Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Trong bất kỳ một nền kinh tế nào thì mục tiêu của các doanh nghiệp đều là
hướng tới việc tối đa hóa lợi nhuận và ngày càng nâng cao lợi ích kinh tế xã hội. Để
đạt được mục tiêu này, các doanh nghiệp phải thường xuyên đầu tư phát triển các
phương thức kinh doanh, nâng cao năng suất lao động; chất lượng sản phẩm đồng
thời tiết kiệm chi kinh doanh nhằm giảm giá bán sản phẩm. Các doanh nghiệp đã
lấy thu nhập của người lao động là công cụ quản lý để tăng hiệu quả kinh doanh,
đồng thời thu nhập người lao động là động lực kinh tế mạnh mẽ thúc đẩy người lao
động làm việc với chất lượng và hiệu quả ngày càng cao. Mặt khác, đối với doanh
nghiệp thu nhập của người lao động còn là một bộ phận cấu thành của chi phí kinh
doanh, nó luôn được tính toán và quản lý chặt chẽ. Do đó, khi trả lương cho người
lao động phải hợp lý, tiết kiệm, góp phần động viên, thúc đẩy người lao động làm
việc đạt hiệu quả cao nhất.
Đối với người lao động, tiền lương là khoản thu lao mà họ nhận được thông
qua lao động sản xuất, phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động trong xã
hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của họ. Phần đấu nâng
cao thu nhập là mong muốn của mỗi người lao động. Mong muốn này tạo động lực
để người lao động phát triển trình độ và khả năng của mình. Tăng thu nhập cho
người lao động là góp phần cải thiện đời sống cho họ, động viên, thúc đẩy họ làm
việc tích cực.
Về mặt xã hội, thu nhập của người lao động là yếu tố cấu thành nên tổng thu
nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người thể hiện mức sống của toàn xã hội,
thể hiện sự giàu mạnh của một đất nước. Hơn nữa, thu nhập của người lao động ổn
định sẽ là nền tảng để phát triển các lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục, y tế, thể
dục thể thao….Từ đó giúp cho con người phát triển cả về mặt vật chất lẫn tinh thần,
trí tuệ. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thu nhập của người lao động
có một ý nghĩa vô cùng to lớn cả về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội. Dó đó
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
phương pháp nghiên cứu về tình hình thu nhập của người lao động bao gồm các
phương pháp thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
2
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
Mục tiêu thứ hai, thông qua việc phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng
đến thu nhập của người lao động qua các chỉ tiêu giúp đánh giá một cách chính xác
tình hình thu nhập quản lý thu nhập của người lao động trong Công ty Cổ phần
Quốc Tế MBA.
Mục tiêu thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng tình hình thu nhập của người
lao động trong công ty, đưa ra những giải pháp nhằm quản lý và sử dụng có hiệu
quả thu nhập của người lao động mà cụ thể là quỹ tiền lương của Công ty, góp phần
tăng thu nhập cho người lao động song vẫn đảm bảo tiết kiệm chi phí cho Công ty.
1.4. Phạm vi nghiên cứu.
Về mặt nội dung: chuyên đề nghiên cứu thu nhập của người lao động trong đó
đi sâu phân tích yếu tố tiền lương trong thu nhập của người lao động.
Về mặt không gian và thời gian: chuyên đề nghiên cứu thu nhập của người lao
động tại Công ty Cổ phần Quốc Tế MBA trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến
năm 2009.
1.5. Một số vấn đề lý luận cơ bản về Thu Nhập của người lao động.
1.5.1. Những vấn đề lý luận chung về thu nhập của người lao động
1.5.1.1. Khái niệm và vai trò thu nhập của người lao động .
a. Khái niệm thu nhập của người lao động.
Thu nhập của người lao động là tất cả các khoản thu tính bằng tiền mà người
lao động đó nhận được dưới hình thức trả công lao động bao gồm cả tiền lương
(tiền công, tiền thưởng, tiền bồi dưỡng ăn ca, …)
Thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp gồm những khoản sau:
- Tiền lương cơ bản
- Các khoản có tính chất tiền lương: Phụ cấp thường xuyên (phụ cấp trách
nhiệm, phụ cấp độc hại, …)
1.5.1.2. Các chỉ tiêu thống kê thu nhập của người lao động.
a. Tổng thu nhập của người lao động.
Tổng thu nhập của người lao động là toàn bộ thu nhập tính bằng tiền mà người
lao động nhận được trong một thời gian nhất định (tháng, quý, năm). Theo chế độ
báo cáo thống kê hiện nay, thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp thương
mại được báo cáo theo kỳ hạn 6 tháng và năm.
Quỹ tiền lương.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
4
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
Khái niệm: Quỹ tiền lương là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí tiền lương của
doanh nghiệp được sử dụng trong kỳ để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, bao gồm cả
quỹ lương cho lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
Phân loại:
Nếu căn cứ vào hình thức trả lương thì quỹ tiền lương của doanh nghiệp
bao gồm ba loại: Quỹ tiền lương sản phẩm, quỹ tiền lương thời gian và quỹ tiền
lương bổ sung.
- Quỹ tiền lương sản phẩm: là tổng số tiền lương trả cho lao động căn cứ vào
số lượng sản phẩm mà họ tiêu thụ có thể xác định theo ba trường hợp.
Trường hợp 1: Tính theo sản phẩm tiêu thụ, công thức:
Quỹ tiền luơng thực hiện =
Đơn giá tiền
lương
x
Khối lượng sản phẩm
hàng hóa thực hiện
Đơn giá tiền lương được tính cho một đơn vị sản phẩm (hoặc sản phẩm quy
đổi) theo công thức:
Đơn giá tiền lương ==
Tổng mức tiền lương
tiền lương
=
Quỹ tiền lương kế hoạch
Tổng doanh thu kế
hoạch
+
Tổng chi phí kế hoạch(chi phí kế
hoạch chưa có tiền lương)
Trong đó:
Quỹ tiền lương
kế hoạch
=
Tổng lao động định
biên hợp lý
x
Tiền lương bq
theo chế độ
(Kể cả hệ số và mức phụ cấp các loại)
Quỹ tiền lương kế hoạch không bao gồm tiền lương của giám đốc, phó giám
đốc và kế toán trưởng mà được tính theo công thức:
Quỹ tiền lương
theo chế độ
=
Mức lương tối
thiểu
x
Hệ số cấp bậc
bình quân
Nếu căn cứ vào mức độ tham gia của người lao động trong quá trình sản
xuất kinh doanh, quỹ tiền lương của doanh nghiệp được phân thành quỹ tiền lương
thâm niên, phụ cấp khu vực, phụ cấp trách nhiệm …
Trong các loại tổng quỹ lương nói trên ta thấy tổng quỹ lương giờ phản ánh rõ
ràng và chính xác nhất tiền lương trả cho kết quả lao động cuẩ công nhân. Còn tổng
quỹ lương ngày và quỹ lương tháng (quý, năm) phản ánh không chính xác bằng vì
trong đó còn bao gồm các khoản phụ cấp khác.
Cơ cấu của quỹ tiền lương bao gồm: lương chính (lương cơ bản) và lương phụ.
Lương chính lại bao gồm lương trực tiếp và phụ cấp lương, trong đó: lương trực
tiếp là khoản tiền lương trả trực tiếp cho ngươi lao động theo chức vụ, theo sản
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
7
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
phẩm, theo mức khoán hoặc theo thời gian; phụ cấp lương bao gồm các khoản phụ
cấp làm đêm, thêm giờ, trách nhiệm, thâm niên, tiền thưởng năng suất, tiết kiệm, trợ
cấp khu vực …;lương phụ là khoản tiền nhận được từ công tác phí, nhuận bút, nghỉ
phép, đi học …
Chỉ tiêu quỹ tiền lương có thể được tính cho từng doanh nghiệp, từng hoặc toàn
bộ nền kinh tế quốc dân.
Hệ số phụ cấp lương.
+ Khái niệm: Hệ số phụ cấp lương là quan hệ tỷ lệ giữa các loại quỹ lương
hoặc giữa các mức lương bình quan theo thời gian với nhau. Hệ số phụ cấp lương
cho phép nghiên cứu sự bình đẳng theo chiều dọc trong phân phối thu nhập.
+ Các loại hệ số phụ cấp lương:
Hệ số phụ cấp lương giờ =
Quỹ tiền lương giờ
Quỹ tiền lương trực tiếp
Hệ số phụ cấp lương ngày =
Quỹ tiền lương ngày
Quỹ tiền lương giờ
Hệ số phụ cấp lương
tháng (quý, năm)
8
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
c. Thu nhập bình quân
Mức thu nhập bình quân được tính bằng các chỉ tiêu sau:
+ TN bình quân 1 lao động trong kỳ:
TN bình quân 1 lao động
trong kỳ
==
Tổng thu nhập của lao động trong kỳ
Số lao động trong kỳ
+ TN bình quân 1 lao động/ tháng trong năm:
TN bình quân 1 lao
động/tháng trong năm
==
Tổng thu nhập cả năm
Số lao động trong năm
+ TN bình quân 1 ngày công:
TN bình quân 1 ngày công ==
Tổng thu nhập trong kỳ
Số ngày công trong kỳ
Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh thu nhập của người lao động
X =
X
x T
X = X
’
x M
1.5.2. Nội dung nghiên cứu thống kê thu nhập của người lao động
- Phân tích chung về tình hình thu nhập của người lao động trong Công ty Cổ
phần Quốc tế MBA: thông qua việc phân tích các số liệu về tổng thu nhập và thu
Phương pháp phiếu điều tra là phương pháp thu thập dữ liệu thông qua việc sử
dụng các phiếu điều tra khảo sát.
b. Phương pháp phỏng vấn.
Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu thập dữ liệu thông qua việc trao
đổi, phỏng vấn những người có liên quan.
c. Phương pháp quan sát thực tế
Phương pháp quan sát thực tế là phương pháp thu thập dữ liệu thông qua quá
trình trực tiếp quan sát, xem xét, đánh giá, các hoạt động tại đơn vị điều tra khảo
sát.
d. Các phương pháp khác.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thông qua nghiên cứu các tài liệu của công ty.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
như: tivi, đài, báo chí, các trang web, các công trình nghiên cứu trước…
2.1.2. Phương pháp phân tích dữ liệu.
a. Phương pháp số tuyệt đối, số tương đối, số trung bình.
- Số tuyệt đối.
Số tuyệt đối là chỉ tiêu biểu hiện quy mô, khối lượng thực tế của hiện tượng
trong điều kiện lịch sử cụ thể, số tuyệt đối nói lên số đơn vị trong tổng thể hoặc trị
số của một chỉ tiêu thống kê nào đó.
Số tuyệt đối được dùng làm căn cứ để xây dựng kế hoạch và kiểm tra thực hiện
kế hoạch ở các doanh nghiệp, các đơn vị, các tổ chức kinh tế. Số tuyệt đối được
đùng làm căn cứ tính số tương đối, số trung bình vì vậy kết quả của số tuyệt đối sẽ
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
11
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả số tương đối, số trung bình cũng như kết luận về
hiện tượng nghiên cứu.
- Số tương đối.
Số tương đối trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh giữa các mức
độ của hiện tượng kinh tế xã hội, số tương đối nói lên quan hệ tỉ lệ, tốc độ phát
Chỉ số trong thống kê là loại chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa
các mức độ của một hiện tượng kinh tế xã hội.
Chỉ số được dùng để biểu hiện sự biến động của hiện tượng qua thời gian, qua
không gian và trong quá trình thực hiện kế hoạch. Chỉ số là một phương pháp phân
tích tổng hợp dùng để thể hiện vai trò và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến
sự biến động chung của toàn bộ hiện tượng phức tạp.
2.2 Đánh giá tổng quan và ảnh hưởng của nhân tố môi trường tới tình hình thu
nhập của người lao động tại Công ty Cổ phần Quốc Tế MBA
2.2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần Quốc Tế MBA
2.2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần Quốc tế MBA
Tên giao dịch: Công ty cổ phần Quốc tế MBA
Trụ sở chính: số 11 ngõ 51 Lãng Yên – Thanh Lương – Hai Bà Trưng – Hà Nội
Loại hình doanh nghiệp: công ty Cổ phần
Tổng Giám đốc: Nguyễn Xuân Quỳnh
Tel:0422141947 0422606165- Fax: 04.35540635.
Tài khoản ngân hàng: 6517829. tại ngân hàng ACB Hà Nội
Thông tin khác: Thành lập ngày 20/7/2004 theo giấy phép kinh doanh số:
0103046868. Mã số thuế: 0101400318
Trải qua 7 năm hình thành và phát triển, tình hình kinh doanh của Công ty ngày
một phát triển và lớn mạnh hơn. Các mặt hàng kinh doanh của công ty luôn đảm
bảo chất lượng và được mọi khách hàng tin dùng. Công ty đã từng phân phối sản
phẩm của mình cho rất nhiều khách hàng, trong số đó có thể kể đến một số khách
hàng lớn như:Tổng công ty cửa nhựa Eurowindows, Công trình Keangnam,
PrimeWindows, tổng công ty Kính Miền Bắc…
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
13
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
Công ty luôn làm ăn có lãi, thực hiện tốt việc nộp thuế vào ngân sách nhà
nước, đời sống cán bộ công nhân viên trong công ty ngày càng được đảm bảo hơn,
Doanh
Kế
Toán
Bán
Hàng
Kế
Toán
Kho
Kế
Toán
Công
Nợ
Nhân
viên
vận
chuyển
,thi
công
Nhân
Viên
Lễ
Tân,
Văn
Phòng
Nhân
viên
Tuyển
Dụng
Nhân
Sự
cải thiện rất nhiều. Đây là một thuận lợi lớn đối với bản thân công ty nói chung và
với người lao động nói riêng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
15
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
Bên cạnh đó, công tác quản lý thu nhập của người lao động cũng có những
điểm thuận lợi do số lượng lao động trong công ty không lớn nên việc quản lý dễ
dàng hơn, có thể quản lý một cách cụ thể tình hình thu nhập của từng lao động trong
công ty.
Ngoài ra công ty áp dụng hình thức trả lương theo thời gian đối với toàn bộ
nhân viên trong công ty nên công tác quản lý tiền lương đơn giản, thuận tiện hơn so
với việc áp dụng nhiều hình thức trả lương cùng một lúc.
- Khó khăn:
Công tác kế toán, thống kê thu nhập của người lao động trong Công ty chưa
được thực hiện một cách chặt chẽ do vậy ảnh hưởng tới công tác quản lý thu nhập
của người lao động trong Công ty. Cụ thể là các khoản thu nhập khác ngoài lương
của người lao động chưa được kê khai một cách đầy đủ và cụ thể, dẫn đến khó khăn
trong việc tổng hợp thu nhập của người lao động. Công tác thống kê thu nhập tại
doanh nghiệp chưa được quan tâm một cách đúng mức, do vậy dẫn tới tình trạng
thiếu các thông tin liên quan tới tình hình thu nhập của người lao động gây khó
khăn trong việc phân tích, đánh giá tình hình thu nhập của người lao động.
2.2.2.2. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
- Thuận lợi:
Việc thay đổi chính sách của nhà nước về vấn đề tiền lương trong đó có quyết
định nâng mức lương tối thiếu cho người lao động đã ảnh hưởng rất tích cực đến
tình hình thu nhập của người lao động khiến cho thu nhập của hầu hết người lao
động tại công ty đều được nâng lên.
Bên cạnh các chính sách của nhà nước là cuộc cạnh tranh thu hút lao động có
chất lượng cao giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành. Cuộc cạnh tranh này ảnh
hưởng tích cực tới thu nhập của những lao động có trình độ và năng lực cao. Theo
Vai trò nhỏ, không quan trọng 0 0
Không có vài trò gì 0 0
2. Công ty có thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ và thực hiện nộp báo
cáo thống kê định kỳ theo kỳ báo cáo năm.
3. Những nội dung cần phân tích thống kê trong doanh nghiệp bao gồm: doanh
thu, lợi nhuận, chi phí kinh doanh, vốn, lao động, hàng hóa dịch vụ mua vào bán ra,
thu nhập.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
17
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
4. Mức độ quan trọng của các chỉ tiêu nêu trên:
Trong số các chỉ tiêu trên thì chỉ tiêu quan trọng nhất là phân tích thống kê
doanh thu, lợi nhuận, chi phí. Bên cạnh đó việc phân tích thống kê các chỉ tiêu còn
lại cũng rất quan trọng.
5. Hiện nay doanh nghiệp có thực hiện công tác thống kê thu nhập của người
lao động.
6. Những tồn tại trong công tác thống kê, cụ thể trong công tác thống kê thu
nhập của người lao động:
Công tác thống kê trong doanh nghiệp do phòng kế toán đảm nhận nên không
được quan tâm một cách đúng mức vì số lượng nhân viên phòng kế toán có hạn và
số lượng công việc của phòng kế toán là rất lớn
Công tác thống kê thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp còn chưa
được chi tiết do thiếu các tài liệu liên quan đến các khoản thu nhập khác ngoài
lương như các khoản tiền thưởng, trợ cấp,…
7.Tình hình thu nhập của người lao động trong công ty
Mức độ ổn định Số phiếu Tỷ lệ (%)
Rất ổn định 0 0
Tương đối ổn định 4 80
Không ổn định 1 20
8. Đánh giá về mức độ phù hợp giữa thu nhập và năng lực của người lao động.
Phần Quốc Tế MBA
2.4.1. Phân tích chung về tình hình thu nhập của người lao động.
Bảng số 1: phân tích chung về tình hình thu nhập của người lao động
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
So sánh năm
2007 với năm
2008
So sánh năm
2008 với năm
2009
Số
tuyệt
đối
Số
tương
đối(%)
Số
tuyệt
đối
Số
tương
(trđ)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
(trđ)
Tỷ trọng
(%)
Tiền lương cơ bản 843.6 92,5 768.96 93,68 -74.64 1,18
Tiền thưởng 45.6 5 32.4 3,95 -13.2 -1,05
Thu nhập khác 22.8 2,5 19.44 2,37 -3.36 - 0,13
Tổng thu nhập 912 100 820.8 100 -91.2 -
Qua số liệu ở bảng trên ta thấy tiền lương cơ bản vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng thu nhập. Tỷ trọng tiền lương cơ bản trong tổng thu nhập năm 2008 là
92,5%, năm 2009 là 93,68% tăng 1,18% so với năm 2008. Tuy nhiên tiền lương
năm 2009 giảm so với năm 2008 là 74.64 triệu đồng tương ứng tỷ lệ giảm 8.84%
Tiền thưởng năm 2009 cũng giảm so với năm 2008 là 13.2 triệu đồng tương
ứng với tỷ lệ giảm 28.94%, tỷ trọng tiền thường trong tổng thu nhập năm 2009 cũng
giảm 1,05% so với năm 2008.
Thu nhập khác năm 2009 giảm 3.36 triệu đồng so với năm 2008 tương ứng tỷ
lệ giảm 14.74 %. Tỷ trọng thu nhập khác năm 2009 giảm 0,13% so với năm 2008.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
20
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyên nhân của việc thu nhập của người lao động giảm là do trong năm 2009
việc kinh doanh của Công ty gặp nhiều khó khăn, do đó công ty đã cắt bớt các
khoản tiền thưởng và thu nhập khác, ngoài ra cũng cắt giảm tiền lương của người
lao động.
2.4.3. Phân tích thu nhập bình quân.
2.4.3.1. Phân tích biến động thu nhập bình quân.
Bảng số 3: biến động thu nhập bình quân của người lao động.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
21
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
chuộng. Mặt khác, do sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu vào đầu năm 2009 nên
đã ảnh hưởng xấu tới tình hình kinh doanh của Công ty, tình hình kinh doanh không
thuận lợi ít nhiều đã ảnh hưởng tới tình hình thu nhập của người lao động.
2.4.3.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập bình quân.
Bảng số 4: các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập bình quân
Phân tổ
lao động
Tổng thu nhập (trđ)
Số lao động
(người)
TNTB /1 lao động
(trđ/người)
TN năm
2009tính
theo TNTB
năm 2007
)(
10
TX
Năm
2008
(X
0
)
Năm
2009
(X
T
XX
III ×=
'
0
01
01
1
0
1
X
X
X
X
X
X
×=
Trong đó:
0
1
912
48
19
820,8
45,6
18
X
X
= =
) + (
01
X
-
0
X
)
45,6 – 48 = (45,6 – 50,6) + (50,6 – 48)
-2,4 = (-5) + 2,6 (trđ).
Qua kết quả tính toán ở trên ta có nhận xét như sau:
Thu nhập trung bình của lao động năm 2009 giảm so với năm 2008 là 2,4 triệu
đồng hay giảm 5 %. Đó là do ảnh hưởng của 2 nhân tố sau:
+ Do bản thân thu nhập trung bình trên năm của từng bộ phận thay đổi làm cho
thu nhập trung bình giảm 9,8815 % hay giảm 5 triệu đồng
+ Do kết cấu số lượng nhân viên thay đổi làm cho thu nhập trung bình tăng
5,41% hay tăng 2,6 triệu đồng.
Như vậy thu nhập trung bình trên năm của một lao động năm 2009 giảm so với
năm 2008 là do bản thân thu nhập của từng bộ phận lao động trực tiếp và gián tiếp
kinh doanh giảm xuống.
2.4.4. Phân tích tổng thu nhập.
2.4.4.1. Phân tích biến động tổng thu nhập của người lao động.
Bảng số 5: biến động tổng thu nhập của người lao động.
Chỉ tiêu
Năm
Tổng
TN
(trđ)
Lượng tăng (giảm)
tuyệt đối (trđ)
Tốc độ phát triển (%) Tốc độ tăng (giảm) (%)
a. Phân tích biến động tổng thu nhập theo ảnh hưởng của tỷ suất thu nhập và
doanh thu tiêu thụ.
Tỷ suất thu nhập (
'X
) =
Tổng thu nhập của người lao động (
X
)
x 100
Tổng doanh thu (M)
Bảng số 6: biến động tổng thu nhập theo ảnh hưởng của tỷ suất thu nhập
và doanh thu tiêu thụ
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009
Chênh lệch
Số
tuyết đối
Số tương
đối (%)
1. Tổng doanh thu (M) (trđ) 12.525,2 11.815,28 -709,92 94,33
2. Tổng thu nhập (X) (trđ) 912 820,8 -91,2 90
3. Tỷ suất thu nhập (X’) (%) 7,28 6,95 -0,12 98,21
Để loại trừ ảnh hưởng của giá ta sử dụng chỉ tiêu M
01
thay cho M
1
:
p
IMM :
101
=
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
24
Khoa Kế toán – Kiểm toán Chuyên đề tốt nghiệp
Trong đó:
x
I
là chỉ số tổng thu nhập
'x
I
là chỉ số về tỷ suất thu nhập của người lao động
1
'
0
x
X
I
X
=
M
I
là chỉ số doanh thu
0
01
M
M
I
M
=
709,92 triệu đồng so với năm 2008 tương ứng với tỷ lệ giảm 5,67% làm cho tổng
thu nhập giảm 60,19 triệu đồng .
Kết quả cho thấy doanh thu năm 2009 giảm so với năm 2008. Sự suy giảm của
tổng thu nhập năm 2009 so với năm 2008 là do cả hai nhân tố là tỷ suất thu nhập và
doanh thu tiêu thụ nhưng giảm chủ yếu là do doanh thu tiêu thụ giảm xuống. Như
vậy, doanh nghiệp cần nâng cao doanh thu để tăng tổng thu nhập cho người lao
động bằng các biện pháp như tăng năng suất lao động, tăng số lượng và chất lượng
các sản phẩm của Công ty.
b. Phân tích biến động tổng thu nhập do ảnh hưởng của TNBQ và số lao động.
Bảng số 7: biến động tổng thu nhập do ảnh hưởng của TNBQ và số lao động
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hà Lớp K4HK1A
25