LỜI NÓI ĐẦU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ
Nói tới lễ hội là nói tới tầng tín ngưỡng dân dã được con người
gửi gắm trong lễ hội đó. Người dân trong làng trong vùng mở hội để
gửi gắm mọi khát vọng rất trần thế của mình ở một nhân vật mà
người ta coi là đang ngự tại trên không gian thiêng của làng mình,
vùng mình. Thời gian trôi đi, phù sa văn hoá lịch sử phủ lên các
niềm tin dân dã ấy tạo thành những tín ngưỡng như một sức mạnh vô
hình, tồn tại sống cùng với con người qua các thế hệ. Tín ngưỡng
trong lễ hội ở Hà Tây có thể nói khá tiêu biểu cho tín ngưỡng ở đồng
bằng Bắc Bộ. Đặc điểm nổi bật nhất của lễ hội Hà Tây là tính quy
mô, hoành tráng của một số lễ hội, trong đó phải kể tới hội Chùa
Hương. Từ thế kỷ XVIII Phan Huy Chú đã viết: “Hội Chùa Hương là
hội vui nhất cõi trời nam”. Quả như, Hội Chùa Hương có sức hấp
dẫn và lôi cuốn mọi lớp người. Có thể coi “Hội Chùa Hương như một
tập đại thành của hội truyền thống xưa” (“Hội truyền thống Hà Sơn
Bình” của Phượng Vũ). Nói tới Chùa Hương tức là nhắc đến cụm di
tích và danh thắng ở núi
Hương
Sơn - Mỹ Đức DESơn
ĨẢI : thuộc xã Hương
LUẦN VẦN TỐT NGHI
BÁO CHÍ TRONG VIỆC BAO VỆ PHÁT HUY
thiên tạo bao gồm nhiều đền
NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYÈN THổNG TỐT ĐẸP VÀ
nhiên,
trong điều kiện trình độ dân trí và tuyên truyền văn hoá
hiện nay không khỏi có cái quá đà thậm chí lệch lạc; nơi này chỗ
khác do tự phát nên không khỏi có những tiêu cực nảy sinh thậm chí
có cả mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh... trong một vài lễ hội.
Những hiện tượng tiêu cực này xảy ra và tồn tại trong một thời gian
khá dài ở lễ hội Chùa Hương. Một lễ hội lớn và kéo dài nhất đất
nước nhiều lúc tưởng lâm vào ngõ cụt, bế tắc không lối giải quyết,
nhưng với bản thân sự vận động của các sự vật trong cuộc sống theo
triết học phương Đông bao giờ cũng có thể tự chỉnh và các cơ quan
quản lý văn hoá đã và đang đưa những hành động ấy đi vào định
hướng đi đúng đắn cho phù hợp với đường lối của Đảng, Nhà nước
trong sự giữ gìn và phát huy bản sắc truyền thống văn hoá lễ hội nói
chung và lễ hội Chùa Hương nói riêng, vai trò của truyền thông đại
chúng và đặc biệt là báo chí giữ một vị trí quan trọng và đạt được
hiệu quả cao; từng bước trả lại “thiêng” cho lễ hội Chùa Hương sau
nhiều năm gây bức xúc trong dư luận.
2
NỘI DƯNG, MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA
CỦA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu CỦA ĐỂ TÀI.
Trong bản thân mỗi lễ hội, dù là ở quy mô một thôn một vùng
hay có quy mô cả nước thì ta cũng dễ dàng nhận thấy trong đó
những nhược điểm cần và phải được khắc phục uốn nắn kịp thời.
Không phải tất cả mọi trò diễn mọi nghi lễ của lễ hội cổ truyền là
phù hợp với cuộc sống hiện đại. Những hiện tượng tiêu cực làm
kế thừa, phát huy được vốn văn hoá truyền thống quý giá này, và
mới biến các lễ hội truyền thống đặc biệt là lễ hội Chùa Hương
thành hành trang tinh thần cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Lễ
hội truyền thống giống như chiếc cầu nối để nối đời thường (trần
tục) với thế giới linh thiêng cao cả giúp con người giãi bày tâm tư
nguyện vọng với thần linhvà giao lưu hoà nhập với nhau trong sự
đồng cam cộng khổ”, cùng nhau chia sẻ mọi nỗi niềm... Và ý thức
trở lại cội nguồn, trở lại truyền thống được khơi dậy và trở thành
phong trào tự giác, rộng khắp trong nhân dân. Mặt khác, trong xã
hội ngày càng phát triển như hiện nay, việc nghỉ ngơi, giải trí, đi lại
thăm viếng nhau kết hợp với việc đi trẩy hội, hành hương hay đi du
lịch trong các dịp lễ tết đã và đang trở thành một nhu cầu ích dụng
của nhiều người, mọi giới và mọi lứa tuổi. Trong khi đó, Chùa
Hương không chỉ là nơi “đất Phật” giải quyết nhu cầu tâm linh mà
còn là danh thắng trời Nam do thiên nhiên tạo ra và được bàn tay
khối óc con người xây dựng từ mấy trăm năm nay thì việc gắn lễ hội
với du lịch là việc làm hết sức có giá trị về mặt kinh tế cũng như văn
hoá.
Có thể nói không quá rằng, chưa có một di tích, mùa lễ hội
nào lại được du khách gần xa, các cấp chính quyền các cơ quan bộ,
ngành từ trung ương xuống địa phương dư luận báo chí nói chung
quan tâm, tổ chức hội nghị hội thảo nhiều như di tích Hương Sơn
suốt trong gần 10 năm qua ở nước ta. Nhưng những vấn đề bức xúc ở
4
đây
hết
trái phép ở Chùa Hương là công việc cấp thiết, phải làm nhanh
chóng, không làm là có lỗi với nhân dân, với cả nước”. Các cụ ta
ngày xưa hay nói khó đến như đánh đuổi giặc ngoại xâm chúng ta
còn làm được huống gì những bất cập, bức xúc ở Chùa Hương. Suy
cho đến cùng, không ai nhận lấy phần trách nhiệm quản lý để xảy ra
tình trạng ấy và thời gian cứ trôi qua, nan giải chồng chất nan giải
nghĩ càng thấy lo ngại. Thực tế tỏ rõ tính nghiêm minh của pháp
luật, biện pháp kiên quyết của chính quyền địa phương không được
thực hiện nghiêm túc. Mặt khác, cũng chính sự lúng túng trong khi
giải quyết cũng là nguyên nhân dẫn đến nhức nhối kéo dài ở “Nam
Thiên Đệ Nhất Động”. Việc sửa sai ở Chùa Hương cũng như những
bài học quản lý đắt giá ở đây là bài học xương máu cho ngành văn
hoá nhằm tổ chức tốt, giải quyết tốt các vấn đề đặt ra trong lễ hội
truyền thống của cả nước.
Từ những nhận thức nêu trên, tôi thấy chủ trương đi sâu vào
khái quát và lý luận, không giải thích các khái niệm và các thuật
ngữ cũng như các phạm trù có liên quan tới lễ hội truyền thống mà
chỉ tập trung vào công việc khảo sát thực tế diễn ra lễ hội. Cố gắng
tìm hiểu nắm vững thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống Hương
Sơn trong những năm gần đây ra sao, những gì là thế mạnh cần được
tu bổ bảo tồn và khai thác có hiệu quả, còn những gì tồn đọng mang
5
loại
trừ.
trở về cội nguồn, có đáp ứng được nhu cầu về đời sống tâm linh,
thoả mãn được nhu cầu giao cảm và cộng cảm của mình hay không;
Để xảy ra những hiện tượng mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh,
huỷ hoại, phá hoại môi trường cảnh quan của Hương Sơn... trách
nhiệm này thuộc về ai?... Vì sao mà phải cần đến tận gần 10 năm
trời đấu tranh không khoan nhượng của giới truyền thông nói riêng
và quảng đại quần chúng cụm di tích Hương Sơn mới “thay máu”
mới sang một trang mới, những bài học rút ra ở đây là gì? Rồi cả
cách ứng xử của con người đương đại, của chính bản thân du khách
đến với chùa Hương ra sao? Đây cũng chỉ là một trong nhiều cách
tiếp cận khác nhau đối với hiện tượng văn hoá phức tạp và đa dạng
này.
Trong quá trình khảo sát thực tế trên báo tôi đã khảo sát 3 tờ:
Báo Nhân Dân, Văn hoá, Báo Hà Tây từ năm 1995 đến 2003 và khảo
sát một loạt các báo Văn hoá Thể thao, Tiền Phong, Nhà báo và
Công luận, Thanh tra, Pháp Luật, Sức Khoẻ và môi trường, Công
nghiệp Việt Nam, An ninh Thế giới, An ninh Thủ đô... Trong quý
IV năm 2001 và quý I năm 2002.
Luận văn này tôi chia làm 3 chương:
Chương 1 : Khái quát chung về lễ hội Chùa Hương.
1. Khái niệm lễ hội
2. Giá trị vãn hoá truyền thống của lễ hội Chùa Hương.
2.1.
Lế hội Chùa hương, lễ hội dài nhất nước.
6
2.4.
An ninh trật tự.
7
Kết luận.
Chương 1 : KHÁI NIỆM CHUNG VỂ LỄ HỘI
CHÙA HƯƠNG
1. Khái niệm lễ hội
Định nghĩa chung về lễ hội, Giáo tư Tiến sĩ Nguyễn Duy Quý
đã có định nghĩa chính xác như sau: “Lễ hội truyền thống là một
sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt: tinh thần và vật chất, tôn giáo
tín ngưỡng và văn hoá nghệ thuật, linh thiêng và đời thường. Đó là
một sinh hoạt có quy mô lớn về tầm vóc, có sức cuốn hút một số
lượng lớn những hoạt động của đời sống xã hội, lễ hội truyền thống
chứa đựng trong nó nhiều vấn đề khao học hấp dẫn (trích bài phát
biểu khai mạc hội thảo “lễ hội truyền thống trong đời sống hiện đại”
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội).
Lễ hội là một từ kép gồm Lễ và Hội nhưng người ta ít chú ý
đến 2 phạm trù lễ và hội. Không những trong tiếng Trung Quốc mà
trong tiếng Pháp, tiếng Anh phạm trù này cũng tách bạch rõ ràng,
rite và fête, lite và íestival. Ớ đây, chúng tôi không đi sâu vào ngôn
ngữ học chí thử tìm hiểu nội hàm và mối tương quan của hai phạm
trù đó. Lễ và Hội đều có đặc trưng chung: sinh hoạt tinh thần tập thể
của cộng đồng người. Chúng khác biệt nhau ở một hàm thể hiện chủ
yếu trong mối quan hệ với tín ngưỡng, tôn giáo.
ra
thế
giới
biểu
hiện thành văn học mà tôn giáo là một thành tố.
Hội là đời thường, diễn ra bên ngoài thần điện hay mở rộng
đến toàn bộ lãnh thổ cộng đồng đến từng gia đình diễn ra trong thời
gian lễ sau đó. Hội mang hai tính chất chúc mừng thần linh và
hưởng thụ ân huệ. Thần ban ca múa đánh đu, chọi gà, đấu vật, ăn
uống tiệc tùng vui chơi thoải mái. Lễ và hội đã kết hợp thành lễ hội
thì người lễ và hội có mối quan hệ nhất định. Hội cơ bản là đời, lễ
cơ bản là thiêng. Một số yếu tố hội được phục vụ cho thần linh như
ca, múa, diễn xướng, diễn tịch... nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ
của hội, hơn nữa là để lễ hoá.
Không chỉ diễn đạt mối quan hệ thần/người mà phải dựa vào
quan hệ người/người. Đó chính là nội dung thứ ba cấu thành tôn
giáo; luân lý. Một phần luân lý tôn giáo giới luật biểu thị trật xã hội,
quan hệ giữa người với người. Cấm xâm phạm tài sản tư hữu, cấm
uống rượu say sưa náo loạn trật tự, khuyến thiện. Cấm kỵ cũng thuộc
phạm trù giới luật nhưng cực kỳ phức tạp không phải lúc nào cũng
minh giải được nhưng cốt lõi là nhằm bảo vệ trật tự nào đó mà vi
phạm sẽ làm rối loạn cơ chế phàm hay thiêng, hưng loại trật tự dẫn
đến tai hoạ dưới dạng trưng phạt của thần. Lễ cưỡng chế đời thường
phải theo một trật tự nào đó. Lễ là một loại pháp luật trong khổng
giáo. Các quan hệ quân - thần đều là lễ là luật nên nho giáo phản đối
việc ban hành luật pháp của pháp gia. Lễ - nhạc - vũ được khổng
Nói tóm lại, lễ từ một quan hệ xã hội được thiêng hoá rồi quay
trở lại xã hội. Trong lễ hội thì lễ mang tính thiêng còn hội là một
hành động xã hội không gắn bó hay có gắn bó với tôn giáo. Trong
một lễ hội cần phân biệt lễ và hội nhưng cũng không nên đối lập
hoàn toàn lễ với Hội nhưng càng không nên đồng nhất. Sự phân tích
đó dẫn đường cho việc xử lý lễ hội đang phát triển mạnh 0 nước ta
hiện nay. Phần lễ hội nói chung mang tính cố định bất biên nhưng
phần hội cực kỳ sinh động và phải thích nghi với thời gian huyền
thoại.
Lễ hội không phải là mê tín dị đoan mà là một cách ứng xử
thông minh khôn ngoan của con người đối với những sức mạnh vô
hình hay hữu hình mà họ không lý giải được nhưng muốn khống chế.
Họ phải kinh và sợ. Kinh để cầu xin sự chở che. Sợ để tránh tai hoạ.
Thờ cúng phát triển từ hình thức đơn giản nhất, một bát cơm một
quả trứng (hoặc một gốc cây một bát hương) đến lễ hội phong phú
đền đài nguy nga... Phong phú cả vật chất lẫn tinh thần, lễ hội trở
thành một hiện tượng văn hoá tổng hợp thảo mãn nhu cầu tâm linh,
tâm lý, vật chất của con người. Trong lễ hội không những con người
hiến dâng để cầu xin tốt lành cho tương lai mà còn hưởng thụ vật
chất và tinh thần thoải mái trong hiện thực. Tính chất tái tạo lễ hội
là như thế. Lễ hội là một hành động văn hoá xã hội không thể thiếu
của con người, mọi thời đại, mọi dân tộc, con người xã hội hình
thành và phát triển chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của lễ hội mà họ
sáng tạo ra.
2. Giá trị văn hoá, truyền thông của lễ hội Chùa Hương.
2.1. Hội Chùa Hương - lễ hội dài nhất nước
Hùng
10/3
(Phú Thọ) lễ hội Chùa Thầy 7/3 (Quốc Oai - Hà Tây),
hội chùa Keo (Thái Bình) thì dài cũng chí từ 3 - 5 ngày.
2.2. Quần thể Hưong Sơn - một kỳ quan của đất nước.
lễ
Trước hết, phải ghi nhận Chùa Hương là một danh thắng nổi
tiếng. Tạo hoá khéo bày đặt ở vùng này những dãy núi đá gồ ghề bên
cạnh sự mềm mại của các dòng suối màu sắc xám đanh, già dặn, dãi
dầu của đá bên màu xanh non tơ của cỏ cây. Quần thể núi non tạo ra
những hình dáng kỳ thú. Dáng núi tựa hai con rồng đá tranh hòn
ngọc ốc ở cánh đồng Đục Khê. Núi nổi trên cánh đồng nước ở gần
đền Trình tạo thành hình bốn con vật linh thiêng trong tâm thức
người Việt. Lại có núi ông Sư bà Vãi núi mâm xôi núi con gà...
Tuyến Tuyết Sơn có dãy núi như chiếc thuyền rông, như đầu sư tử...
Sự hấp dẫn của Hương Sơn không chỉ là bề ngoài còn ở bên
trong. Đó là vẻ đẹp sâu lắng, giàu triết lý dân gian của các hang
động. Du khách tới Chùa Hương có cái thú ngồi thuyền chiêm
ngưỡng bầu trời, cảnh bụt, khoái cảm nhìn sông ngắm núi như thấy
một góc của non sông đất nước vừa thơ vừa thực thu gọn trong tầm
mắt và cũng ảo huyền như lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh. Sau đấy là
thú vui trên núi “Thật dân dã trong tay cây gậy bụi cứ theo con
đường núi lấm tấm hoa dại lây lan thơm gợi mùi hoài cổ, lạ lẫm một
dãy cây, thoảng nghe tiếng chim rừng, uống một bát chè lão mai, ăn
một quả mơ đặc sản của Hương Sơn thật ngỡ như mình đang thoát
nhiều lớp núi cao, trong núi có động rất đẹp. Trong động có nhũ đá
như xương, trùng trập hiện ra coi như vảy rồng. Trên ngọn núi có
tượng phật bằng đá lại có những cây thông mọc từng hàng, coi như
một dãy tán. Cảnh trí xanh tốt âm u”. Nói như thứ trưởng Bộ Văn
hoá Thông tin Phan Khắc Hải “Hang động là một lời thổn thức của
thế giới vô tri đối với con người với vẻ đẹp thuần khiết, trong trắng
cùng ý thức” thổi hồn vào đó của tổ tiên ta, hang động để mang tính
người làm cho tâm ta tĩnh lại để suy ngẫm, để gạt đi những dày vò
14
của
tĩnh
vị kỉ mà vượt lên trên chính mình đặng yên hơn đất này
vững vàng hơn trên con đường hướng tới tương lai tươi sáng”. Động
ở Hương Sơn cũng là như thế. Bởi vậy không phải ngẫu nhiên các
bậc thánh thơ của nhiều thời đại đã tìm đến Hương Sơn và để lại
nhiều bài thơ hay, lắng sâu trong trái tim bạn đọc sống mãi với thời
gian gép tiếng nói đưa Hương Sơn trở thành danh thắng không của
một vùng mà của cả đất nước.
2.3. Trong tâm thức của người Việt, Hương sơn là cõi Phật.
Nếu chỉ là cảnh đẹp không thôi, thiếu bàn tay con người tạo
dựng và biết tới thì ý nghĩa của cảnh đẹp ấy cũng có phần hạn chế.
Tìm ra động Hương Tích, dựng thảo am Thiên Trù là kế tiếp 3 vị hoà
thượng thời vua Lê Thánh tông (1442 - 1497). Sau đó là vào cuối
thế kỷ XVII thời Lê Trung Hưng, Chùa Thựơng Tiền Đạo viên
Quang Chân nhân đã chấn hưng cõi Phật Hương Sơn. Cho đến đầu
thế kỷ XX toàn khu thắng cảnh Hương Sơn đã mọc dậy trên 100 nóc
chúng.
Đạo Phật đã ngấm vào lòng người, khẳng định vị trí ở Hương
Sơn mà hệ quả là được triển khai trong một không gian ba tuyến với
hệ thống chùa chiến, tượng đài có nhà sư trụ trì làm công việc
truyền đạo và hành lễ dẫn đến các sinh hoạt mang đậm phong cách
phật. Người Việt phần nhiều theo đạo Phật thì việc hàng năm đông
người đi hội cũng là điều dễ hiểu, tạo nên sắc thái một mùa hội chùa
ở đất Hương Sơn ngoài ra nơi đây còn dung nạp nhiều yếu tố tín
ngưỡng đáp ứng long mong mỏi của cư dân Việt như tín ngưỡng tam
phủ thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực cầu mong sự sinh sôi nảy nở ước
muốn cuộc sống đủ đầy...
2.4. Đi hội Chùa Hương chiêm ngưỡng những di sản văn
ho ả đặc sắc.
Hương sơn không chỉ hấp dẫn du khách bằng vẻ đẹp thiên tạo,
nơi đây còn giữ lại dấu tích văn háo của nhiều giai đoạn lịch sử. Đó
là những sản phẩm vô giá kết tinh tài năng trí tuệ, tâm tư tình cảm
của nhân dân lao động, phản ánh tư tưởng của các thời đại. Không
kể những tầng văn hoá của người nguyên thuỷ phát hiện ở hang Sũng
Sàm (tuyến Long Vân) có niên đại trên một vạn năm mang truyền
16
thống đá cuội gạch nối văn hoá Hoà Bình và văn hoá Bắc Sơn thì cổ
vật ghi liên đại sớm nhất ở Hương Sơn là quả chuông đồng có tên
“Bảo đại Hương Tích Sơn hồng chuông”, chuông cao lm24, đường
kính đáy 0,63m, thân chuông có 4 vú lồi chia ra ở bốn góc, hai góc
đối xứng, mỗi góc hai vú, xung quanh mỗi vú là những chấm tròn
tạo nên sự khác biệt so với chuông cùng thời. Niên dậi chính xác ghi
gian nhiều chiều với hình khối của những mảng màu gây ấn tượng
của nghệ thuật hiện đại. Lễ hội Chùa Hương rộng cửa đón nhận mọi
tầng lớp xã hội không phân biệt dân tộc, đẳng cấp, tôn giáo, tuổi tác,
nam hay nữ... Đến với Chùa Hương là tham dự vào cuộc tiếp xúc kỳ
diệu giữa con người với vẻ đẹp lung linh của sông nước, bao la của
đất trời, sâu lắng của núi rừng, huyền bí của hang động, ngời sáng
của toà tháp và cái đẹp biến đổi không ngừng của mùa xuân cây cỏ.
3. Một sô chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về lễ
hội.
Lễ hội trên đất nước ta rất phong phú và đa dạng nhiều nhất
vào mùa xuân. Con người tạm gác lại những lo toan của cuộc sống
đời thường để hoà mình vào không khí lễ hội, tổ chức tốt các lễ hội
truyền thống lịch sử, giữ gìn các giá trị văn hoá của mỗi vung miền,
dân tộc; kết hợp các hoạt động văn hoá phù hợp, tạo điều kiện để
nhân dân được tham gia và sáng tạo trong lễ hội, đồng thời giữ được
nội dung, ý nghĩa và tính khoa học của lễ hội, tránh lợi dụng lễ hội
để trục lợi cá nhân, coi lễ hội là dịp để làm ăn... là những vấn đề
luôn được toàn xã hội, các cơ quan chức năng liên quan, quan tâm
chỉ đạo. Lễ hội là một sinh hoạt văn hoá cộng đồng có tính phổ biến
trong đời sống xã hội, có sức lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân
dân tham gia. Lỗ hội chứa đựng những mong ước thiết tha vừa thánh
thiện vừa đời thường, vừa thiêng liêng vừa thế tục của bao thế hệ con
người.
Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã chỉ
rõ: “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là
mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Mọi
còn
có các lễ hội có quy mô một vùng hoặc toàn quốc kéo dài nhiều
ngày, có tới hàng chục vạn, hay triệu người cả trong nước, lẫn ngoài
nước tham gia như lễ hội giỗ tổ Hùng Vưong, lễ hội Núi Sam (thị xã
Châu Đốc tỉnh An Giang), lễ hội Phủ Dày (huyện Vụ Bản, Nam
Định), lễ hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương), lễ hội núi Bà Đen (tỉnh Tây
Ninh), đặc biệt phải kể tới lễ hội Chùa Hương (tỉnh Hà Tây). Sự
phong phú đa dạng giá trị nhân văn sâu sắc. Khiến công tác quản lý
lễ hội phải làm thật tốt. Trong những năm gần đây công tác quản lý
nhà nước về văn hoá trong đó có lễ hội được quan tâm hơn trước.
Thực hiện chỉ thị 27-CT/TƯ của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung
ương khoá VIII và chỉ tghị 14/1998/CT-TTg của Tủ tướng Chính phủ
về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới việc tang và lễ
hội ngày 23.8.2001 Bộ Văn hoá thông tin đã ban hành quy chế tổ
chức lễ hội kèm theo quyết định 39/2001/ỌĐ-BVHTT của Bộ trưởng
Bộ Văn hoá Thông tin ngày 29.6.2001. Quốc Hội khoá X đã thông
qua luật di sản văn hoá, đặt cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn và phát
huy các di sản văn hoá, trong đó có các lễ hội. Ngày 26.6.2002.
Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 31/2001/NĐ-CP quy định xử
phạt hành chính trong lĩnh vực văn hoá - thông tin. Đối với lễ hội
Chùa Hương đã có rất nhiều các văn bản, quyết định của Bộ Văn hoá
thông tin, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây một trong những văn bản đó
có thông báo 68/TB/UB-IX về việc tăng cường quản lý thắng cảnh và
tổ chức lễ hội Chùa Hương. Việc giải toả 42 điểm xây dựng trái
phép ở Hương Sơn từng làm nhức nhối dư luận không chỉ có tác
dụng trả lại cho di tích bộ mặt như nó vốn có mà còn khẳng định
hiệu lực của công tác quản lý nhà nước về lễ hội.
muốn
được
giải toả và tự thể hiện mình trong các hoạt động lễ hội,
vui chơi, giao tiếp. Lễ hội thể hiện thái độ tình cảm ứng xử của con
người trần thế với các nhân vật thiêng mà họ tin tưởng thờ phụng là
nhân tố góp phần làm cân bằng đời sống tinh thần, tâm linh của con
người cả trong lúc bất hạnh, âu lo cả trong lúc hạnh phúc sung
sướng. Chúng ta cũng biết rằng rằng niềm tin ấy chữa đựng đầy yếu
tố xúc cảm có cả những yếu tố tưởng tượng, phi lý nên dễ dẫn tới mê
tín dị đoan như bói toán, rút thẻ... Trong lễ hội có cả yếu tố tích
cực, lẫn tiêu cực, đan quyện vào nhau đến mức khó chia tách.
Báo chí khi phản ánh hiện thực lễ hội cần có cái nhìn nhận đầy
đu giá trị và bản chất của lễ hội. Người làm báo nhận thức lễ hội
trên lập trường, thế giới quan khoa học duy vật; nhìn nhận về tín
ngưỡng cần phải hiểu đầy đủ cả nguyên nhân nhận thức và nguyên
nhân xã hội. Xử lý các vấn đề của lễ hội trong đó xử lý các vấn đề
về tín ngưỡng là hết sức khó khăn phức tạp. Xử lý vấn đề Sư giả,
Chùa giả, Động giả ở Chùa Hương, nhìn qua hiện tượng bên ngoài
dường như đó chỉ là vấn đề vi phạm di tích lịch sử - văn hoá, phá vỡ
cảnh quan của di tích nhưng báo chí hiểu không chí có thế mà nó
còn là vấn đề tín ngưỡng, một vấn đề hết sức tế nhị và phức tạp.
Báo chí tham gia quản lý lễ hội bằng một tư duy đúng đắn, phù
hợp với bản chất của lễ hội. Đã có một thời do đơn giản ấu trĩ,
không ít người nghĩ rằng có thể dùng mệnh lệnh, dùng các biện pháp
hành chính là có thể nhanh chóng loại bỏ được những tàn dư lạc hậu,
những tàn tích của quá khứ. Thực tế lễ hội cho thấy tín ngưỡng lễ
xin, hành khất... các hoạt động dịch vụ đi lại ăn nghỉ cho khách
hành hương được đưa vào nề nếp hơn trước. Nhiều lễ hội trở thành
điểm sáng du lịch văn hoá, phát huy các giá trị văn hoá của di tích,
danh thắng. Nhiều sinh hoạt văn hoá ở làng quê được khôi phục biến
lễ hội trở thành ngày hội văn hoá ở địa phương. Rõ ràng, vai trò của
báo chí trong việc gạn lọc, gìn giữ cái hay cái đẹp của lễ hội truyền
thống ngày càng được nảy lên. Cũng như việc quảng bá lễ hội cổ
truyền của dân tộc tới bạn bè quốc tế qua đó người ta hiểu hơn về
23
đất
nước
và con người Việt Nam. Báo chí đã góp phần không nhỏ
vào việc nâng cao kiến thức mọi mặt cho nhân dân, bảo tồn và phát
huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu văn
hoá nhân loại, bồi dưỡng tâm hồn tình cảm cao đẹp của con người
Việt Nam thực hiện vai trò vừa là tiếng nói của Đảng của Nhà nước,
các đoàn thể vừa là diễn đàn của nhân dân.
2. Lễ hội Chùa Hương được phản ánh trên báo chí.
“Bầu trời cảnh Bụt
Thú Hương Sơn ao ước bây lâu nay...”
Hương Sơn mà dân gian cứ gọi nôm na là Chùa Hương từ lâu
đã là một trung tâm Phật giáo Việt Nam, một “Đại danh lam” sớm
nhất là từ thế kỷ XV (Lê Thánh Tông 1460 - 1497) muộn nhất là thế
kỷ XVIII (lê Huy Tông Chính Hoà thứ 7, 1686), Trịnh Sâm - Canh
chống tiêu cực ở Chùa Hương cũng như lên tiếng nhằm bảo tồn khu
di tích thắng cảnh này, báo chí đã tham gia kiên nhẫn không mệt
mỏi góp phần to lớn và có phần quyết định tới thắng lợi của công
cuộc chống tiêu cực ở đây.
2.1. Báo chí bảo vệ thuần phong mỹ tục, tín ngưỡng lành
mạch tự do tôn giáo trong lễ hội Chùa Hưong.
Hương Sơn là cả một tổng thể tôn giáo - văn hoá cổ tuyền từ
tín ngưỡng dân gian: thờ sơn thần Hoàng Hổ ở đền Trình, tín ngưỡng
phồn thực cầu tự (cầu con - cô, cậu), tín ngưỡng nông nghiệp đụn
gạo, cối giã, chuồng lợn, ao bèo, nong tằm, né kén... trong động
Hương Tích, tín ngưỡng thờ mẫu (hay Bà Hội Xá, núi Bà Lồ trước
núi Chùa Hương, mẫu thượng ngàn ở đền Trấn Song - cửa Võng...)
kể cả đền Mẫu ở chùa Trò cho đến Sự tích bà Chúa Ba... đến nho,
đạo (đình, đền)... đều được tích hợp và hội nhập vào phật giáo dân
gian Việt Nam. Có một quần thế Hương Sơn - thục tại mà cũng có
một, nhiều Hương Sơn trong tâm thức, tâm trí, tâm tưởng của con
người Việt Nam, từ Bắc tới Nam và cả nhiều người nước ngoài. Bản
chất của cõi Phật là một miền tĩnh thổ, tịnh độ. Song Phật giáo Việt
Nam nói chung, vì cõi Phật Hương Sơn nói riêng vẫn luôn luôn
25