cứu là khảo sát mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và bảo vệ môi trường tự nhiên với sự phát triển bền vững ở Việt Nam
hiện nay.
6. Đóng góp của luận văn
- Lý giải mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trên cơ sở triết học
Mác xít.
- Chỉ ra một số thực trạng của môi trường ở Việt Nam hiện nay;
nguyên nhân sâu xa của những thực trạng đó. Đề xuất một số giải pháp để
tạo điều kiện tốt hơn cho sự phát triển bền vững ở Việt Nam, đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Góp phần làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và bảo vệ môi trường với sự phát triển bền vững.
- Về thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
việc tìm hiểu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
với sự phát triển bền vững; luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho
việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.
8. Cấu trúc của luận văn
- Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 2 chương với 6
tiết và danh mục tài liệu tham khảo.


có rất nhiều lý thuyết về sự tăng trưởng kinh tế, với mục đích là xác định
những yếu tố chủ yếu quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế và vai trò
của mỗi yếu tố đó. Từ Davit Ricardo, Alfred Marshall, cho đến Karl Marx
đều cho rằng sự tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi các yếu tố: nguồn
nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ.
Ngay từ thế kỷ XVIII, nhà kinh tế học cổ điển Anh, Adam Smith đã
nhận ra rằng: yếu tố để sản xuất ra của cải vật chất là lao động và tài
nguyên. Lao động là yếu tố đầu vào của sản xuất. Trước đây dân số loài
người còn ít, tài nguyên thiên nhiên chưa thực sự khan hiếm và sản xuất

11
nông nghiệp đang là chủ yếu thì yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế
chính là lao động. Ngày nay, mặc dù trình độ phát triển đã khác rất nhiều so
với thế kỷ XVIII nhưng nguồn nhân lực vẫn là một trong những yếu tố
quan trọng quyết định sự tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên nguồn nhân lực
trong điều kiện ngày nay không chỉ nói đến số lượng mà còn nói đến cả
chất lượng. Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ phụ thuộc vào trình độ
giáo dục, sức khoẻ, mà còn phụ thuộc vào số lượng và chất lượng những
công cụ, trang thiết bị sản xuất cho người lao động. Như vậy, quy mô
nguồn nhân lực, độ dài thời gian lao động và chất lượng nguồn nhân lực là
một trong những yếu tố quyết định sản lượng và năng suất lao động.
Đất đai, khoáng sản, nước, khí hậu cũng được xem là một trong
những nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế. Do đó những quốc gia
giàu có tài nguyên thiên nhiên sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc đẩy
mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, chiến
lược khai thác triệt để tài nguyên thiên nhiên nhằm mục đích phục vụ việc
tăng trưởng và phát triển kinh tế không còn được xem là giải pháp tối ưu
nữa. Trái lại, dùng một phần vốn và lao động vào việc tập trung nghiên
cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào qúa trình sản xuất để tạo ra những
loại vật liệu mới thay thế cho những loại tài nguyên khan hiếm, không tái

xuất rõ ràng là một lợi thế của các quốc gia, các nước kém phát triển. Trong
thế kỷ XXI, yếu tố quyết định sự thành công về phát triển kinh tế là vấn đề
công nghệ, đối với các nước đang phát triển đòi hỏi phải đổi mới công
nghệ, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vấn đề học hỏi,
nghiên cứu và lựa chọn công nghệ thích hợp có ý nghĩa quyết định đến sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Cũng cần phải thấy rằng yếu tố công nghệ
còn bao gồm cả những tiến bộ về khoa học kỹ thuật cũng như về vấn đề
quản lý. Vì vậy, vai trò lãnh đạo và điều hành của chính phủ trong nền kinh
tế quốc dân là hết sức quan trọng.
Ngoài những nhân tố trên còn có một số yếu tố ảnh ưởng đến việc
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế như: đặc điểm truyền thống
dân tộc, sự ổn định về chính trị, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện,
hệ thống ngân hàng và tài chính hoạt động một cách có hiệu quả.

13
Những yếu tố trên đây được coi là nguồn lực chủ yếu quyết định
mức độ tăng trưởng của nền kinh tế, nó được xem là những yếu tố sản xuất
đầu vào của quá trình sản xuất. Khi gia tăng các đầu vào thì sản lượng đầu
ra chủ yếu sẽ tăng lên. Mức tăng trưởng nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào
mức tăng các đầu vào. Vì vậy việc đo lường mức tăng trưởng các đầu vào
(vốn, lao động ) để tính toán các đầu ra (sản lượng ) thể hiện bằng việc
xây dựng các mô hình tăng trưởng là hướng cố gắng của nhiều nhà kinh tế
trên thế giới.
Như vậy, tăng trưởng kinh tế được đo bằng tốc độ và quy mô. Sự
tăng trưởng kinh tế được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai
đoạn nhất định cho ta khái niệm tốc độ tăng trưởng. Đó là sự tăng thêm sản
lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
được tính bằng tỷ lệ phần trăm thông qua việc so sánh quy mô của hai thời
kỳ. Quy mô tăng trưởng được biểu hiện bằng số lượng tuyệt đối, còn tốc độ
tăng trưởng được biểu hiện bằng số lượng tương đối. Quy mô của thời kỳ

điều kiện cho con người bất kỳ ở đâu cũng có cuộc sống đầy đủ, lành mạnh
và lâu dài”[80,14]. Sự phát triển trong đời sống xã hội không diễn ra một
cách đơn giản thẳng tắp như trong các quan niệm về phát triển của chủ
nghĩa thực chứng mà là kết quả của sự tác động biện chứng phức tạp của
nhiều quá trình khác nhau, trong đó hoạt động có mục đích của con người
dựa trên việc nhận thức các quy luật khách quan của lịch sử có vai trò quan
trọng nhất. Cũng không nên hiểu cơ chế phát triển một cách phiến diện,
trừu tượng bởi phát triển luôn diễn ra trong sự tác động qua lại biện chứng
giữa các quá trình có khuynh hướng khác nhau: sự phát triển theo hướng
tiến bộ gắn liền với thoái bộ.
Đối với mỗi xã hội, nói tới phát triển là nói tới sự vận động đi lên, sự
biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp của những lĩnh vực cơ bản của đời sống
xã hội, bao gồm sự tổng hợp của các nhân tố: tăng trưởng kinh tế, thu nhập
quốc dân tính theo đầu người tăng liên tục, mức sống của đa số dân cư
được cải thiện và tăng trưởng kinh tế không làm nảy sinh các vấn đề xã hội.

15
Do đó, đối với mỗi xã hội “phát triển” chính là “tăng cường khả năng làm
thoả mãn các nhu cầu của con người và cải thiện mức sống của con người”
[38,224].
Phát triển là một hiện tượng tập hợp đầy đủ các mặt xã hội, văn hoá,
môi trường, khoa học kỹ thuật, kinh tế. Điểm dừng chân cuối cùng của phát
triển chính là xã hội loài người. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực
của sự phát triển. Vì thế mục tiêu của sự phát triển là không ngừng cải thiện
chất lượng cuộc sống vật chất, văn hóa tinh thần của con người.
Phát triển kinh tế là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của sự phát triển
nói chung, nhưng phát triển kinh tế không phải là mục đích tự thân, trái lại
phát triển kinh tế phải được thúc đẩy để phục vụ, nhằm đạt được các mục
tiêu chung của sự phát triển.
Phát triển kinh tế có thể hiểu “là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến)

này lại phụ thuộc vào chế độ xã hội, vào quan niệm giá trị và hệ thống giá
trị của xã hội đó. Mục tiêu của phát triển phải bao gồm cả những mục tiêu
xã hội. Đó là xoá đói giảm nghèo, thoả mãn nhu cầu cơ bản của nhân dân,
thực hiện công bằng xã hội, đoàn kết trong cộng đồng và nâng cao phẩm
giá con người. Một nền kinh tế có chỉ số tăng trưởng cao, nhưng nếu nó lấy
lợi nhuận làm mục tiêu cuối cùng và duy nhất, mà xem nhẹ yếu tố xã hội,
huỷ hoại môi trường sống thì không thể xem đó là sự tăng trưởng mang
tính tích cực và tiến bộ. Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã có quan
điểm tiến bộ trong việc xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng và
phát triển, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, gắn các
chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế với các chỉ tiêu phát triển xã hội, coi tăng
trưởng kinh tế là cơ sở vật chất để phát triển xã hội trên cơ sở giải quyết tốt
các vấn đề sinh thái. Điển hình là các quốc gia Ôxtrâylia, Hà Lan, Thụy
Điển, Na Uy, Thụy Sỹ…
Trong một nền kinh tế quốc dân, sự tăng trưởng chung thể hiện ở tốc
độ tăng GNP và tốc độ tăng GDP, mà cả GNP, GDP lại phụ thuộc vào tốc

17
độ tăng giá trị sản lượng thuần tuý của các ngành kinh tế. Nhưng tốc độ
tăng trưởng của các ngành lại khác nhau theo những quy luật nhất định. Vì
thế trong từng thời kỳ, nếu không bảo đảm được các mối quan hệ có tính
quy luật giữa các ngành, thì sẽ gây rối loạn trong nền kinh tế, hạn chế sự
phát triển chung của nền kinh tế.
Như vậy, khái niệm phát triển kinh tế rộng hơn khái niệm tăng
trưởng kinh tế. Phát triển kinh tế là cơ sở vật chất để giải quyết các vấn đề
xã hội và không thể có sự phát triển kinh tế thuần tuý tách khỏi các vấn đề
xã hội. Tăng trưởng kinh tế chưa phải là phát triển kinh tế. Tăng trưởng
kinh tế, mặc dù rất quan trọng nhưng chỉ mới là điều kiện cần của phát triển
kinh tế. Điều kiện đủ của phát triển kinh tế là trong quá trình tăng trưởng
kinh tế phải bảo đảm được tính cân đối, tính hiệu quả, tính mục tiêu và tăng

yếu tố xã hội có khả năng gây ra những tác động trực tiếp hay gián tiếp, tức
thời hay theo kỳ hạn, đối với các sinh vật hay đối với các hoạt động của
con người [52,323].
Trong cuốn “Môi trường và tài nguyên Việt Nam” các tác giả quan
niệm “Môi trường tự nhiên” bao gồm “các yếu tố tự nhiên và phi tự nhiên
tồn tại, vận động và phát triển gắn bó hữu cơ trong một cơ thể thống nhất,
có ảnh ưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, xấu hoặc tốt đến con người; và chính
con người cũng là một yếu tố môi trường quan trọng tác động tới quá trình
vận động và phát triển của chủ thể của nó” [69,7]. Đỗ Thị Ngọc Lan trong
cuốn “Môi trường tự nhiên trong hoạt động sống của con người” cho rằng:
“Môi trường tự nhiên là một tổng hoà những yếu tố tự nhiên vô cơ và hữu
cơ, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của mọi sinh vật”
[51,20]. Tuy cách định nghĩa có khác nhau nhưng các tác giả đều đã khẳng
định môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố tự nhiên, các hiện tượng tự
nhiên, các tài nguyên thiên nhiên trong sự thống nhất với nền sản xuất xã
hội. Trong môi trường tự nhiên, giữa các yếu tố tự nhiên, các hiện tượng tự
nhiên, các tài nguyên thiên nhiên thường xuyên có sự tác động qua lại với
nhau và có những ảnh ưởng nhất định đối với sự tồn tại và phát triển của

19
mọi sinh vật. Nếu một yếu tố nào đó thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi các
yếu tố khác.
Trong tuyên ngôn của UNESCO năm 1981 thì môi trường được hiểu
là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung
quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã
khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc tài nguyên nhân tạo nhằm thoả
mãn các nhu cầu của con người.
Tác giả Hoàng Phê trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” cho rằng: Môi
trường là “toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con
người hay một sinh vật tồn tại phát triển, trong quan hệ với con người, với

trong một môi trường nhất định. Đối với các cơ thể sống thì môi trường là
tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát
triển của chúng. Đối với con người thì môi trường sống của con người là
tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh con
người và có ảnh hưởng tới sự sống và sự phát triển của từng cá nhân, từng
cộng đồng và toàn bộ loài người trrên hành tinh.
Có thể nói, các định nghĩa môi trường nêu trên tuy có khác nhau về
quy mô, giới hạn, thành phần… nhưng đều thống nhất ở bản chất hệ thống
của môi trường và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Dưới ánh sáng
của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, môi trường cần được
hiểu như là một hệ thống bởi nó mang đầy đủ những đặc trưng của hệ
thống: Tính chỉnh thể, tính cấu trúc phức tạp, tính động, tính mở và khả
năng tự tổ chức và điều chỉnh [75,9-11].
Trước hết hệ thống môi trường luôn có tính chỉnh thể rõ rệt. Nó như
một tấm lưới sinh mệnh được dệt nên bởi các bộ phận có liên quan hữu cơ
với nhau. Mỗi khi ở một mắt lưới nào đó gặp phải vấn đề thì đều gây ra
những ảnh ưởng nghiêm trọng tới mạng lưới - toàn thể hệ thống môi
trường. Bởi vậy, giải quyết vấn đề môi trường không chỉ là trách nhiệm của

21
một cá nhân hay một quốc gia mà phải là công việc của toàn thể xã hội,
toàn thể nhân loại - Vì sự tồn tại của loài người nói chung.
Tính cấu trúc phức tạp thể hiện ở hệ thống môi trường bao gồm
nhiều thành phần hợp thành. Các thành phần đó có bản chất khác nhau (tự
nhiên, kinh tế, dân cư, xã hội) và bị chi phối bởi các quy luật khác nhau,
đôi khi đối lập nhau
Môi trường dù với quy mô lớn, nhỏ hay như thế nào, cũng đều là một
hệ thống mở. Các dòng vật chất, năng lượng và thông tin liên tục chảy
trong không gian và thời gian, Vì thế các vấn đề môi trường dù mang tính
cục bộ hay tính toàn diện cũng đều cần được giải quyết bằng nỗ lực của

“Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không
phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh ưởng xấu đến con người và
sinh vật” [52,9].
Liên quan đến khái niệm ô nhiễm môi trường là khái niệm suy thoái
môi trường, sự cố môi trường. Theo Luật bảo vệ môi trường của nước ta
thì: Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của
thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật.
Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong qúa trình hoạt động
của con người hoặc thay đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy
thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng [xem 52].
Môi trường và sản xuất có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Môi
trường vừa là vấn đề kinh tế vừa là vấn đề xã hội. Các nguồn tài nguyên
thiên nhiên là yếu tố quan trọng của sản xuất. Ngược lại, tốc độ phát triển
của sản xuất lại một phần phụ thuộc rất lớn vào các nguồn tài nguyên thiên
nhiên. Sản xuất xã hội vừa có mặt sử dụng, tái tạo vừa có mặt tàn phá môi
trường và đến lượt nó, môi trường cũng vừa là nguồn tài sản thiên nhiên
quý giá, vừa là mối hiểm nguy do thiên tai gây ra cho con người. Bởi vậy
nếu con người lãng phí tài nguyên, sử dụng một cách quá mức, khiến cho
tài nguyên không còn khả năng phục hồi, hoặc nếu con người không hiểu

23
được các quy luật vận động của tự nhiên thì sẽ phải gánh chịu những hậu
quả nặng nề do tự nhiên trả thù.
Hậu quả nghiêm trọng nhất của các quá trình sản xuất, đặc biệt là
việc sản xuất chạy theo lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản và nền sản xuất dựa
trên trình độ của công nghệ hiện đại đã làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và làm ô nhiễm môi trường sống của trái đất. Sản xuất xã hội
với nền công nghiệp hiện đại nhưng chưa hoàn chỉnh đã gây ra sự tàn phá
môi trường nghiêm trọng. Khí cacbonic do công nghiệp, giao thông vận
tải sử dụng các loại nhiên liệu cổ sinh học (than đá, dầu hoả ) tạo ra đã

phúc lợi của mọi dân tộc và phát triển kinh tế trên toàn thế giới [12,18].
Sau 20 năm Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển Riô - 92
tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. Nguyên tắc
thứ tư trong những nguyên tắc về quyền lợi và nghĩa vụ chung - tuyên ngôn
Riô - 92 ghi rõ: “Để thực hiện được sự phát triển lâu bền, bảo vệ môi
trường nhất thiết sẽ là một bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và
không thể xem xét tách rời quá trình đó” [12,31].
Ở nước ta, Luật bảo vệ môi trường cũng đã khẳng định: Bảo vệ môi
trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa,
hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc
phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử
dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học
[52,8-9].
Như vậy bảo vệ môi trường tức là bảo vệ môi trường sinh tồn của
loài người khỏi bị ô nhiễm và khỏi bị phá hoại, làm cho môi trường tự
nhiên càng phù hợp với sản xuất và đời sống của loài người, đồng thời bảo
vệ tốt các loài sinh vật trong thế giới tự nhiên.
Bảo vệ môi trường tức là bảo vệ sức sản xuất. Môi trường sản xuất,
môi trường xã hội và môi trường tự nhiên tốt đẹp chính là cơ sở của sự phát
triển kinh tế xã hội. Nếu cơ sở này bị phá hoại thì không những ảnh hưởng
tới sự phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội. Nói cách

25
khác bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân
loại; là nhiệm vụ có tính chất xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh
xoá đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ
xã hội trên phạm vi toàn thế giới [25,3]. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường là
yêu cầu để phát triển kinh tế trong xu thế bền vững, là nhu cầu trong cuộc
sống thường ngày của con người.
Cùng với sự tiến triển của lịch sử, con người ngày càng nhận thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status