GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ XÂY LẮP CÔNG TRÌNH “ NHÀ LÀM VIỆC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG ” TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ HẢI DƯƠNG - Pdf 25

Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ
SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. Đặc điểm của hoạt động xây lắp ảnh hường tới kế toán chi phí sản xuất xây
lắp
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất mang tính công nghiệp nhằm tạo ra
cơ sở vật chất quan trọng cho nền kinh tế quốc dân. Hoạt động xây lắp có những đặc
điểm sau:
- Trong ngành xây lắp, tổ chức chất lượng, kỹ thuật của sản phẩm đã được xác
định cụ thể trong hồ sơ thiết kế kỹ thuât được duyệt. Do vậy doanh nghiệp xây lắp
phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về kỹ thuật, chất lượng công trình.
- Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu
phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian xây dựng để hoàn thành được có giá trị sử
dụng dài.
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện cần thiết cho sản
xuất như các loại xe, máy, thiết bị, nhân công phải di chuyển theo địa điểm đặt công
trình . Mặt khác việc xây dựng còn chịu tác động của địa chất công trình và điều kiện
thời tiết khí hậu của từng địa phương Cho nên công tác quản lý và sử dụng tài sản,
vật tư cho công trình rất phức tạp, đòi hỏi có mức giá cho từng loại công tác xây lắp,
cho từng lãnh thổ.
Trong doanh nghiệp xây lắp cơ chế khoán đang được sử dụng rộng rãi với các
hình thức giao khoán khác nhau như khoán gọn (khoán toàn bộ chi phí) khoán theo
từng khoản mục chi phí, cho nên phải hoàn thành bên giao khoán, bên nhận khoán và
giá thành.
Tổ chức công tác kế toán tài chính trong các doanh nghiệp xây lắp phải tuân thủ
các quy định chung của luật kế toán và chế độ kế toán hiện hành. Kế toán chi phí,
doanh thu và xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp phải đảm bảo yêu
cầu kế toán cơ bản, thực hiện tính toán, ghi chép trung thực, đầy đủ kịp thời chi phí
sản xuất, giá thành sản phẩm, doanh thu bán hàng và xác định kết quả kinh doanh và
hoạt động khác của doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm của ngành xây lắp đồng thời
phù hợp với tinh thần của chuẩn mực số 15 - Hợp đồng xây dựng

và đi khỏi công trường .
+ Chi phí thuê nhà xưởng , máy móc, thiết bị để sản xuất xây lắp
+ Chi phí thiết kế trợ giúp kỹ thuật liên quan trực tiếp đến sản xuất xây lắp
+ Chi phí dự tính để sửa chữa và bảo hành công trình
+ Chi phí liên quan trực tiếp khác
- Chi phí chung liên quan đến hoạt động xây lắp và cần phân bổ cho từng công
trình, hạng mục công trình như: Chi phí bán hàng, Chi phí quản lý chung
- Các chi phí khác có thể thu hồi lại từ kế hoạch theo các điều khoản quyết định
trong hợp đồng như chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí triển khai
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức
Theo đặc thù của ngành XDCB nên chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, có nội
dung kinh tế khác nhau, công dụng khác nhau, vì vậy việc phân loại chi phí sản xuất là
một yêu cầu tất yếu, quan trọng cho công tác quản lý cũng như công tác tổ chức kế
toán chi phí sản xuất và sản phẩm xây lắp, có như vậy mới đảm bảo được các thông
tin. Tùy theo yêu cầu của công tác quản lý có thể phân loại chi phí theo tiêu thức sau:
1.2.2.1. Theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí:
Theo cách phân loại này, căn cứ vào tính chất, nội dung, kinh tế của chi phí sản
xuất để chia chi phí sản xuất ra thành các yếu tố chi phí. Mỗi yếu tố chi phí bao gồm
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Cẩm Tú - SB14B2
2
Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
những chi phí có cùng nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong
lĩnh vực hoạt động nào, ở đâu, mục đích và tác dụng của chi phí đó như thế nào. Toàn
bộ chi phí sản xuất trong kỳ được chia thành các yếu tố chi phí như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm về nguyên vật liệu chính (sắt, thép, xi
măng…), vật liệu phụ, nhiên liệu, thiết bị XDCB dùng cho hoạt động SXKD.
- Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương : Là toàn bộ tiền lương, tiền
công tác khoản phụ cấp DN phải trả cho người lao động, các khoản trích theo lương
như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)
và kinh phí công đoàn (KPCĐ), DN phải nộp trong kỳ theo quy định.

sản xuất thi công, loại trừ chi phí trực tiếp, những chi phí SXKD gắn liền với quá trình
hoạt động sản xuất của đội sản xuất, và các khoản trích theo lương của người lao động
trực tiếp và gián tiếp tại các công trình (BHXH, BHYT, KPCD, BHTN) theo tỷ lệ quy
định tính vào chi phí
Cách phân loại này phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức, là cơ sở
cho kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn cứ để
phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
Hai cách phân loại CPSX trên là hai cách phân loại mà nhất thiết các DN đều
phải thực hiện để cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính cũng như theo yêu
cầu của chế độ kế toán hiên hành.
1.2.2.3. Theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với quá trình sản xuất: Theo cách
phân loại này, CPSX bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
Cách phân loại này có ý nghĩa thuần túy đối với kỹ thuật hạch toán. Trường hợp có
phát sinh chi phí gián tiếp, bắt buộc phải sử dụng phương pháp phân bổ, lựa chọn tiêu
thức phân bổ thích hợp. Mức độ chính xác của chi phí gián tiếp tập hợp từng đối tượng
phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ.
1.2.2.4. Theo quan hệ với khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ sản xuất trong kỳ:
Gồm chi phí khả biến, chi phí bất biến và chi phí hỗn hợp.
- Định phí: là những chi phí có sự thay về tổng số khi có sự thay đổi về khối
lượng công việc hoàn thành như chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
- Biến phí: là những chi phí không thay đổi về tổng số lượng khi có sự thay đổi về
khối lượng công việc hoàn thành như chi phí điện thắp sáng, thuê mặt bằng
- Chi phí hỗn hợp: là những chi phí bao gồm cả hai loại chi phí trên như chi phí
điện thoại, nước……
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế xây dựng các mô
hình chi phí trong quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận, giúp cho các nhà quản
trị xác định đúng đắn phương hướng để nâng cao hiệu quả của chi phí.
1.2.2.5. Phân loại chi phí phục vụ cho việc ra quyết định : Gồm chi phí cơ hội, chi phí
chìm và chi phí chênh lệch. Cách phân loại này có tác dụng rất lớn đối với các nhà
quản trị trong việc lựa chọn phương án SXKD có hiệu quả nhất, tiết kiệm chi phí và là

chọn tiêu thức hợp lý để tiến hành phân bổ chi phí cho từng đối tượng liên quan theo
công thức
C
i
=
C

t
i
T
i
Trong đó - C
i
: CPSX phân bổ cho đối tượng thứ i.
- C : Tổng CPSX cần phân bổ
- T
i
: Tổng đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ.
- t
i
: Đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ của đối tượng i
1.4. Kế toán chi phí sản xuất trong các Doanh nghiếp xây lắp theo Hướng dẫn của
chuẩn mực kế toán Việt Nam
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Cẩm Tú - SB14B2
5
Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
1.4.1 Chuẩn mực số 01 – Chuẩn mực chung
Kế toán ghi nhận doanh thu và chi phí phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán
cơ bản: Trọng yếu; Cơ sở dồn tích; Hoạt động liên tục; Giá gốc; Phù hợp; Nhất quán;
Thận trọng.

Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho: Việc tính giá trị hàng tồn kho được áp
dụng theo một trong các phương pháp: Phương pháp tính theo giá đích danh; Phương
pháp bình quân gia quyền; Phương pháp nhập trước, xuất trước; Phương pháp nhập
sau, xuất trước.
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Cẩm Tú - SB14B2
6
Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
Ghi nhận chi phí: Khi bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đã bán được
ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên quan đến
chúng được ghi nhận.
* Chuẩn mực số 03: Tài sản cố định hữu hình
+ Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời tất cả
bốn (4) tiêu chuẩn ghi nhận.
+ Tài sản cố định hữu hình phải được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá.
+ Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình được ghi tăng
nguyên giá của tài sản nếu các chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế trong
tương lai do sử dụng tài sản đó. Các chi phí phát sinh không thỏa mãn điều kiện trên
phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
+ Sau khi ghi nhận ban đầu, trong quá trình sử dụng, TSCĐ hữu hình được xác
định theo nguyên giá, khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại. Trường hợp TSCĐ hữu hình
được đánh giá lại theo quy định của Nhà nước thì nguyên giá, khấu hao luỹ kế và giá
trị còn lại phải được điều chỉnh theo kết quả đánh giá lại.
+ Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống
trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng. Phương pháp khấu hao phải phù hợp với
lợi ích kinh doanh mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp.
+ Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình phải được xem xét lại theo
định kỳ, thường là cuối năm tài chính. Nếu có sự thay đổi đáng kể trong việc đánh giá
thời gian sử dụng hữu ích của tài sản thì phải điều chỉnh mức khấu hao.
1.5. Kế toán chi phí sản xuất xây lắp trong các Doanh nghiệp xây lắp theo quyết
định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ tài chính ngày 20 tháng 03 năm 2006 của chế độ

Bên có: Trị giá NVL sử dụng không hết nhập kho; kết chuyển chi phí NVL sang
tài khoản chi phí SXKD dở dang.
Tài khoản này không có số dư.
d, Phương pháp hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Các loại vật liệu sử dụng cho CT, HMCT nào thì phải ghi trực tiếp cho CT,
HMCT đó trên cơ sở các chứng từ gốc có liên quan theo số lượng thực tế sử dụng và
giá thực tế xuất kho.
- Trong điều kiện không thể tính được trực tiếp thì kế toán có thể áp dụng phương
pháp phân bổ gián tiếp cho các đối tượng sử dụng theo các tiêu thức hợp lý.
- Cuối kỳ hạch toán khi công trình hoàn thành phải kiểm kê số vật liệu lĩnh về
chưa sử dụng hết ở công trường và phải đánh giá phế liệu thu hồi theo từng đối tượng
sử dụng.
Tổng chi phí
NVLTT phải phân
bổ trong kỳ
=
Giá trị thực tế
của NVL xuất
trong kỳ
-
Giá trị phế
liệu
thu hồi
(nếu có)
-
Giá trị NVL dùng
không hết
cuối kỳ
Trình tự hạch toán chi phí NVLTT được thể hiện qua Sơ đồ 1.1 – Phụ lục
1.5.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

quan. Nếu chi phí NCTT có liên quan đến nhiều đối tượng tính giá thành mà không tập
hợp riêng được thì có thể tập hợp chung sau đó chọn tiêu thức thích hợp để phân bổ
cho các đối tượng liên quan.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, có hai cách tính lương chủ yếu là tính lương
theo công việc giao khoán và tính lương theo thời gian.
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Cẩm Tú - SB14B2
9
Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
- Nếu tính lương theo công việc giao khoán thì chứng từ ban đầu là “hợp đồng
khoán”, trên hợp đồng khoán thể hiện công việc khoán có thể là từng phần việc, nhóm
công việc, có thể là hạng mục công trình, thời gian thực hiện hợp đồng, đơn giá từng
phần việc, chất lượng công việc giao khoán. Tuỳ theo khối lượng công việc giao khoán
hoàn thành để tính số lương phải trả.
Tiền lương phải trả = Khối lượng công việc

Đơn giá khối lượng
hoàn thành công việc
- Nếu tính lương theo thời gian thì căn cứ để hạch toán là “Bảng chấm công” và
phiếu làm thêm giờ Căn cứ vào tình hình thực tế, người có trách nhiệm sẽ tiến hành
theo dõi và chấm công hàng ngày cho công nhân trực tiếp trên bảng chấm công. Cuối
tháng người chấm công, người phụ trách bộ phận sẽ ký vào bảng chấm công và phiếu
làm thêm giờ sau đó chuyển đến phòng kế toán. Các chứng từ này sẽ được kiểm tra,
làm căn cứ hạch toán chi phí tiền lương, theo cách tính lương này, mức lương phải trả
trong tháng được tính như sau:
Tiền lương phải trả
Tiền lương phải trả
trong tháng
trong tháng
=
=

Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ), chi phí vật liệu, chi phí công cụ, dụng cụ, chi phí
khấu hao MTC, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
- Chi phí tạm thời về MTC: chi phí sửa chữa lớn MTC, chi phí lắp đặt, tháo gỡ
vận chuyển MTC. MTC phục vụ cho công trình nào có thể hạch toán riêng được thì
hạch toán trực tiếp cho công trình đó. Nếu MTC phục vụ cho nhiều CT, HMCT ngay
từ đầu không thể hạch toán riêng được thì tập hợp chung sau đó phân bổ theo tiêu thức
hợp lý (số giờ máy hoạt động, lương của công nhân trực tiếp sản xuất )
b,
b,
Chứng từ sử dụng
Chứng từ sử dụng
Bảng kê thời gian sử dụng MTC, hợp đồng thuê MTC, bảng phân bổ chi phí khấu
hao MTC, phiếu chi, bảng thanh toán tiền lương của đội MTC…
c, Tài khoản sử dụng
- Tài khoản dùng để hạch toán chi phí sử dụng MTC phụ thuộc vào hình thức sử
dụng MTC của doanh nghiệp.
+ Trường hợp doanh nghiệp xây lắp thực hiện xây lắp công trình theo phương
thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy thì sử dụng TK 623 – Chi
phí sử dụng MTC.
+ Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn bằng máy thì
không sử dụng tài khoản 623, các chi phí liên quan đến máy sẽ được hạch toán trực
tiếp vào TK 621, 622, 627. Mặt khác, các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ
tính theo tiền lương công nhân sử dụng MTC và tiền ca cũng phản ánh trên TK627 -
“CPSX chung”
- TK623 có 6 tiểu khoản cấp II
TK 6231 - Chi phí nhân công.
TK 6232 - Chi phí vật liệu
TK 6233 - Chi phí dụng cụ sản xuất
TK 6234 - Chi phí khấu hao MTC

Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
+ TK 6273 – chi phí dụng cụ SX
+ TK 6274 – chi phí khấu hao TSCĐ
+ TK 6277 – chi phí dịch vụ mua ngoài
+ TK 6278 – chi phí bằng tiền khác
d, Phương pháp kế toán
Các khoản CPSX chung thường được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi
phí (tổ, đội ) cuối kỳ sẽ tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí.
Công thức phân bổ chi phí SXC.
Mức chi phí
Mức chi phíSXC phân bổ cho
SXC phân bổ chotừng đối tượng
từng đối tượng
=
=
Tổng chi phí SXC cần
Tổng chi phí SXC cầnphân bổ
phân bổ
X
X
Tiêu thức

định kỳ có hai điểm khác chính:
Một là: TK154 – Chi phí SXKD dở dang chỉ dùng phán ánh giá trị làm dở lúc đầu
kỳ và cuối kỳ, còn việc tính giá thành sản phẩm hoàn thành thực hiện trên TK631 –
Giá thành sản xuất. TK này được hạch toán chi tiết theo địa điểm phát sinh chi phí
(đội, xí nghiệp…) và theo loại, nhóm sản phẩm, chi tiết sản phẩm, lao vụ, dịch vụ…
của bộ phận sản xuất kinh doanh chính, sản xuất kinh doanh phụ, chi phí thuê ngoài
giá thành sản phẩm công, chế biến.
Bên Nợ: + Giá trị khối lượng sản phẩm xây lắp dở dang đầu kỳ.
+ Chi phí thực tế phát sinh trong kỳ.
Bên Có: + Giá trị khối lượng sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ.
+ Giá thành công trình xây lắp hoàn thành bàn giao chủ đầu tư.
TK 631 không có số dư cuối kỳ.
Hai là: Các chi phí được phản ánh trên tài khoản 621 không ghi theo từng chứng
từ xuất dùng NVL mà được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán sau khi tiến hành kiểm
kê và xác định giá trị NVL tồn kho, hàng mua đang đi đường ,…
Giá trị thực tế
NVL xuất dùng
=
Giá trị thực tế
NVL tồn đầu
kỳ
+
Giá trị thực tế
NVL
nhập trong kỳ
-
Giá trị thực tế
NVL
tồn cuối kỳ
Để xác định giá trị NVL trực tiếp xuất dùng cho các nhu cầu khác nhau thì căn cứ

tổng hợp Chứng từ kế toán cùng loại
Hình thức này sử dụng các loại sổ sau
+ Nhật ký- sổ cái
+ Các sổ, thẻ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết vật liệu, sổ kho, sổ chi phí sản xuất
kinh doanh, sổ chi tiết thanh toán, sổ kế toán chi tiết, sổ thuế GTGT
* Hình thức kế toán Nhật ký - chứng từ: Sơ đồ 1.12 – Phụ lục
Đặc trưng cơ bản hình thức kế toán Nhật ký- chứng từ là:
- Tập hợp và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên có của các
tài khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế đó theo các Tài khoản đối
ứng nợ
- Kết hợp rộng rãi việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng
một sổ kế toán và trong cùng một quá trình ghi chép
- Sử dụng các mẫu sổ in sẵn các quan hệ đối ứng tài khoản, chỉ tiêu quản lý
kinh tế, tài chính và lập Báo cáo tài chính
Sử dụng các loại sổ sau:
+ Nhật ký- chứng từ (10 Nhật ký- chứng từ)
+ Bảng kê (11 Bảng kê)
+ Sổ cái, sổ thẻ kế toán chi tiết
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Cẩm Tú - SB14B2
15
Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
* Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ : Sơ đồ 1.13 – Phụ lục
Đặc trưng của hình thức này là Căn cứ để ghi sổ kế toán tổng hợp là "Chứng
từ ghi sổ". Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm:
+ Ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
+ Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái
Chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu liên tục theo từng tháng hoặc cả năm (theo
số thứ tự trong sổ đăng ký chứng từ ghi sổ) và có chứng từ kế toán kèm theo, phải
được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ
Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ sử dụng các loại sổ sau:

những sản phẩm và ngành nghề truyền thống của công ty đã bị những nhân tố mới của
nền kinh tế thị trường nhanh chóng cạnh tranh và lấn át. Một yêu cầu bức bách đặt ra
cho công ty là phải nhanh chóng chuyển hướng sản xuất và kinh doanh cho phù hợp
với tình hình. Được phép của UBND tỉnh Hải Dương cho bổ sung thêm ngành nghề:
Xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị và sản xuất gạch ốp lát CERAMIC, công ty được đổi
tên thành “Công ty xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị Hải Dương”
Giai đoạn sau: Năm 2002 sau khi thực hiện chuyển giao phân xưởng sản xuất
gạch ốp lát cho công ty gạch ốp lát Hà Nội thì nhiệm vụ và hoạt động kinh doanh chủ
yếu của công ty Xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị Hải Dương đó là tổ chức
tham gia đấu thầu và xây dựng các công trình hà tầng đô thị
Là một doanh nghiệp Nhà nước hoạch toán kinh tế độc lập trong suốt quá trình
phát triển công ty Xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị Hải Dương đã có
những đóng góp đáng kể. Công ty đã nhiều năm được Bộ Xây dựng và Công đoàn
Ngành xây dựng Việt nam tặng huy chương vàng công trình chất lượng cao như: Trụ
sở nhà làm việc ngân hàng nông nghiệp huyện Ninh Giang, Hội trường UBND huyện
Nam Thanh, Ngân hàng đầu tư và phát triển Hải Dương, Kho bạc Nhà nước tỉnh Hải
Dương, Nhà khách UBND tỉnh Hải Dương Công ty đã được Chính phủ tặng thưởng
huân chương lao động hạng ba , bằng chứng nhận đơn vị đạt danh hiệu lao động giỏi
ngành xây dựng từ năm 1991 đến năm 1995. Công ty được UBND tỉnh Hải Dương
tặng cờ thi đua xuất sắc 3 năm liền (1998 – 1999 – 2000) trong ngành xây dựng
Căn cứ luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26 / 11 / 2003
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Cẩm Tú - SB14B2
17
Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
Căn cứ nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ về việc
chuyển Doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần
Xét đề nghị của ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp tỉnh tại tờ trình
2401/KH – ĐMDN ngày 20/12/2004.Tháng 1 năm 2005 công ty chuyển đổi thành
Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Hải Dương
2.1.1.2. Chức năng nhiệm vụ của công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Hải

tiền mặt, và theo dõi công nợ đội.
- Kế toán thuế, doanh thu, TSCĐ, CCDC: Phụ trách kê khai thuế hàng tháng,
báo doanh thu, tính khấu hao TSCĐ thuộc sở hữu của công ty
- Thủ quỹ: trực tiếp theo dõi phát sinh quỹ tiền mặt và thanh toán các khoản
liên quan đến tiền mặt.
- Nhân viên kinh tế đội: Chịu trách nhiệm thu thập chứng từ, thống kê số liệu
sau đó gửi lên phòng kế toán
- Sổ sách bắt buộc các đội phải có: Sổ thu – chi, sổ nhập – xuất vật tư, sổ hoạch
toán chi phí công trình, sổ tổng hợp theo dõi về vốn. Sau đây là sơ đồ bộ máy kế toán
của công ty:
2.1.2.2. Chính sách kế toán áp dụng
Công ty áp dụng chế độ kế toán Việt Nam theo Chế độ kế toán ban hành theo
Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ tài chính ngày 20 tháng 03 năm 2006.
- Niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm
- - Đơn vị tiền tệ sử dụng là đồng Việt Nam, chuyển đổi các đồng tiền khác sang
Việt Nam tại thời điểm phát sinh tỷ giá ngân hàng nhà nước công bố.
- Phương pháp tính thuế GTGT: theo phương pháp khấu trừ
- Công ty ghi nhận tài sản cố định theo giá gốc, khấu hao TSCĐ theo phương
pháp đường thẳng, thời gian khấu hao TSCĐ thực hiện theo hướng dẫn QĐ số
203/2009 TC-BTC ngày 20/10/2009 và chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao
TSCĐ của Bộ tài chính.
- Phương pháp hạch toán hạch toán hang tồn kho: công ty áp dụng kế toán hàng
tồn kho thep phương pháp kê khai thường xuyên, hạch toán hang tồn kho cuối kỳ được
xác định theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị xuất kho nguyên vật liệu là giá
trị thực tế đích danh.
- Tính hình trích lập dự phòng: Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho căn cứ
vào tình hình tồn kho đầu năm, tình hình xuất nhập kho trong năm và tình hình biến
động giá vật tư, hàng hóa để xác định giá trị thực tế hàng tồn kho và trích lập dự
phòng.
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Cẩm Tú - SB14B2

Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
2.2. Thực trạng kế toán chi phí xây lắp công trình “Nhà làm việc Hội đồng nhân
dân huyện Ninh Giang” tại công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Hải
Dương
2.2.1. Chi phí và phân loại chi phí sản xuất trong công ty
2.2.1.1 Chi phí nguyên vật liệu
Là toàn bộ các chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu khác, công
cụ, dụng cụ … được sử dụng trực tiếp để sản xuất, chế tạo sản phẩm, cung cấp lao vụ
dịch vụ…
2.2.1.2. Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất
sản phẩm, trực tiếp thi công các công trình, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như
tiền lương, tiền công các khoản phụ cấp chi phí này không bao gồm khoản trích
BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN tính trên quỹ lương của hoạt động xây lắp.
2.2.1.3. Chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công là các hao phí về chi phí sử dụng xe, máy thi công
phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình. Chi phí này bao gồm:
- Chi phí nhân công là chi phí về tiền lương lái máy phải trả cho công nhân trực
tiếp điều khiển xe, máy thi công. Chi phí này không bao gồm khoản trích BHXH,
BHYT, KPCĐ, BHTN tính trên lương của công nhân sử dụng xe, máy thi công. Khoản
trích này được phản ánh vào chi phí sản xuất chung.
- Chi phí vật liệu: Dùng để phản ánh công cụ, dụng cụ liên quan tới hoạt động
của xe, máy thi công
- Chi phí khấu hao máy thi công: Dùng để phản ánh khấu hao máy thi công sử
dụng vào hoạt động xây lắp công trình
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài như: Thuê
ngoài sữa chữa xe, máy thi công, bảo hiểm , máy thi công…
- Chi phí bằng tiền khác: Dùng để phản ánh các chi phí bằng tiền phục vụ cho
hoạt động xe, máy thi công…
2.2.1.4. Chi phí sản xuất chung

thị Hải Dương
Xuất phát từ những đặc điểm riêng của ngành XDCB và đặc điểm tổ chức sản
xuất trong Công ty nên đối tượng kế toán tập hợp CPSX được xác định là các CT,
HMCT riêng biệt.
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Cẩm Tú - SB14B2
22
Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
Các chi phí phát sinh liên quan đến CT, HMCT nào thì tập hợp vào CT, HMCT
đó, đối với các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí thì cuối kỳ
hạch toán sẽ được phân bổ cho các CT, HMCT có liên quan.
Mỗi CT, HMCT do Công ty thực hiện từ khi khởi công đến khi hoàn thành
được mở sổ chi tiết theo dõi riêng và tập hợp chi phí theo từng khoản mục chi phí.
Trong đề tài này tôi xin lấy số liệu về kế toán chi phi xây lắp công trình “Nhà làm
việc hội đồng nhân dân huyện Ninh Giang” trong quý 1 năm 2012 để minh họa.
Công trình “Nhà làm việc hội đồng nhân dân huyện Ninh Giang” được thực hiện
theo phương thức khoán gọn do đội xây dựng số 9 chịu trách nhiệm thi công
Đội trưởng là ông: Bùi Văn Hoan sau khi nhận khoán sẽ chịu trách nhiệm thanh
toán toàn bộ các khoản chi phí phát sinh.
2.2.3. Kế toán tập hợp chi phí xây lắp công trình “ Nhà làm việc HĐND huyện Ninh
Giang” tại công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Hải Dương
Mỗi công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành đều được mở sổ chi tiết để
theo dõi tập hợp các khoản mục chi phí.
- Chi phí nguyên vật liệu
- Chi phí nhân công
- Chi phí sử dụng máy thi công
-Chi phí sản xuất chung
Trong đó chi phí sản xuất chung được theo dõi chi tiết theo từng yếu tố như:
-Chi phí nhân viên quản lý
-Chi phí dụng cụ sản xuất
-Chi phí dịch vụ mua ngoài

mua vật tư, thuê nhân công theo hợp đồng và chủ động thi công. Định kỳ vào ngày 25
hàng tháng họp giao ban toàn công ty để bái cáo tiến độ thi công, giải quyết những khó
khăn trong quá trình thi công. Khi đội tiếp tục có nhu cầu ứng vốn đội trưởng đội thi
công mang hóa đơn chứng từ về phòng kế toán làm thủ tục ứng. Để được ứng vốn thi
công thì đội phải lập được khối lượng xây lắp hoàn thành có xác nhận của chủ đầu tư.
Các chi phí phát sinh ở hạng mục công trình nào thì được tập hợp trực tiếp cho công
trình đó theo giá thực tế đích danh. Việc tập hợp chi phí NVL trực tiếp cho công trình,
hạng mục công trình được mã hóa trên máy vi tính theo các mã công trình. Khi đưa số
NVL phát sinh của từng công trình, máy xử lý và đưa số liệu vào khoản mục chi phí
NVL trực tiếp của hạng mục công trình đó trên bảng giá thành sản phẩm.
Đối với công trình “Nhà làm việc hội đồng nhân dân huyện Ninh Giang” mà công
ty trúng thầu. sau khi ký kết hợp đồng kinh tế với chủ đầu tư (Bên A) công ty tiến
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Cẩm Tú - SB14B2
24
Trường Đại Học Thương Mại Khoa: Kế toán - Kiểm toán
hành giao khoán cho đội xây dựng số 9 trực thuộc công ty chịu trách nhiệm về tiến độ
thi công và hạn mức thi công cho công trình đó.
Chi phí NVL trực tiếp sử dụng cho công trình này là do mua ngoài về sử dụng
ngay cho công trình. Phần chi phí phát sinh tại công ty do công ty trực tiếp theo dõi.
Việc mua NVL tính toán mua, chi phí vận chuyển bốc dỡ đến chân công trình cùng
việc viết phiếu nhập kho đồng thời là do đội trưởng và kế toán đội thực hiện ở trên
công ty chỉ tiến hành như sau:
Căn cứ vào giấy đề nghị tạm ứng được duyệt do phòng kế hoạch đề nghị kèm theo
bản giải trình chi phí phần công ty thực hiện hoặc đề nghị thanh toán của đơn vị bán kế
toán định khoản:
Nợ TK 141,331
Có TK 111,112,311
Vì NVL do công ty mua ngoài không qua nhập kho cho hoạt động xây lắp căn cứ
vào phiếu chi, hóa đơn GTGT của người bán kế toán định khoản :
Nợ TK 621 – chi tiết cho từng công trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status