ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LỤC THÙY LIÊN
(Màu PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ TÍCH CỰC TRONG
TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC TÀY
TẠI TỈNH BẮC KẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC IẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS .TS NGUYỄN THÚY VÂN Hà Nội – 2013
3
VIÊN HƯỚNGẪN: PGS.TS NGUYỄN THÚY VÂN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp về mặt khoa học của luận văn 10
7. Kết cấu của luận văn 10
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG TRUYỀN
THỐNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU TỈNH BẮC
KẠN 11
1.1.Khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng truyền thống 11
1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng 11
1.1.2. Tín ngưỡng truyền thống 16
1.2.Tính tất yếu của việc phát huy những giá trị tích cực trong 18
tín ngưỡng truyền thống dân tộc 18
1.3.Một số nguyên tắc cơ bản trong việc phát huy những giá trị tích cực
của tín ngưỡng truyền thống 28
1.4.Khái quát về địa bàn nghiên cứu tỉnh Bắc Kạn 36
Chương 2 PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ TÍCH CỰC TRONG TÍN
NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC TÀY Ở TỈNH BẮC KẠN
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Tín ngưỡng là một hiện tượng phổ biến và hình thành sớm trong lịch sử
loài người. Ở Việt Nam, tín ngưỡng có ở hầu hết các cộng đồng người. Ở mỗi
cộng đồng người thì tín ngưỡng lại mang những đặc trưng và dấu ấn riêng.
Dân tộc Tày là một trong những dân tộc có dân số đông đứng thứ hai sau dân
tộc Kinh ở Việt Nam. Với quá trình lịch sử lâu đời, dân tộc Tày đã hình thành
một nền văn hóa đậm đà bản sắc. Tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Tày
gắn liền với văn hóa của tộc người này.
Tín ngưỡng của người Tày ở tỉnh Bắc Kạn cũng mang những đặc điểm
chung của tín ngưỡng của dân tộc Tày và có những nét riêng biệt. Xuất phát
từ những quan niệm tín ngưỡng thì người Tày ở Bắc Kạn đã hình thành các
hình thức tín ngưỡng đặc trưng của dân tộc mình như: thờ cúng tổ tiên, thờ
mẹ sinh sản, Then, Mo, Pụt, Tào. Các hình thức tín ngưỡng đó luôn giữ vai
trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân. Các
sinh hoạt tín ngưỡng không chỉ là nơi giúp người dân giải tỏa tâm lý và đáp
ứng nhu cầu tâm linh cho người dân mà còn được coi như một hình thức sinh
hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu và có sức sống lâu bền trong đời sống
tinh thần của người dân cho tới ngày nay. Tín ngưỡng truyền thống còn chứa
đựng những giá trị tích cực và là nơi sản sinh và tích hợp những giá trị văn
hóa của dân tộc Tày. Tín ngưỡng chính là nơi bảo lưu các hình thức văn hóa
nghệ thuật cổ truyền như: nghệ thuật biểu diễn, các làn điệu dân ca, các văn tự
cổ…Mặt tích cực của tín ngưỡng còn thể hiện ở việc đây chính là nơi lưu giữ
các giá trị phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Tày. Tuy nhiên, là vấn đề
liên quan đến tâm linh nên bên cạnh những giá trị tích cực thì tín ngưỡng của
người Tày ở Bắc Kạn vẫn còn tồn tại những mặt tiêu cực như mê tín dị đoan, 2
niềm tin mù quáng vào khả năng chữa bệnh của các thầy trong sinh hoạt tín
3
đắp. Do đó, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc nhất là các dân tộc thiểu số là việc làm cần thiết trong đó có
vấn đề tín ngưỡng ở các tộc người. Phát huy những giá trị tích cực trong tín
ngưỡng truyền thống của dân tộc Tày tại Bắc Kạn sẽ góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tạo điều
kiện để Bắc Kạn phát triển vững chắc, đóng góp vào thực hiện mục tiêu
chung của của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Với tư cách là một người con của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn, tôi nhận
thấy việc nghiên cứu tín ngưỡng của dân tộc Tày ở Bắc Kạn sẽ có ý nghĩa và
tác dụng to lớn trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của tín
ngưỡng truyền thống trong đời sống của dân tộc Tày hiện nay. Xuất phát từ
tình hình thực tiễn như đã trình bày ở trên, tôi quyết định chọn vấn đề: “Phát
huy những giá trị tích cực trong tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Tày tại
tỉnh Bắc Kạn hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Dân tộc Tày có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở nước ta.
Dân tộc Tày có đời sống văn hóa và tín ngưỡng vô cùng đặc sắc. Do đó, cũng
đã có nhiều công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa và tín ngưỡng của dân
tộc Tày. Tài liệu liên quan đến luận văn có thể chia thành 3 nhóm sau đây:
- Nhóm những công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian của dân
tộc Tày ở Việt Nam
Dân tộc Tày có dân số đông và tập trung ở hầu hết các tỉnh vùng Đông
Bắc của nước ta nên dân tộc này còn được xem như là chủ thể văn hóa của
vùng Đông Bắc. Vì vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về văn
hóa đặc sắc của dân tộc Tày, có thể kể đến các công trình: 4
người Tày, Nùng ở nước ta.
Như vậy, những công trình khoa học trên đã mang lại cái nhìn tổng quan
về dân tộc Tày và những đặc trưng trong đời sống văn hóa của tộc người này
bao gồm những giá trị văn hóa vật chất và những giá trị văn hóa tinh thần.
Các công trình đã khái quát bức tranh văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của
người Tày. Với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, điều kiện cư trú và lịch sử hình
thành, người Tày đã xây dựng hệ thống văn hóa vật chất đặc trưng về nhà ở,
trang phục, ẩm thực…Họ cũng xây dựng một đời sống văn hóa tinh thần độc
đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, đó là một kho tàng văn học và nghệ thuật dân
gian phong phú, những hình thức sinh hoạt lễ hội văn hóa văn nghệ đa dạng.
Nhóm những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng của dân tộc Tày
Tín ngưỡng của dân tộc Tày mang bản sắc độc đáo. Các quan niệm tín
ngưỡng cho tới những hình thức tín ngưỡng và nghi lễ tín ngưỡng tất cả đều
đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Tày. Đã có nhiều
công trình khoa học nghiên cứu về tín ngưỡng của dân tộc Tày như:
Cuốn “Tín ngưỡng dân gian Tày – Nùng” tác giả Nguyễn Thị Yên Nxb
Khoa học xã hội năm 2009. Đây là một tác phẩm công phu và chuyên sâu về
tín ngưỡng của người Tày, Nùng. Cuốn sách đã mô tả tổng quan về người
Tày, Nùng về lịch sử hình thành tộc người và văn hóa truyền thống của hai
tộc người này. Tác giả cuốn sách đã nghiên cứu khá sâu về tín ngưỡng của
người Tày - Nùng, trong đó trình bày hệ thống các quan niệm tín ngưỡng làm
nền tảng hình thành các hình thức và các nghi lễ tín ngưỡng tiêu biểu. Cuốn
sách cũng trình bày về trình tự tiến hành và ý nghĩa của một số nghi lễ tín
ngưỡng tiêu biểu đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người
Tày, Nùng. Trong quá trình nghiên cứu tác giả cũng chỉ ra những nét tương
đồng và những nét khác biệt cụ thể trong tín ngưỡng của dân tộc Tày và dân 6
tộc Nùng. Đồng thời tác giả cũng đã tiến hành khảo sát hiện trạng đời sống
ngưỡng của dân tộc Tày nói chung. Các tác giả đã khái quát về hệ thống tín
ngưỡng của dân tộc Tày bao gồm những quan niệm tín ngưỡng, các hình thức
sinh hoạt tín ngưỡng, các nghi lễ tín ngưỡng của dân tộc Tày mang lại cái
nhìn tổng quan về đời sống tín ngưỡng và những đặc trưng trong sinh hoạt tín
ngưỡng của người dân. Một số tác phẩm khác cũng đã đi sâu nghiên cứu
những hình thức tín ngưỡng cụ thể với những quan niệm, niềm tin tín ngưỡng
được thể hiện trong từng hình thức tín ngưỡng đó và các nghi lễ thực hành
trong mỗi hình thức tín ngưỡng.
- Nhóm các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng của dân tộc Tày tại
tỉnh Bắc Kạn
Trong những năm gần đây, công tác sưu tầm, nghiên cứu, khôi phục văn
hóa tỉnh Bắc Kạn được quan tâm. Một số công trình như: “Bản sắc và truyền
thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn” tác giả Hà Văn Viễn, Lương Văn
Bảo, Lâm Xuân Đình, Nxb Văn hóa dân tộc (2004) đã khái quát truyền thống
văn hóa của các dân tộc sinh sống trong địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Cuốn sách
“Bản sắc và văn hóa truyền thống các dân tộc tỉnh Bắc Kạn”, Nxb Văn hóa
dân tộc (2004) đã khái quát văn hóa của các dân tộc sinh sống trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn trong đó có dân tộc Tày. Dân tộc Tày chiếm hơn 50% dân số
của tỉnh, do đó văn hóa truyền thống của người Tày có sức lan tỏa và ảnh
hưởng tới các dân tộc khác sinh sống trong tỉnh.
Luận án tiến sĩ: “Tang ma của người Tày ở Bắc Kạn” tác giả Lương Thị
Hạnh, Viện Khoa học xã hội (2013) đã khảo cứu về nội dung, nghi lễ, hình
thức, các lễ vật cúng tế trong tang ma của dân tộc Tày ở Bắc Kạn từ đó đưa ra
một số khuyến nghị nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa trong tang ma
của người Tày hiện nay. 8
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên đã tiếp
cận tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Tày dưới góc độ tôn giáo và văn hóa
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực và phát huy mặt
tích cực của tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Tày ở Bắc Kạn trong giai
đoạn hiện nay.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Tày tại
tỉnh Bắc Kạn và vấn đề phát huy những giá trị tích cực của nó trong giai đoạn
hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
Tín ngưỡng của dân tộc Tày là một vấn đề rất rộng, luận văn không trình
bày toàn bộ vấn đề thuộc về tín ngưỡng của dân tộc Tày mà trình bày một số
tín ngưỡng chủ yếu của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn, khai thác những giá trị
tích cực của tín ngưỡng đó nhằm bảo tồn và phát huy trong giai đoạn hiện
nay.
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên nền tảng những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức
xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng,
tôn giáo, về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận chung
là phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp
khác cụ thể khác như phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, lịch sử và logic,
so sánh…nhằm thực hiện mục đích mà luận văn đặt ra. 10
6. Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Luận văn làm rõ thêm vấn đề tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Tày
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG VÀ
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU TỈNH BẮC KẠN
1.1. Khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng truyền thống
1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử xã hội, thuộc lĩnh vực tinh thần
của đời sống xã hội. Tín ngưỡng ra đời, tồn tại và phát triển gắn với lịch sử
phát triển của nhân loại. Có nhiều cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu nên
có nhiều cách hiểu khác nhau về tín ngưỡng.
Chủ nghĩa duy tâm khách quan với quan niệm của Platon, Hêghen xuất
phát từ thực thể tinh thần, “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để giải thích về tôn
giáo, tín ngưỡng. Họ cho rằng tín ngưỡng, tôn giáo là sức mạnh thần bí thuộc
tinh thần tồn tại vĩnh hằng.
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan quan niệm tín ngưỡng là thuộc tính vốn có
bên trong ý thức của con người, tồn tại không phụ thuộc vào hiện tượng
khách quan và con người có thể cảm nhận được.
Theo C.Mác thì tín ngưỡng được hiểu theo nghĩa tín ngưỡng tôn giáo,
là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo những nguyên tắc thực hành tôn
giáo nhất định. Theo ông, con người đã sáng tạo ra tín ngưỡng, tôn giáo. Tín
ngưỡng chính là sản phẩm của con người sống trong những điều kiện kinh tế,
xã hội, chính trị, văn hóa cụ thể nào đó. Tín ngưỡng thuộc về đời sống tinh
thần của xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của xã hội. Con
người đã thần thánh hóa, khoác cho thần thánh những sức mạnh siêu nhiên,
tạo thành cái bản chất khác mình và trở thành chỗ dựa cho chính mình. C.
Mác và Ăngghen hiểu tín ngưỡng là tín ngưỡng Cơ Đốc giáo, tín ngưỡng
được hiểu với hàm nghĩa tôn giáo. Các ông coi tín ngưỡng là một hiện tượng 12
Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh cho rằng: “tín ngưỡng là lòng ngưỡng
mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [1;283].
Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng: tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của
con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là
niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu
mà ta có thể quan sát được. Có nhiều loại niềm tin nhưng niềm tin tín ngưỡng
là niềm tin vào “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào “cái thiêng” thuộc về bản
chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con
người cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng,
đời sống tình cảm…[61;16]
Theo tác giả Trần Quốc Vượng thì tín ngưỡng là một thành tố của văn
hóa. Tín ngưỡng là một biểu hiện của ý thức về một hiện tượng thiêng, một
sức mạnh thiêng, do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn,
gán cho một hiện tượng, một sức mạnh chỉ cảm thụ được mà chưa nhận thức
được.
Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa
tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng.
Đời sống của mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục
được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục). Khi đời sống và trình
độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ
tưởng tượng ra (tín ngưỡng). Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời
sống cá nhân rất quan trọng…. [60;262].
Ngoài ra, còn có một số nhà nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm tín
ngưỡng trong mối quan hệ với khái niệm tôn giáo.
Có quan điểm cho rằng: tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với
tôn giáo. Tôn giáo là sự phát triển của tín ngưỡng, tín ngưỡng có trước và là
nền tảng để hình thành tôn giáo. Những quan điểm khác lại đồng nhất tín 14
lý, kinh điển…được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh
đường, học viện…có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt
chẽ, có nơi thờ cúng riêng như nhà thờ, chùa, thánh đường…nghi lễ thờ cúng
chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người. Còn tín ngưỡng
thì chưa có hệ thống giáo lí mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền
thuyết. Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân
gian. Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người,
nơi thờ cúng nghi lễ còn phân tán, chưa hình thành quy ước chặt chẽ”[61;50].
Như vậy, theo cách hiểu trên thì tín ngưỡng là điều kiện tiên quyết để tôn giáo
tồn tại và niềm tin cũng chính là điều kiện để tôn giáo được duy trì.
Tuy nhiên, tín ngưỡng và tôn giáo cũng có sự tương đồng đó là: tín
ngưỡng và tôn giáo đều thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người vào
các thế lực siêu nhiên. Cả tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự phản ánh hư ảo
của ý thức xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội đã sản sinh ra chúng.
Tín ngưỡng và tôn giáo đều có nguồn gốc xã hội, nguồn gốc nhận thức và
nguồn gốc tâm lý. Cả hai đều mang chức năng đền bù hư ảo và hướng con
người tìm đến sự giải thoát về mặt tinh thần.
Các nhà nghiên cứu khác như: Toan Ánh, Phan Kế Bính, Tân Việt…tiếp
cận tín ngưỡng dưới góc độ văn hóa dân gian, xem tín ngưỡng là tín ngưỡng
dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán truyền thống
của dân tộc Việt Nam.
Dù hiểu theo góc độ nào thì tín ngưỡng – tôn giáo vẫn là một hình thái ý
thức xã hội, cũng là một nhu cầu của xã hội. Và một khi những nhu cầu ấy
chưa được những hình thái khác của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối
với một số tầng lớp xã hội, tín ngưỡng – tôn giáo vẫn là nguồn gốc của giá trị
đạo đức, niềm an ủi, nâng đỡ về tâm lý [63; 12]. 16
Tín ngưỡng chính là niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người đối với một
tự nhiên, xă hội. Tín ngưỡng truyền thống cũng giống như các bộ phận khác
của văn hóa Việt Nam là mang những đặc trưng của văn minh nông nghiệp.
Điều này thể hiện ở sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên (tín
ngưỡng sùng bái tự nhiên), đối tượng của tín ngưỡng phần nhiều là phụ nữ
(tín ngưỡng thờ Mẫu) và trong tín ngưỡng có sự hài hòa âm dương. Tín
ngưỡng này chủ yếu dựa trên sự tôn sùng các lực lượng siêu nhiên, lòng biết
ơn, ngưỡng mộ đối với các vị anh hùng dân tộc và người có công với
nước…Tín ngưỡng truyền thống còn thể hiện sự bất lực của con người trước
việc lý giải, nhận thức và quan hệ với các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội.
Như vậy, tín ngưỡng là những hiện tượng xã hội có tính chất linh thiêng,
thần bí, thể hiện nềm tin vào một thế giới vô hình, về cuộc sống sau khi chết
và sự tác động của lực lượng này đối với cuộc sống hiện tại của con người.
Hiện tượng này gắn với các phong tục, tập quán, thói quen, truyền thống của
một cộng đồng người, hay một dân tộc, nó phản ánh nếp sống và lịch sử phát
triển văn hóa của cộng đồng đó.
Tín ngưỡng chính là chỗ dựa tinh thần, là phần sâu lắng nhất, thuộc về
đời sống tâm linh của con người. Do đó, tín ngưỡng là bộ phận quan trọng
trong văn hóa tộc người. Khi con người gặp những điều rủi ro, bất hạnh trong
cuộc sống, muốn giải thoát mình khỏi những đau khổ của hiện thực thì con
người lại gửi gắm niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, hư ảo, và cầu xin ở nơi
thờ cúng các vị thánh thần. Vì vậy mà tín ngưỡng tồn tại trong nhân dân một
cách sâu bền ngay cả khi những điều kiện sản sinh ra nó đã thay đổi. Nó thích
nghi với điều kiện mới chứ không hoàn toàn mất đi. Tuy nhiên, hiện nay
những hình thái tín ngưỡng sơ khai đã mai một đi, chỉ còn một vài hình thái
được duy trì, nhưng đã có biến dạng để phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện xã
hội mới[31;7]. 18
1.2. Tính tất yếu của việc phát huy những giá trị tích cực trong
thức xã hội mang tính chất duy tâm, nhưng các nhà kinh điển Mác – Lênin
cũng đã thừa nhận vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng và coi đây là vấn đề còn
tồn tại lâu dài. Để giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo cần có thời gian và
phải gắn liền với quá trình vận động cách mạng, cải biến xã hội và nâng cao
nhận thức quần chúng. Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng khẳng định tôn giáo, tín
ngưỡng là một hình thái ý thức xã hội nên muốn thay đổi nó cần phải thay đổi
tồn tại xã hội. Muốn xóa bỏ những ảo tưởng trong đầu óc của con người thì
trước hết cần phải xóa bỏ những nguồn gốc gây ra ảo tưởng ấy. Muốn cho con
người từ bỏ những mơ ước về cuộc sống tốt đẹp, thiên đường ở một thế giới
không có thực thì cần phải xây dựng được một thiên đường có thực cho con
người. Để thực hiện được điều này cần phải có một quá trình lâu dài để cải
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho nhân dân, thông qua đó mới có thể loại bỏ được những ảnh hưởng tiêu
cực của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội. Ngoài ra, để khắc phục
những ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo thì cũng cần đẩy mạnh
cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, tuyên truyền giáo dục nhân dân.
Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng là vấn
đề còn tồn tại lâu dài trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội. Do đó, các ông
đã đưa ra những nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo, đó là:
Thứ nhất, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, tín
ngưỡng phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Theo đó, trước hết phải “Xoá bỏ tình trạng nô lệ về mặt kinh tế, nguồn gốc
thật sự của sự mê hoặc nhân loại bằng tôn giáo”. Hay nói cách khác, muốn
thay đổi ý thức xã hội trước hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội,
muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người phải xoá bỏ nguồn
gốc sinh ra ảo tưởng ấy, phải xác lập được một xã hội hiện thực không có áp 20
bức, bất công, nghèo đói và thất học Việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội
phải được giải quyết bằng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo; còn mặt
chính trị lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo phải được giải quyết bằng giải pháp
chính trị. Việc áp dụng lẫn lộn các loại giải pháp, cũng như tuyệt đối hoá một
loại giải pháp nào đó đều là tai hại cho cả tôn giáo và cho chính trị cầm
quyền.
Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng chỉ ra muốn khắc phục những ảnh hưởng
tiêu cực của hình thái ý thức tôn giáo thì trước hết cần phải tạo lập được một
tồn tại xã hội, một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo
đói…một thế giới hiện mà người ta có thể tìm thấy những hạnh phúc thật sự
ngay trong cuộc sống, một xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. Đó là một
quá trình cách mạng lâu dài, gian khổ gắn liền với cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới.
Xuất phát từ nhận thức tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân và đó là nhu cầu hoàn toàn chính đáng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa
cần phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không được
chống tôn giáo mà chỉ chống những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
chống phá cách mạng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuyệt đối không
được nóng vội, chủ quan trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo. Tôn giáo
không chỉ là một hình thái ý thức xã hội, mà còn là một thiết chế xã hội, nó
biến đổi cùng với sự biến đổi của lịch sử. Do đó, ở từng thời kỳ lịch sử, vai
trò của tôn giáo đối với đời sống xã hội không giống nhau. Quan điểm, thái
độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn
có sự khác biệt. Cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, trong những điều
kiện cụ thể mà Nhà nước xã hội chủ nghĩa xác định thái độ, cách ứng xử phù
hợp.