Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của cơ chế thị trường, là động lực
thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Đối với mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo sức
ép hoặc kích ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất nhằm nâng cao
năng suất lao động. Các doanh nghiệp (DN) muốn tồn tại trong thị trường phải luôn
vận động biến đổi để tạo cho mình một vị trí và chiếm lĩnh những thị phần nhất
định. Sự cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường, đòi hỏi họ phải xây dựng
cho mình một chiến lược cạnh tranh có hiệu quả và bền vững. Các doanh nghiệp
Việt Nam (DNVN) hiện nay, ngoài việc cạnh tranh với nhau còn phải chịu sự cạnh
tranh của các công ty, tập đoàn nước ngoài có tiềm lực kinh tế mạnh. Vì vậy vấn đề
cạnh tranh không phải là một vấn đề mới, nhưng nó luôn là vấn đề mang tính thời
sự, cạnh tranh khiến thương trường ngày càng trở lên nóng bỏng.
Bất cứ DN nào, ngành nào đã tồn tại trong nền kinh tế thị trường đều chịu
ảnh hưởng của sự cạnh tranh. Cạnh tranh giúp cho các DN, các ngành không ngừng
hoàn thiện mình và đào thải những doanh nghiệp yếu kém, kinh doanh không hiệu
quả từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường
Công ty Cổ phần sản xuất, thương mại và dịch vụ Phạm Nguyễn được thành
lập từ năm 1997 theo qui định 439/QĐ – UB của UBND thành phố Hà Nội . Trải
qua hơn mười năm xây dựng, hình thành và phát triển, vượt qua nhiều gian nan vất
vả. Công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể. Cùng với sự phát triển của đất
nước, Công ty Cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ Phạm Nguyễn đang dần
hoàn thiện mình và cố gắng nâng cao hình ảnh của mình. Những năm gần đây thị
trường của công ty có những bước phát triển đáng kể và không ngừng được mở
rộng, sản phẩm của công ty dần trở lên quen thuộc hơn với người tiêu dùng.
Bên cạnh những mặt tích cực trên, công ty vẫn còn những tồn tại, hạn chế
trong năng lực và chịu sự cạnh tranh gay gắt của những doanh nghiệp trong ngành.
Công ty Cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ Phạm Nguyễn chưa biết cách khai
- Thời gian: bắt đầu nghiên cứu từ năm 2008 – 2010, đề xuất giải pháp quản lý đến
năm 2015
- Nội dung nghiên cứu : Chuyên đề tập trung nghiên cứu các vần đề liên quan đến
lý luận, thực tế về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của Công ty Cổ phần sản xuất
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
2
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
thương mại và dịch vụ Phạm Nguyễn và các giải phám nâng cao năng lực cạnh
tranh của công ty trên thị trường nội địa của công ty trong thời gian tới
1.5. Một số khái niệm và phân định nội dung năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
1.5.1.khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của công ty
Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế xã hội. Hoạt động
sản xuất kinh doanh là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, do đó ý thức
vươn lên không đơn thuần là mong muốn đạt được một mục tiêu nào đó mà còn là
tham vọng trở thành người đứng đầu.Trong giai đoạn hịên nay, yếu tố được coi là
khắc nghiệt nhất là cạnh tranh. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp hiện nay
đầy biến động và cạnh tranh hiện nay là cuộc đấu gay gắt, quết liệt giữa các chủ thể
kinh tế tham gia vào thị trường nhằm giành giật nhiều lợi ích kinh tế hơn về mình.
Theo lý thuyết tổ chức doanh nghiệp công nghiệp thì một doanh nghiệp được
coi là có sức cạnh tranh và đánh giá nó có thể đứng vững cùng với những nhà sản
xuất khác, với các sản phẩm thay thế… Một định nghĩa khác về cạnh tranh như sau:
“ Cạnh tranh có thể định nghĩa như là một khả năng nhằm đáp ứng và chống lại các
đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và có lợi
nhuận”.
Thực chất cạnh tranh là sự tranh giành lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia
vào thị trường với tham vọng “mua rẻ - bán đắt”. Cạnh tranh là một phương thức
vận động của thị trường và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan
trọng nhất chi phối sự hoạt động của thị trường.
Vậy có thể rút ra khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh của doanh
cho người tiêu dùng khi nhắc đến sản phẩm cùng loại là nghĩ ngay đến sản phẩm
của doanh nghiệp.
Như vậy: “NLCT của DN là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên
trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng
để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với
các đối thủ cạnh tranh trên thị trường”
1.5.2. Các công cụ cạnh tranh phổ biến
a. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Đây là một công cụ cạnh tranh của các DN trong nền kinh tế thị trường.
Người tiêu dùng thường quan tâm đến chất lượng khi lựa chọn một sản phẩm nào
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
4
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
đó, họ sẵn sàng trả giá cao hơn để có một sản phẩm chất lượng tốt hơn. Tùy theo
từng sản phẩm khác nhau với các đặc điểm khác nhau để ta lựa chọn chỉ tiêu phản
ánh chất lượng sản phẩm khác nhau. Càng tạo ra nhiều lợi thế cho chỉ tiêu này thì
sản phẩm càng có cơ hội giành thắng lợi trên thị trường.
b. Cạnh tranh bằng giá
Giá cả là biểu hiện bằng tiền giá trị hàng hóa. Giá cả của một sản phẩm trên
thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung cầu. Người bán và người mua
thỏa thuận, mặc cả với nhau để đi đến mức giá cuối cùng đảm bảo hai bên cùng có
lợi. Đây là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh thường được sử dụng trong giai
đoạn đầu của DN khi DN bước vào một thị trường mới.
c. Cạng tranh bằng hệ thống kênh phân phối
Hệ thống kênh phân phối là cách thức mà DN cung ứng sản phẩm cho khách
hàng. Việc thiết lập kênh phân phối một mặt ảnh hưởng đến chi phí của DN, một
mặt ảnh hưởng đến độ bao phủ thị trường hay có sự có mặt của sản phẩm trên các
thị trường khác nhau.
Có các hình thức phân phối: Phân phối độc quyền, phân phối chọn lọc, phân phối ồ
ạt.
đòi hỏi các DN phải đánh giá được thị trường, đối thủ cạnh tranh, đánh giá tiềm lực
của chính mình từ đó có thể đưa ra những cống hiến tốt nhất cho khách hàng của
mình, đối phó với tình hình cạnh tranh trên thị trường và đạt được mục tiêu đề ra.
1.5.3. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
a. Doanh số bán và thị phần của doanh nghiệp
* Doanh số bán:
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá NLCT của doanh nghiệp. Doanh số
bán lớn đảm bảo có doanh thu để trang trải các chi phí đã bỏ ra, mặt khác thu được
một phần lợi nhuận và có tích lũy để tái mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh số bán càng lớn thì tốc độ chu chuyển hàng hóa và vốn càng nhanh, đẩy
nhanh quá trình tái sản xuất của DN. Đồng thời nó phản ánh quy mô sản xuất kinh
doanh của DN được mở rộng hay thu hẹp lại.
* Thị phần:
Đây là chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá NLCT của DN, là tỷ lệ thị trường mà
DN chiếm lĩnh, nói lên sức mạnh của DN trên thị trường. Thị phần càng lớn thể
hiện sức cạnh tranh của DN càng mạnh. Khi xem xét thị phần người ta thường đề
cập đến các loại thị phần sau:
- Thị phần tuyệt đối: Là phần trăm kết quả tiêu thụ sản phẩm của DN so
với kết quả tiêu thụ sản phẩm cùng loại của tất cả các doanh nghiệp khác
bán trên cùng một thị trường.
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
- thị phần tương đối: là tỷ lệ giữa phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối của doanh
nghiệp so với phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
trong ngành.
b. Chi phí và tỷ suất chi phí
* Chi phí: Là tất cả những khoản tiền mà DN phải bỏ ra để phục vụ cho việc sản
xuất kinh doanh của mình như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp,
chi phí sản xuất chung, chi phí mua, chi phí quản lý, chi phí phân phối, chi phí bán
nguồn lực của DN cũng như của nền kinh tế hiệu quả hơn.
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản
xuất kinh doanh. Nó thể hiện đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của
DN, phản ánh kết quả của việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao
động, vật tư, tài sản cố định…
* Tỷ suất lợi nhuận:
Tỷ suất LN theo DT là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa LN sau thuế so
với DT tiêu thụ của DN. Đây là một chỉ tiêu quan trọng, nó không chỉ phản ánh
NLCT của DN mà còn thể hiện trình độ năng lực cán bộ quản trị cũng như chất
lượng lao động của DN.
Nếu tỷ suất LN thấp chứng tỏ mức độ cạnh tranh gay gắt, ngược lại tỷ suất
LN cao chứng tỏ mức độ cạnh tranh trong ngành không cao hoặc NLCT của DN là
tốt.
d. Năng suất lao động
Năng suất lao động - thể hiện năng lực sản suất của DN, nếu DN có năng
suất lao động cao sẽ tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn nhờ đó có thể hạ giá thành
sản phẩm. Tuy nhiên để có năng suất lao động cao thì DN phải có quy mô sản xuất
và mức sử dụng công suất ít nhất phải gần bằng công xuất thiết kế. Nếu sử dụng
công suất thấp sẽ gây lãng phí và lúc đó chi phí cố định và giá thành sản phẩm cao
làm cho khả năng cạnh tranh của DN giảm.
1.5.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.5.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp
a. Các nhân tố chủ quan
Khả năng tài chính
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
8
Tỷ suất lợi nhuận theo DT=
quá trình đạt tới những mục tiêu chung của DN.
b.Các nhân tố khách quan
* Môi trường vĩ mô gồm:
- Môi trường kinh tế: Các nhân tố kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến DN. Tính ổn
định hay bất ổn định về kinh tế có tác động trực tiếp đến kinh doanh và hiệu quả
kinh doanh của DN. Mức độ ổn định về kinh tế trước hết và chủ yếu là ổn định nền
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát. Sự tăng trưởng hay suy
thoái của nền kinh tế sẽ kéo theo sự tăng, giảm số lượng các DN tham gia thị
trường, các DN tìm mọi cách để giữ chân khách hàng vì vậy mà cạnh tranh trên thị
trường trở nên khốc liệt hơn.
- Môi trường chính trị - pháp luật: Các yếu tố chính trị - pháp luật có ảnh hưởng
ngày càng lớn đến hoạt động của DN. DN phải tuân thủ các quy định về thuế, cho
vay, thuê mướn, quảng cáo, nơi đặt nhà máy, bảo vệ môi trường…Luật pháp rõ
ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi đảm bảo sự bình đẳng cho các DN
tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả, ổn định về chính trị đem lại sự lành
mạnh hóa cho xã hội, tạo hành lang thông thoáng cho sự cạnh tranh giữa các DN.
Nhà nước đưa ra các quy định mang tính pháp lý có thể tạo ra cơ hội và nguy cơ.
- Môi trường tự nhiên văn hóa – xã hội: Tất cả các doanh nghiệp cần phân tích rộng
rãi các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy đến. Khi một
hay nhiều yếu tố thay đổi chúng có thể tác động đến doanh nghiệp như sở thích thị
hiếu, chuẩn mực đạo đức, quan điểm về mức sống, cộng đồng kinh doanh và lao
động nữ…các nhân tố trên tác động gián tiếp đến NLCT của DN thông qua khách
hàng và cơ cấu nhu cầu của thị trường.
- Môi trường khoa học – công nghệ: Ít có ngành hay DN nào mà lại không phụ
thuộc vào điều kiện khoa học công nghệ trong nước và trên thế giới, việc phát triển
khoa học công nghệ với nhiều yếu tố mới tạo ra các cơ hội cũng như nguy cơ đối
với tất cả các ngành và các DN. Công nghệ sản xuất sẽ quyết định đến hai yếu tố cơ
khả năng kinh doanh của DN mình.
- Khách hàng
Khách hàng là một bộ phận không tách rời trong môi trường cạnh tranh. Sự
tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị lớn nhất của DN. Một vấn đề
khác liên quan đến khách hàng là khả năng trả giá của họ. Khách hàng là nhân vật
trung tâm, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đều hướng tới khách hàng
nhằm đáp ứng nhu cầu của họ một cách tốt nhất. Khách hàng là người tạo ra thu
nhập cho DN, có vai trò quan trọng trong việc hình thành các chiến lược kinh doanh
của DN.
1.5.4.2 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thị trường
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất nhanh chóng,
hiện tại dường như chưa bắt đầu, tương lai đã sẵn sàng đối đầu và thách thức chúng
ta. Trước áp lực đó, mỗi DN muốn tồn tại và phát triển cần tìm cho mình một
hướng đi đúng đắn và thích hợp trong dài hạn, đó là nâng cao NLCT của DN trên
nhiều phương diện: chất lượng sản phẩm, giá cả, hệ thống kênh phân phối…
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, môi trường cạnh tranh ngày
càng hoàn chỉnh hơn đã đặt ra cho các DN những cơ hội và thách thức. Doanh
nghiệp nào hiểu biết đối thủ, biết thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu khách
hàng so với đối thủ cạnh tranh, biết giành thế chủ động với người cung cấp các
nguồn hàng và tận dụng được lợi thế canh tranh DN đó sẽ tồn tại. Ngược lại, DN
không có tiềm lực cạnh tranh hoặc không “nuôi dưỡng” tất yếu sẽ thất bại. Vì thế
các DN phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh và sẵn sàng sử dụng các
công cụ cạnh tranh hữu hiệu của mình. Vậy cạnh tranh rất cần thiết đối với sự phát
triển của các DN, điều này thể hiện rõ nhất qua vai trò của cạnh tranh:
- Cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ưu.
- Khuyến khích sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất. Và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố môi trường đến nâng cao NLCT của công ty. Số lượng điều tra là 3 người
gồm: Giám đốc, Trưởng phòng kinh doanh, trưởng phòng nhân sự. Bản chi tiết đính
kèm phụ lục 1.
Với 12 câu hỏi dành cho khách hàng của công ty chủ yếu liên quan đến các
nhận xét và đánh giá của khách hàng về sản phẩm, giá, nguồn lực vật chất ….của
công ty, các yếu tố khiến khách hàng hài lòng hay chưa hài lòng. Thông qua các dữ
liệu thu thập được, công ty có thể khắc phục, hạn chế các mặt yếu, phát huy các mặt
mạnh để hoạt động nâng cao NLCT của công ty đạt hiệu quả cao hơn trong thời
gian tới.
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
Đối tượng điều tra là những khách hàng đã sử dụng sản phẩm của Công ty,
có cả khách hàng thường xuyên và không thường xuyên. Số lượng điều tra là 50
khách hàng tại thị trường thành phố Hà Nội. Bản chi tiết đính kèm phụ lục 1.
◊ Phương pháp phỏng vấn
Câu hỏi phỏng vấn trực tiếp tại công ty là những câu hỏi mở nhằm tìm hiểu
thực trạng NLCT, những ưu và nhược điểm đang tồn tại trong quá trình thực hiện
các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời tìm hiểu về các giải pháp mà
công ty áp dụng trong hoạt động này.
- Phỏng vấn ông Phạm Mạnh Cường– Giám đốc công ty. Thời gian phỏng vấn
8h30 ngày 10-05-2011.
- Phỏng vấn ông Nguyễn Hồng Lợi – Trưởng phòng kinh doanh. Thời gian
phỏng vấn 9h ngày 10-05-2011.
- Phỏng vấn bà Trần Tuyết Nhung – Trưởng phòng nhân sự .Thời gian phỏng
vấn 9h30 ngày 10-05-2011.
b. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Phương pháp này sử dụng để thu thập các dữ liệu như tài liệu giới thiệu công
ty, kết quả hoạt động kinh doanh, các kế hoạch, chính sách trong 3 năm từ 2008
lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ Phạm
Nguyễn
2.2.1 Gới thiệu chung về Công ty Cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ
Phạm Nguyễn
Thông tin chung
- Tên công ty : Công ty Cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ Phạm
Nguyễn
- Địa chỉ: Huỳnh Cung – Tam Hiệp - Thanh Trì – Hà Nội
- Số điện thoại : 04.364.706.15
- Ngành nghề kinh doanh :Đại lý gửi bán các loại: Sữa Elovi, Sữa Izzi, Các
loại kẹo, Bánh của Bibica, Dầu ăn Tường An
a, Quá trình hình thành và pháy triển của công ty.
Công ty Cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ Phạm Nguyễn tiền thân là một
cơ sở kinh doanh nhỏ . Do điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ chuyên môn
của nhân viên còn thấp, dẫn đến sản lượng bán ra trên thị trường còn hạn chế,
không đáp ứng được nhu cầu của thị trường . Trước tình hình đó chủ cơ sở đã mạnh
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
15
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
dạn đầu tư để mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật .Và lấy tên là Công ty Cổ phần sản
xuất thương mại và dịch vụ Phạm Nguyễn từ năm 2002
b, Cơ cấu tô chức bộ máy của Công ty Cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ
Phạm Nguyễn.
Cùng với quá trình phát triển , công ty đã không ngừng hoàn thiện bộ máy tổ chức
quản lý của mình. Có thể nói bộ máy quản lý là đầu não, là nơi đưa ra các quyết
định kinh doanh .
Tại các phòng ban đều có các trưởng , phó phòng phụ trách công tác hoạt động của
phòng ban mình.
Bộ máy quản lý của công ty được thể hiên dưới sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức công ty:
luôn được hoàn thành tốt, sức cạnh tranh của công ty ngày một nâng cao.
Cùng với quá trình phát triển của công ty về quy mô cũng như uy tín trên thị
trường là sự tăng lên về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực trong công ty.
Bảng 2.1 : Số lượng nguồn nhân lực của công ty qua các năm
Năm Tổng số lao động
2008 65
2009 71
2010 80
(Nguồn : Phòng tổ chức hành chính công ty)
Về cơ cấu trình độ của nhân viên năm 2010 như sau: Trên đại học là 3%, đại học
là 30%, cao đẳng trung cấp là 46%, còn lại là 21% là phổ thông. Hầu hết lực lượng
lao động này có độ tuổi trung bình rất trẻ chưa đến 30. Đây cũng chính là một thế
mạnh cấu thành năng lực cạnh tranh của công ty vì với độ ngũ lao động trẻ, nhiệt
tình, năng động trong công việc góp phần không nhỏ cho sự thành công như ngày
hôm nay cho Phạm Nguyễn. Tuy nhiên với kinh nghiệm còn hạn chế của đội ngũ
nhân viên trẻ này cũng là một hạn chế của công ty.
* Bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý của doanh nghiệp có vai trò lớn trong việc chiến thắng đối thủ
cạnh tranh trên thị trường. Đây cũng là một trăn trở của vị Giám Đốc công ty. Ông
Cường luôn cố gắng tìm ra một chiến lược quản trị nhân sự hiệu quả nhằm khai thác
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
17
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
hết được tiềm năng đội ngũ nhân viên của mình nhằm tạo ra khả năng cạnh tranh
hiệu quả cho công ty. Tuy nhiên vì được thành lập chưa lâu, kinh nghiệm quản lý
còn hạn chế nên bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần sản xuất thương mại và dịch
vụ Phạm Nguyễn còn nhiều bất cập chưa phù hợp với ngành nghề kinh doanh và số
lượng công nhân viên trong công ty.
b, Nguồn lực vật chất kỹ thuật
Đơn vị: Triệu đồng
( Nguồn: Phòng tài chính kế toán công ty)
Từ bảng trên ta thấy cùng với sự tăng trưởng về doanh thu, quy mô vốn và tài sản
cũng tăng từ 50375 triệu đồng năm 2008 lên 57095 triệu đồng năm 2009 và 65782
triệu đồng năm 2010.
Về tài sản: Tổng tài sản của doanh nghiệp qua 3 năm có sự gia tăng đáng kể, năm
2009 tăng so với năm 2008 là 6720 triệu đồng tương đương tăng 13,34%, năm 2010
tăng tới 8687 triệu đồng tương ứng tăng 15,21 % so với năm 2009. Trong đó tài sản
lưu động có xu hướng tăng năm 2008 là 29138 triệu đồng đến năm 2009 là 30315
triệu đồng (tăng 1117 triệu tương ứng tăng 4,04%). Và đến năm 2010 là 35150 triệu
đồng (tăng 4835 triệu đồng tương ứng tăng 15,95%).
Về nguồn vốn: Để đáp ứng nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
năm công ty đều đầu tư thêm một khoản lớn vào nguồn vốn. Năm 2009, tổng nguồn
vốn của công ty là 57095 triệu đồng tăng 6720 triệu đồng tương ứng tăng 13,34%
so với năm 2008. Năm 2010 đạt 65782 triệu đồng tăng 8687 triệu đồng tương ứng
tăng 15,21% so với 2009. Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty tăng mạnh trong năm
2010 tăng 15,85% so với 2009 do công ty tăng ốn điều lệ và do lợi nhuận để lại
trong năm.
d, Sản phẩm của công ty
Công ty Cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ Phạm Nguyễn kinh doanh
trên lĩnh vực sản xuất thương mại và dịch vụ , nhưng chủ yếu vẫn là lĩnh vực
thương mại. Lĩnh vực thương mại bao gồm các hoạt động kinh doanh bán buôn bán
lẻ các loại mặt hàng như: đường, sữa, bánh, kẹo, thực phẩm, bia rượu công ty có
quan hệ sản xuất và buôn bán với nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp sản xuất trong cả
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
19
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
nước. Công ty có các chi nhánh trực thuộc ở nhiều tỉnh trong nước. Mặt hàng kinh
doanh của công ty khá đa dạng và phong phú. Do là nhà phân phối hàn hóa chứ
không phải là sản xuất sản phẩm nên công ty không trực tiếp quyết định được chất
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
những công ty có quy mô, có uy tín, không ngừng lớn mạnh và chiếm lĩnh thị
trường nhờ vào giá cả cạnh tranh, chất lượng dịch vụ tốt. Vì vậy để có thể cạnh
tranh được với các đối thủ cạnh tranh ngày một đông về cả số lượng và chất lượng
như hiện nay thì Công ty Cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ Phạm Nguyễn
không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, cố gắng tìm nhiều cơ hội kinh doanh
khác
2.3 Kết quả điều tra trắc nghiệm năng lực cạnh tranh và tổng hợp đánh giá của
các chuyên gia công ty cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ Phạm Nguyễn
.2.3.1. Phân tích kết quả điều tra khách hàng:
Tổng số Phiếu điều tra khách hàng được phát hành cho 50 khách hàng của công ty.
Sau khi tổng hợp Phiếu điều tra khách hàng của Công ty cổ phần sản xuất thương
mại và dịch vụ Phạm Nguyễn , em nhận thấy:
- 100 % khách hàng của công ty là cá nhân. Do vậy, nhu cầu cũng như thói
quen mua sắm của khách hàng rất đa dạng. Điều này khiến cho công ty rất khó cụ
thể hóa các đặc điểm khách hàng để từ đó lựa chọn các phương án kinh doanh phù
hợp với đối tượng khách hàng của mình.
- 80% số phiếu điều tra biết đến sản phẩm của công ty qua người thân, bạn
bè và 20% phiếu điều tra biết qua các kênh khác (báo, các cửa hàng giới thiệu sản
phẩm của công ty, tờ rơi ) Công ty đang khai thác và tìm kiếm khách hàng thông
qua nhiều phương thức khác nhau, nhưng khách hàng chủ yếu biết đến sản phẩm
của công thông qua các mối quan hệ quen biết. Thiết nghĩ công ty nên sớm thành
lập website để cung cấp thêm nhiều thông tin cho khách hàng, gia tăng các kênh
thông tin.
- 50% số phiếu đánh giá chất lượng sản phẩm của công ty ở mức bình thường,cơ
cấu sản phẩm chưa đa dạng, phong phú. 50% đánh giá sản phẩm của công ty có chất
lượng tốt. Để tạo ra lòng tin với khách hàng, công ty cần đồng đều hóa chất lượng
các lô hàng, kiểm tra kỹ lưỡng nguyên vật liệu đầu vào, đảm bảo quy trình sản xuất
phù hợp để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng tốt.
- 50% số phiếu đánh giá rằng mức giá bán của công ty ở mức trung bình,
hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty, tuy rằng mức độ ảnh hưởng là khác
nhau. Một số nhân tố được đánh giá là ảnh hưởng nhiều như: Môi trường công
nghệ, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khả năng tài chính. Các nhân tố ảnh hưởng
ở mức trung bình như nguồn nhân lực , khách hàng. Các nhân tố còn lại như: môi
trường VH – XH, trình độ tổ chức quản lý được đánh giá là ảnh hưởng ít hơn.
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
22
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
- Đa số ý kiến cho rằng công ty sử dụng tiêu chí lợi nhuận và tỷ suất lợi
nhuận để đánh giá NLCT.
- Cả 5 phiếu đánh giá chủng loại hàng hóa ở mức bình thường. Ý kiến này
phù hợp với đánh giá của khách hàng về chủng loại hàng hóa của công ty. Các nhà
quản trị công ty cũng đã rất thẳng thắn khi nhìn nhận về thực tế này. Qua phỏng vấn
:.
Theo ý kiến của ông Phạm Mạnh Cường – Giám đốc công ty cổ phần sản xuất
thương mại và dịch vụ Phạm Nguyễn : Tình hình kinh doanh của công ty tương đối
tốt, công ty đã vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất. Tuy nguồn lực tài chính của
công ty còn hạn chế so với các đối thủ cạnh tranh và với kế hoạch ngày càng mở
rộng của công ty. Nhưng công ty sẽ cố gắng khắc phục để nâng cao năng lực cạnh
tranh cho doanh nghiệp mình. Ông cũng mong muốn nhà nước có chính sách hỗ trợ
doanh nghiệp về vốn, lãi suất, các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp trong nước
nói chung, công ty Phạm Pguyễn nói riêng.
Theo ý kiến của ông Nguyễn Hồng Lợi – Trưởng phòng kinh doanh: Đối thủ
cạnh tranh của công ty Phạm Nguyễn rất nhiều và cạnh tranh ngày càng gay gắt
trên cả 3 thị trường Bắc, Trung, Nam. Ông cũng cho biết thêm việc sử dụng chất
lượng sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ làm công cụ cạnh tranh của công ty khá hiệu quả.
Theo ý kiến của bà Trần Tuyết Nhung – Trưởng phòng nhân sự: Đội ngũ nhân
lực của công ty hiện nay là những người trẻ, năng động, nhiệt tình có trình độ
chuyên môn tuy còn ít kinh nghiệm xong họ đóng góp lớn cho sự phát triển của
công ty.
Tuy nhiên sang năm 2010 tuy doanh thu có tăng ( tăng 2138 triệu) so với năm 2009
nhưng tốc độ tăng không bằng năm 2009.
+ Chi phí hàng năm của công ty ngày càng tăng. Cụ thể chi phí giá vốn hàng bán
Năm 2009 tăng so với 2008 là 1900 triệu tương đương tăng 14,7%. Năm 2010 chi
phí tăng 1700 triệu tương đương tăng 14,8 so với 2009. Chi phí bán hàng năm 2009
tăng 100 triệu tương đương 33,3 % so với năm 2008. Năm 2010 so với năm 2009
tăng 280 triệu tương ứng tăng 70 %. Chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tăng. Năm
2009 so với năm 2008 tăng 24 triệu tương ứng là 37,5% . năm 210 với năm2009
tăng không đáng kể 4 triệu tương ứng là 4,6%.
+ Lợi nhuận trước thuế của công ty năm 2009 tăng so với 2008 là 84 triệu tương
ứng tăng 21,5%. Năm 2010 tăng so với 2009 là 154 triệu tương ứng giảm 32,5 %.
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2009 tăng so với 2008 là 7,9 triệu tương ứng
tăng 6,3%. Năm 2010 tăng 43,1 triệu tương ứng tăng 32,4 % so với 2009.
+ Lợi nhuận sau thuế năm 2009 tăng so với 2008 là 76,1 triệu tương ứng tăng
28,6%. Năm 2010 tăng so với 2009 là 110,9 triệu tương ứng tăng 32,5%.
2.4.2 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty
2.4.2.1 Phân tích NLCT của công ty thông qua nhân tố nội lực
Nguyễn Thị Hồng Ninh Lớp: K5 – HQ1C
24
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh nghiệp
a. Dịch vụ hỗ trợ
Với mục tiêu giữ vững uy tín với khách hàng, phương châm của Công ty phạm
nguyễn là “uy tín chất lượng là mục tiêu hàng đầu, lấy chất lượng để giữ vững lòng
tin”. Cùng với đặc thù về mặt hàng kinh doanh của mình, công ty nhận thấy rằng
không những hàng hóa phải đảm bảo chất lượng mà chất lượng phục vụ đóng vai
trò quan trọng, nó là công cụ cạnh tranh sắc bén của công ty trên con đường loại bỏ
đối thủ cạnh tranh.
Qua điều tra khảo sát thì hầu hết các khách hàng đều đánh giá là dịch vụ hỗ trợ
của Công ty Phạm Nguyễn tương đối tốt trên thị trường. Nếu như với Công ty
TNHH thương mại Phú Thái, Công ty Cổ phần thương mại Huyền Linh, khách