Một số phương diện cơ bản của mối quan hệ giữa nghệ thuật và triết học - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VĂN
KHOn TRICT HỌC
(Dỗ THỊ M M ÍT H Ả O
MỘT SỐ PHƯƠNG DlệN cơ BẢN củn MỐI OUIÌN Hệ
• • •
ỡlửn NGHẽ THUẬT VÒ TRlẽT HỌC
• • •
Chuyên ngành : Thẩm mỹ học Mác - Lénin
Mã sô : 50105
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS. Đỗ HUY
Viện Triết học
\ w y
HÀ N ỘI - 2001
MỤC LỤC
% %
Trang
Mở đầu 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
6. Đóng góp của luận văn 4
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận vãn 5
8. Kết cấu của luận văn 5
Chương 1: Cội nguồn của nghệ thuật và triết học 6
1.1. Cội nguổn của nghệ thuật 6
1.1.1. Các tư tưởng cơ bản của Mác - Ảngghen về nguồn 6
gốc của ý thức thẩm mỹ

Về thực tiễn, lý luận về mối quan hộ giữa nghệ thuật và triết học sẽ góp
phần chỉ đạo hoạt động nghệ thuật, tạo cơ sở cho việc nâng cao kiến thức về
nghệ thuật, khai thác và thưởng ngoạn các tác phẩm nghệ thuật. Việc luận giải
sâu sắc hơn mối quan hệ giữa các lớp triết - mỹ của hình tượng nghệ thuật
dưới nhiều góc độ, tạo tiền đề cho sự phát huy, khơi dậy tối đa những năng lực
nhận thức, sáng tạo vốn có trong con người. Sự kết hợp uyển chuyển, hiệu quả
hai hình thái ý thức xã hội này sẽ tạo ra bước phát triển mới, cân đối hơn về
khả năng nhận thức và sáng tạo của con người vói tư cách chủ thể văn hóa mới
trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước ta.
Rõ ràng, các hình thái ý thức xã hội là độc lập tương đối với nhau,
không một hình thái ý thức xã hội nào là có thể phản ánh đầy đủ hết các
chiều, các phương diện vô cùng phong phú, phức tạp của tồn tại xã hội, để có
thể thay thế các hình thái ý thức xã hội khác. Mỗi một hình thái ý thức xã hội
có một sức mạnh nhận thức riêng; và vì thế, trước sự tồn tại của các hình thái
ý thức xã hội khác, chúng không những không chồng chéo mà ngược lại, còn
bổ sung cho nhau, lấp đầy những chỗ hạn chế của nhau, tạo nên sự toàn diện
trong nhận thức và hoạt động của con người.
Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội do cơ chế tư điều
chỉnh của mỗi hình thái và của toàn bộ ý thức xã hội quyết định, và do đó
chúng có thể phản ánh các diễn biến của tồn tại xã hội một cách đáy du và
hiện chứng.
Chính viộc nhận thức quá trình tác động qua lại này dẫn đến phát hiện
luật cân bằng và cơ chế tự điều chỉnh, tức là luật phát triển không mất cân đối,
giúp ta khắc phục tính một chiều thái quá trong tư duy của chủ nghĩa duy tâm,
cũng như tính cơ giới của chủ nghĩa duy vật máy móc. Điều này cho phép
chúng ta khám phá mối quan hệ gần gũi gắn kết đôi ba hình thái ý thức xã hội
nhằm thúc đẩy tư duy biện chứng duy vật của con người lên một bước mới.
Với tất cả những lý do nêu trên, mối quan hệ ạiữa triết học và nạhệ
thuật là một đề tài có thể góp phần khám phá luật cân bằng và cơ chế tự điều
chỉnh của hai hình thái ý thức xã hội này. Tuy vậy, vấn đê “Mối quan hệ giữa

hình thái ý thức xã hội được nghiên cứu trên cơ sở phản ánh tồn tại xã hội, có
tính độc lập tương đối và tác động biện chứng lẫn nhau.
Quan hệ trong sinh thành và tính độc lập tươnẹ đối của các hình thái ý
thức xã hội ( xuất phát từ sự phản ánh tổn tại xã hội và xét đến cùng là bị qui
định bởi tốn tại xã hội), thực chất lại chính là vấn đé về các phương thức tư
duy ( hình tượng, khái niệm ) trong lịch sử tư duy nhân loại. Với logic này,
luận văn cũng lần lượt làm sáng tỏ tính độc lập tương đối của các hình thái ý
thức xã hội: nghệ thuật và triết học từ góc độ phương thức tư duy hình tượng,
phương thức tư duy khái niệm và mối quan hệ giữa chúng.
Chính vì triết học là một khoa học, còn nghệ thuật là một phương thức
nhận thức ( biểu hiện) thế giới bằng hình tượng, nén khi xem xét chúng là hai
hình thái ý thức xã hội đã cho phép nhìn nhận mối quan hệ gần gũi, gắn kết
giữa chúng trong quá trình hình thành và phát triển.
Luận vãn còn giới hạn phạm vi nghiên cứu chú yếu trên cơ sở nghé
thuật và triết học phương Tây.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM vụ CỦA LUẬN VÃN
a. Mục đích cùa Luận vãn
Làm sáng tỏ một số phương diện cơ bản cúa mối quan hệ biện chứng
giữa nghệ thuật và triết học chủ yếu trên bình diện nguyén tắc chung, va phán
nào có chú ý đến bình diện logic- lịch sử.
b. Nhiệm vụ cúa luận văn
3
Để đạt được mục tiêu trên, luận vãn cần nghiên cứu : cội nguổn của
nghệ thuật và của triết học, qua đó xác định thời điểm ra đời của hai hình thái
ý thức xã hội này để làm rõ vai trò của tư duy hình tượng đối với sự hình thành
tư duy khái niệm trong lịch sử.
Luận văn còn nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa triết học và nghẹ
thuật trên hai phương diện: Triết học - Phương pháp luận của nghệ thuật và
nghệ thuật- một cách cảm quan của tư tưởng triết học.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương với 4 mục.
Chương 1
CỘI NG U Ổ N CỦA NG H Ệ TH UẬT VÀ TRIẾT HỌC
• • • •
1.1. CỘI NGUỔN CỦA NGHỆ THUẬT
1.1.1. Các tư tưởng cơ bản của Mác - Ảngghen về nguồn gốc của ý thức
thẩm mỹ
Trong lịch sử mỹ học có rất nhiều quan niệm khác nhau về cội nguồn của
nghệ thuật. Các nhà mỹ học trước Mác và ngoài mácxít đã đé cập và bàn đến
cội nguồn của nghệ thuật trong rất nhiều tác phẩm khác nhau. Platon, trong
tác phẩm lun đã nghién cứu và trình bày cội nguôn của nghệ thuật từ các hoạt
động linh cảm của con người. Nhà bách khoa toàn thư thời cố đại- Arixtốt đã
chứng minh cội nguồn của nghệ thuật là bản nănạ bắt chước của cun nạ ười.
Mỹ học của I.Kant khẳng định cội nguồn của nạhệ thuật thuần túy là các tro
chơi cá nhản. Còn nhà phân tâm học nổi tiếng Freud đã khắng định : Các (>iấí
mơ là cội nguồn chân chính của nghệ thuật.
Khác với tất cả các nhà triết học trên, Mác và Ảngghen đã khẳng định
nghệ thuật có nguồn gốc từ lao đông thực tiễn làm xuất hiện ý thức thẩm
mỹ ở con người. Nhận thức duy vật về lịch sử là cơ sở quan trọng giải thích
đúng đắn cội nguồn cua nghệ thuật.
Ảngghen viết: “ Giống như Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển cúa thế
giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sứ loài người : Cái sự
thật giản dơn đã bị nhữnạ tầng tầng lớp lớp tư tưởng phủ kín cho đến nẹày nay
là : Con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rổi mới có thế làm
chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và v.v được; vì vậy, việc sản xuất ra
những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính, mỗi một giai đoạn phát
triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó
mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quy én, nghệ
thuật, và thậm chí ca những quan niệm tôn giáo của con người ta, cho nén

7
Trong những giai đoạn đầu của lao động thích nghi, người nguyên thùv
vẫn chưa đạt tới hình thức sản xuất đặc thù của xã hội. Ớ trinh độ đó, hình
thức nguyên thủy của ý thức được tìm kiếm trong chính quá trình người
nguyên thủy sử dụng các vật có sẵn trong tự nhiên làm dụng cụ ( hoạt động
dụng cụ tính), dẫn đến giai đoạn chế tác công cụ đầu tiên của loài người. Còn
trong tính “hiện thực trực tiếp” của nó, ý thức được khảo cứu thỏng qua đặc
trưng ngôn ngữ. Có hai cơ sở tạo nên con người, đó là lao động và ngôn ngũ',
lúc đầu là ngôn ngữ cử chỉ chỉ dẫn. Ảngghen viết: “Trước hết là lao động, sau
lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ ; đó là hai sức kích thích chu
yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến
chuyến thành bộ óc của con người”[41,646 ].
Trong hoạt động sinh tôn, n^ỏn ngữ cử chỉ chí dần được bây đan sãn bát
triển khai trước đối tượng, thoạt tiên bằng hình thức vòng cung của cử chỉ chỉ
dẫn hướng vể con mồi. Đó chính là hình thức người này lặp lại người khác,
cho chính mình, và soi mình, tự nhận ra mình trước tiên chỉ trong một người
khác : “Nhân vì họ, đổng thời mỗi người nói với chính mình dấu hiệu ma họ
phát ra cho nhau, khiến cho tự lần lộn vào nhau tron ẹ cùn ạ một sự vận động
trưng đó mỗi người thấy mình trong nhữnạ kẻ khác như trong chính mình. Do
đó mà dấu hiệu, xuất hiện như vậy đối với mỗi cá nhân như là vốn sống trong
bản thân với tư cách hắn tham gia hành vi của nhóm và đồng nhất hóa với
nhóm, trên một ý nghĩa nào đó là được mang vác bởi bản thán quan hệ xã
hội” [61, 37-38]. Động tác chỉ dẫn qua lại, trong lao động tập thể thích nghi,
bao hàm một sự đổng hóa hoàn toàn giữa các chủ thể, họ chỉ dẫn lẫn cho nhau
đối tượng trong nỗ lực chung của họ : như thế ý thức nảy sinh như là “đơn
giản quần đoàn” hoặc “ý thức cừu đàn” Cái thực tiễn hãy còn là “vô danh”
[61,41 ]. Nhờ sự lặp lại bền vững trong hành vi lao động thích nghi cùa loài,
bầy đàn nguyên thủy trong trình độ cao hơn đã đạt đến một thứ ngon ngữ chí
dần trực tiếp - thao tác chỉ dẫn trực tiếp từ xa hướng thẳng tới đối tượng va
tronẹ chiêu nẹược lại cho chính mình (được trừu xuất từ hình thức chi dẫn

ứng các nhu câu sinh hoạt vật chất trực tiếp cua nó. Còn hoạt động lao động
của con người đi từ cảm giác về tính ngoại hiện trực tiếp khách quan của đối
9
tượng đến kinh nghiệm vê đối tượng dẫn tới sự tái hiện hình ảnh vé đối tượng,
chính là cơ sở dẫn tới tư duy hình tượng, sau đó là tư duy hình tượng nghệ
thuật.
Việc tạo nên một hình thức điển hình của thao tác ghè đẽo các cạnh sắc,
mài nhẵn trên tất cả các mặt của công cụ, là quá trình gia công rõ ràng phán
hữu ích của công cụ và quá trình tạo lập ở con người thói quen ngắm nghía
đối tượng trong tầm tay, tu chỉnh và hoàn thiện nó. Thói quen dẫn đến những
trình độ người trong những kỹ năng điều hòa, tạo nên sự tu chỉnh đãng đối,
cân xứng. Sự lặp lại các thao tác ngắm nghía, tu chỉnh và hoàn thiện dần cùng
trang trí là những mắt khâu chuẩn bị cho ý thức thẩm mỹ ở người nguyên thủy,
là điều kiện cho phép lao động tu chỉnh gắn kết cái đẹp và cái có ích để tăng
hiệu quả chuyển sang lao động sản xuất. Con người với tư cách vừa là kết quả
vừa là chủ thể của quá trình lao động sản xuất bước ra từ chính quá trình đó -
quá trình thực hiện đồng thời hiệu quả của trí tưởng tượng có mục đích riêng,
của hoạt động kinh nghiệm có ý thức và ý thức thẩm mỹ ở trình độ lao động tu
chỉnh đã tạo nén một hình thức toàn phần hoàn chỉnh dấn dần xóa bỏ hẳn hình
thức tự nhiên của công cụ băng đá. Đó là hành vi sản xuất của giống người,
bởi lao động sản xuất đánh dấu con người tách khỏi tự nhiên với tư cách người
chế tác công cụ lao động theo quy luật cái đẹp.
Tuy nhiên, con người chế tác công cụ không dừng lại ớ giai đoạn này
(giai đoạn chế tác công cụ phục vụ trực tiếp cho thao tác lao động chân tay :
cái rìu, cái để nạo, khoan đá). Chính là trong hoạt động lâu dài đó, con người
đã sản sinh cùnẹ lúc hai đôi tượnẹ cho chủ th ể: đối tượnẹ trước mắt và đối
tượníị bên tronẹ, tiềm ẩn lâu dài mà bền vững làm nên động lực thôi thúc
người tiền sử ; đó là quá trình tích tụ kinh nghiệm, sự tăng trưởng của các khả
năng qua rèn luyện, là mục đích riêng của con người đang tìm cách vượt lén
một chặng mới của lao động thích nghi phổ biến- đó là đối tượng của hoạt

chủ quan của thế giới khách quan), có được một hình thức ngoại hiện trực tiếp
của mình, một thứ ngôn ngữ đặc biệt- ngôn ngữ hình tượng. Ngôn ngữ hình
tượng giúp cho việc thiết lập mạng lưới thông tin tri thức, kinh nghiệm của
toàn thể xã hội cộng đồng nguyên thủy đang chuyển mình đến một xã hội
11
phức tạp hơn, đòi hỏi nhiều hơn ở khá năng tư duy trí tuệ của con người.
“Hình tượng” - trước hết với chức năng “công cụ tính" phục vụ cho việc nhận
thức của con người, sau đó là “phương thức tư duy hình tượnẹ" đã được cà
bầy đàn chuẩn bị cho mục tiêu sinh tồn bằng trí tuệ của con người.
Đi sâu nghiên cứu chúng ta có thể thấy, ở giai đoạn này ngay cả dưới
hình thức sơ khai nhất, những hình vẽ trên các hang động ở hang Antamiara
(Bắc Tây Ban Nha), hang Látxcô (miền Nam nước Pháp) đều đóng vai trò
như một phương tiện đặc thù để nhận thức tự nhiên. Chúng (bán thân các hình
vẽ) được trình ra với chức năng công cụ tính phục vụ nhu cầu nhận thức của
con người; hay tính ngoại hiện trực tiếp của sự phản ánh có ý thức ở người tiền
sử, của ký ức con người chụp lại, chép lại hình ảnh lẫn với tri thức về đối
tượng. Đó chính là ngôn ngữ hình tượng đang trong quá trình phôi thai và chín
muồi trong điều kiện công sức rèn luyện của bầy đàn đạt đến tính điển hình
của sự phản ánh (những hình tượng về các con thú đạt đến trình độ mô tả
chính xác cao). Ở điều kiện chín muồi đó, ngôn ngữ hình tượng sẽ tiêm ấn
trong nó ngôn ngữ hỗn hợp của điều kiện hoạt động công trường chế tác ghè
đẽo được tinh luyện hơn, đang phức tạp dần lên với sự đan xen công trường
tạc vẽ mô tả. Ở đây chúng ta cần lưu ý thêm về tính điển hình của sự phản ánh
khâu tạo ra công cụ tính. Tính điển hình của sự phản ánh ớ đây được hiếu la
con người có khả năng sử dụng vào thao tác tư duy của minh những hình
tượng về các con thú có độ chính xác cao trong mô tả, người ta có thể nhận ra
đó là con thú gì, nó có những đặc trưng gì về cặp sừng hay bộ móng v.v Đó
là chuẩn mực dường như lặp lại nhưng ở hình thức cao hơn của thao tác chế
tác toàn phần - điển hình trên đối tượng lao động bằng đá, xóa đi trên mọi bé
mặt của hòn đá, dấu vết của tự nhiên.

phần quan trọng trong việc giải quyết biện chứng mối quan hệ giữa nhân tó
vật và nhân tô Người xét từ cội nguồn lao động. Thấy được hai giai đoạn luyện
cônq cụ và cônẹ cụ tính chính là thấy được bước đi lịch sử của con người đi
đến sinh tồn bằng trí tuệ. Tuy nhiên, việc phát hiện ra “đối tượng bén trong”
củng là cơ sở làm nảy sinh ý thức thẩm mỹ cho thấy bước đi lịch sử cua loài
n
người không chỉ đi đến sinh tồn báng trí tuệ, mà còn sinh tón băng mọi
cảm giác, cảm xúc của chính mình.
Vê đối tượng bén trong, Mác viết : “Đặc điểm sức mạnh của bất cứ con
người nào cũng chính là cái bản chất riêng của họ, vì vậy cũng là cái cách
thức riêng của việc khách quan hóa của họ, tức là cách thức riêng của cái thực
thể sinh động của họ, thực thể “khách quan và thực tể' [45,24]. Như vậy, khi
và chỉ khi con người phát hiện ra đối tượng bên trong, tạo ra bản chất riêng
của cả loài người, và của mỗi người, con người mới đạt đến bản chất là con
người xã hội từ phương diện là con người có tư duy trừu tượng. Sự nhân rộng
ra cái thực thể sinh động của chính bản thân con người với tư cách một thực
thể khách quan và thực tế đã dẫn tới hình thành một kiểu tư duy làm nền cho
nghệ thuật sau này - một kiểu tư duy thực thể sinh động chủ quan - khách
quan, thực tế. vế điêu này, C.Mác cũng đã khắng định : “Như vậy là không
phải chỉ ớ trong tư duy mà bằng tất cả các giác quan, con người do đó đã tổn
tại rõ rệt trong thế giới khách quan”[45,24J. Với ý nghĩa đó, tư duy khởi
nguồn của nghệ thuật là một loại tư duy kép : tư duy đông hanh với cam
giác, cảm xúc qua các giác quan. Tư duy đồng hành với cảm giác, cám xúc
qua các giác quan không phải là ioại “đơn trị” mà luôn được nhân lên theo sự
phong phú của quá trình đối tượng hóa bản chất người. Mác viết : “Sự đối
tượng hóa bản chất con người là tất yếu - xét về phương diện lý luận cũn%
như về phương diện thực tiễn - để một mặt nhãn hóa cảm giác của con người,
và mặt khác tạo ra cám giác con người tương ứng với toàn bộ sự phong phú
của bản chất con người và tự nhiên”[44,\16] (Cảm giác chủ quan đóng vai
trò quan trọng cho sự sản sinh ra nghệ thuật).

1.1.2. Tu duy hình tưựng tạo nén đặc trưng cúa tư duy hình tượng nghệ
thuật
- Cội nguôn của nghệ thuật nầm trong quan hệ thẩm mỹ của con
người, vì vậy, không thể xem xét cội nguôn của nghệ thuật bên ngoài cáu
trúc “cái tổng thể" của ý thức thẩm mỹ
Quá trình chế tác công cụ không chỉ trình cho chúng ta thấy những thay
đổi đối với các giác quan của con người, sự hình thành nên ý thức và ngôn
ngữ, mà nó còn lám nên cuộc đảo lộn về tính quy định của giới tự nhiên. Lao
động chế tác công cụ đã tạo nên - con người - vừa là chủ thể vừa là kết qua ;
và từ đó đã hình thành nên một lịch sử quan hệ chú thế - khách thế giữa con
người và giới tự nhiên như một đối trọng. Giới tự nhiên và con người với tư
cách là một thực thể tộc loại - cái vốn thuộc bản thân nó, hiện diện trong tính
quy định của nó - đang dần trở thành đối trọng với nó bằng hoạt động thực
tiễn và ý thức ngay càng sâu rộng của cả bầy đàn (tính đối trọng ớ đây trước
hết cần được xem xét trong điều kiện của những công trường chế tác công cụ
và tạc vẽ mô tả của người nguyèn thủy chứ không phải xét trên qui mô hoạt
động lao động sản xuất đã phát triển và tầm vóc của một trình độ nhận thức
cao). Lao động chê tác công cụ đã làm nảy sinh cấu trúc tổng thế - thấm mỹ
trong ỷ thức cộng đông và chi phối mọi hình thức hoạt động nói chung của xã
hội thị tộc nguyên thủy.
Ọui mô hoạt động thực tiễn sản xuất của những công trường chế tác cóng
cụ đang hình thành nên những hình thức cấu trúc có tính chất chức nãng phức
tạp hơn ngay ở những công cụ vừa là kết quả quá trình lao động, vừa là vật
trung gian, phương tiện hữu ích cho hoạt động của con người. Điều này có ảnh
hưởng trực tiếp tới mô thức cấu trúc lổìĩị thể - thẩm mỹ trong ý thức và tronẹ
mọi hoạt động nói chung của xã hội thị tộc nguyên thủy. Các nhà nghiên cứu
thẩm mỹ học Nga cũng đã từng đưa ra quan niệm thừa nhận sự tác dụng qua
lại lẫn nhau giữa các yếu tố : (1) Yếu tố tự nhiên tiết tấu và hài hòa theo những
quy luật khách quan ở trong những liên hệ có tĩnh chất hệ thông và cấu trúc
của nó ; (2) bên cạnh đó là lĩnh vực cụ thể tổn tại thực tế ở trong hoạt động xã

xuất vật chất có được giá trị phổ quát phản ánh phạm vi tác động của con
người đến tự nhiên một cách sâu rộng mà hành vi sán xuất lệ thuộc cúa súc vật
không thể có được : “Con vật chỉ sản xuất theo kích thước và nhu cầu của
17 Vr
u /
/ V?
loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo kích thước của bất cứ loài
nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng”
[44,137]. Với ý nghĩa đó, thuộc tính sáng tạo đầu tiên đã gắn liền với quá
trình con người tạo ra những sán phẩm trung gian để tìm cách xâm nhập, tác
động vào quá trình phát triển của tự nhiên, nó gắn với quá trình chê tác công
cụ lao động.
-Vê cơ sỏ thẩm mỹ, ở đây không thể chối bỏ được cái cơ sở thẩm mỹ của
hai giai đoan chế tác công cụ lao động đã triển khai và phát triến từ trong đó
những khá năng sáng tạo nên sự hài hòa, sự tu chỉnh theo ý thích có được một
hình dáng đăng đối cho công cụ, khả năng hoạt động độc lập dần lên của các
giác quan đã được tinh luyện v.v Đó chính là cơ sở cho sự phát triển sau này
của các loại hình nghệ thuật, các giác quan của con người được tinh luyện đến
mức trở thành những hoạt động độc lập trước âm thanh và màu sắc cua thế
giới, như hoạt động sáng tác - thướng thức qua thính giác của nghệ thuật âm
nhạc, hoạt động sáng tác thưởng ngoạn qua thị giác của nghệ thuật hội họa,
điêu khắc, kiến trúc Tinh trạng thực tiễn này trong quá trình lao động san
xuất làm cho bản thân các quá trình hoạt động cúa con người sớm đi vào một
cấu trúc hài hòa. Và trong sự phát triển của các hình thái tiếp theo cua xã hội
loài người, cấu trúc hài hòa được kêu gọi trong tính chuân mực của nó đối với
các hoạt động nói chung của con người đang theo xu hướng độc lập dán lén.
Tính thống nhất của cấu trúc tổng thể - thẩm mỹ giữa bố cục cứa tự nhién và
hiện thực xã hội cúa ý thức bầy đàn tạo nên ở con người một trình độ, một khá
năng trong xung lực của cảm nghĩ, tình cảm hình thành do tác dung của sự hài
hòa này ; cùng cam xúc cúa quan hệ thị tộc đang gia tãng trong hoạt động

có khả năng làm trung gian đem lại những thủ pháp có tính chất siêu kinh
nghiệm như yêu tô ước lệ, cách điệu, tượng trưng và cao hơn cả là sự hư cấu.
Muôn vậy yếu tô kinh nqhiệm cấn phải kết hợp với việc đôi tượng bén trong
đanẹ dẩn trỏ thành xu hướnẹ chú đạo (Đối tượng bén trong được hiếu là đối
tượng của nhận thức, của tri thức, tứr là hành VI con người rnuóri trơ thanh một
ctiú thê - một tôn tại phô quát sẽ láy chính hoạt dộng sinh tón cua minh làm
đôi tượng cho mục đích nhận thức, y thức. Đối tượng bén trong con được hiéu
19
là thế giới bên trong, mặt chủ quan của con người và ý thức của con người về
chính mình ngày một rõ nét). BỞI vì, bản thân kinh nghiệm đã nội hàm tri thức
và nó là điều kiện đê đối tượng bên trong trở thành xu hướng chủ đạo.
Sự kết hợp sẽ làm tăng khả năng xử lý có tính chất kỹ thuật - thẩm mỹ
khiến cho ý thức con người vượt lên giới hạn công cụ tính của hình tượnẹ đê
dần có khả năng tách ra khỏi những quan hệ vụ lợi để mà nhận thức về chính
những quan hệ vụ lợi đó và nhận thức chính mình. Vì vậy, ngay khi có được
khả năng của ý thức tách ra khỏi những quan hệ vụ lợi, thì con người đã có
được một phương tiện hữu ích có chức năng giao tiếp xã hội, một hình thức
nẹôn ngữ mà tính nẹoại hiện trực tiếp của nó đáp ứnạ trình độ và tính chất
của lực lượng sản xuất là bầy đàn nguyên thủy - tính hình tượng. Mặt khác,
phươnạ thức tư duy mà con người có được dựa trên n<ịôn ngữ hình tượng có
khá năng lưu giữ bén vững không chỉ các kinh nghiệm xã hội, ma cả yếu tố
khát vọnẹ, CƯ sớ cua trí tưởng tượnq, sức sán ạ tạo. Phưưriíị thức tư duy hình
tượng - hình thức tư duy tổnọ, hợp đấu tiên mà ỷ thức xã hội loài người có
được, như là thứ ngốn ngữ chủ quan của thế giới khách quan đã được phản ánh
và được cải biến, được đầu óc con người quán triệt theo phương thức riêng cúa
- Tư duy hình tượng là hình thức tư duy tạo nén đặc trưng của tư duy
hình tượng nghệ thuật
Điều này có thể thấy khi bàn về bản chất của nghệ thuật, Hêghen cho
rằng : Ní>hệ thuật khám phá chân lý trong hình thức cảm quan của nó. Còn
Biêlinxki cho rằng : Nhà triết học nói bằnẹ phép tam đoạn luận, nhà thơ nói

phán ánh ý thức la một hình thức phán ánh đặc trưng cúa một dạng vật cnất có
tố chức cao nhất đó là bo não con người. Như váy, việc tao nén một hình thức
điển hình của sự phản ánh dưới hình thức công cụ tính (hình tượng) trước hết
chính là phán ánh cảm giác xác thực của con người về đối tượng sán bãt (và
21
sau đối tượng sãn bắt là cả thế giới hiện thực khách quan) trong tính ngo;
hiện khách quan của sự tồn tại đối với tư duy ý thức con người. Theo đó, nh
có hình thức công cụ tính - tính hình tượng, ngôn nẹữ hình tượnạ có điều kiệ
đạt đến một nội hàm phản ánh thực tại khách quan của phương thức tư du
hình tượng qua phương pháp điển hình hóa mà nghẹ thuật đã đặt những nề
tảng cho sự phản ánh cái phổ biến. Từ đó, con người có thể đạt được những t
thức về cái chung, những tri thức về bản chất của sự vật hiện tượng thông qu
khả năng hư cấu và trừu xuất của ngôn ngữ hình tượng - cái cá biệt, cảm quan
Tư duy hình tượng không chỉ bao hàm cái chung và cái riêng, cái khí
quát và cái cụ thể mang tính cảm giác, cảm xúc đồng nhất. Sự đa dạng củ
cuộc sống được phản ánh trong tư duy hình tượng còn kèm theo mầu sắc. Má
nhấn mạnh : “Cảm giác vể màu sắc là hình thức đại chúng nhất cúa khié
thẩm mỹ nói chung”[39,185]. Chính tính cộng đồng cao trong sự nối tiếp cá
thế hệ luyện khả năng cảm ứng hình dạng làm tăng yếu tố trang điểm đã khé
lại giai đoạn luyện hình dáng thô, giản đơn và mở ra giai đoạn luyện các
dùng màu, với sự gia tăng đường nét cách điệu cho khả năng truyên đạt tí
chất liệu vật chất cụ thể những ý tưởng sáng tạo của nội climg bên tronẹ co
người. Giác quan tinh luyện đã thúc đẩy quá trình tư duy sáng tạo hình tượn
nghệ thuật. Trình độ khái quát này của con người mặc dù biểu hiện trong tín
đặc thù thẩm mỹ nhưng đã có những ảnh hưởng nhất định đối với khả năng t
duy của con người đi đến chỗ biết trừu xuất cái chung khỏi cái riêng bãng c
cảm quan vế màu (và màu mang tín hiệu tình cảm).
Đi sâu vào bản chất phương thức tư duy hình tượng dưới hình thức s
khai, cần thiết phải làm rõ các yếu tố cấu thành của nó để làm cơ sở sau nà
phân biệt với phương thức tư duy hình tượng nẹhệ thuật:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status