1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Ngày nay, khi nền kinh tế đất nước đã có những bước chuyển mới, với những
thành quả đạt được cùng với sự tiến bộ về trình độ văn hoá, nhận thức thì đời sống
nhân dân cũng được nâng cao. Cũng chính vì vậy mà nhu cầu của con người cũng
được nâng cao. Nó không còn là nhu cầu “cơm no áo ấm” nữa mà thay thế là nhu cầu
“ăn ngon mặc đẹp” được mọi người tôn trọng, kính nể. Cũng chính vì vậy mà đòi hỏi
về chất lượng đối với sản phẩm hàng hoá nói chung và những dịch vụ nói riêng ngày
càng cao. Kinh doanh khách sạn ngày nay không phải chỉ đơn thuần để đáp ứng nhu
cầu chỗ ngủ nghỉ nữa mà phải đáp ứng được nhu cầu ngủ nghỉ đó với yêu cầu đa dạng
của khách hàng như yêu cầu được ngủ nghỉ trong phòng sạch sẽ an toàn, tiện nghi
sang trọng, có phòng cảnh đẹp để ngắm nhìn và đặc biệt là chất lượng dịch vụ lưu trú
phải thật tốt.
Tuy nhiên trong thời điểm hiện nay, hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch nước
ta gặp nhiều khó khăn, về mặt tổng thể cho thấy có sự mất cân đối giữa cung và cầu
lượng cung của khách sạn lớn hơn lượng cầu khách sạn rất nhiều, trong khi đó lượng
khách sạn vẫn không ngừng gia tăng. Trước tình hình đó, muốn đứng vững và phát
triển trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn du lịch, mỗi doanh nghiệp phải không
ngừng vận động tìm mọi biện pháp tốt nhất làm tăng hiệu quả kinh doanh bằng cách
nâng cao chất lượng dịch vụ.
Kinh doanh khách sạn là một “mắt xích” quan trọng trong chiến lược phát triển
du lịch của đất nước, là sự kết hợp hài hòa của nhiều nghiệp vụ chuyên sâu như: kinh
doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh dịch vụ lưu trú, kinh doanh dịch vụ bổ sung. Trong
tất cả các nghiệp vụ kinh doanh đòi hỏi các nhà quản lý các khách sạn nói chung và
khách sạn Daewoo Hà Nội nói riêng không bao giờ được phép quá coi trọng nghiệp vụ
này và coi nhẹ nghiệp vụ kia, mà phải biết kết hợp chặt chẽ, đồng bộ nhằm tạo thành
một hệ thống dịch vụ thống nhất, toàn diện và bổ trợ cho nhau. Tuy nhiên, trong hoạt
động kinh doanh khách sạn thì hoạt động kinh doanh lưu trú luôn được các nhà quản
lý quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến “cuộc sống” của khách trong khách sạn,
chất lượng phục vụ, đồng thời nó mang lại uy tín, sức thu hút và một nguồn doanh thu
Về nội dung: Nội dung nghiên cứu đề tài khóa luận đi sâu vào tìm hiểu vấn đề
hiệu quả kinh doanh lưu trú.
Thời gian nghiên cứu: Trong đề tài sử dụng các tài liệu, số liệu về kết quả hoạt
động kinh doanh của khách sạn Daewoo Hà Nội trong hai năm là 2010-2011, đề xuất
các giải pháp cho giai đoạn 2012-2015.
Không gian nghiên cứu: Tập trung tại bộ phận buồng của khách sạn Daewoo
Hà Nội.
4. Tình hình nghiên cứu đề tài
* Các sách tham khảo được sử dụng trong khóa luận tốt nghiệp:
PGS.TS Nguyễn Thị Nguyên Hồng (năm 2011), bài giảng Kinh tế doanh
nghiệp dịch vụ, du lịch, trường Đại Học Thương Mại.
TS. Nguyễn Doãn Thị Liễu, TS. Nguyễn Trọng Đặng (năm 2008), “Quản trị
doanh nghiệp Khách sạn du lịch” nhà xuất bản đại học Quốc Gia Hà Nội.
3
Nguyễn Văn Mạnh và Hoàng Thị Lan Hương (năm 2008), Giáo trình quản trị
kinh doanh khách sạn, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội.
* Các luận văn tham khảo được sử dụng trong khóa luận tốt nghiệp:
Nguyễn Văn Nam (2011), Khách sạn Hồ Gươm, Luận văn trường đại học
Thương Mại.
Đào Thị Nga (2011) Khách sạn Hồng Ngọc, Luận văn trường đại học Thương
Mại.
Qua quá trình tìm hiểu về các đề tài này có thể nhận thấy các đề tài này tuy đã
phản ánh được vấn đề về hiệu quả kinh doanh lưu trú nhưng mới chỉ đưa ra giải pháp
chung cho việc phát triển hoạt động kinh doanh lưu trú, chưa đưa ra được các giải
pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh lưu trú. Chính vì thế đề tài lựa chọn
tạo ra sự khác biệt cũng như tính không trùng lặp các đề tài trên.
5. Nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh lưu trú trong
khách sạn
Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh lưu trú tại khách sạn Daewoo Hà
cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách. Khách sạn nổi là
khách sạn neo đậu trên mặt nước và có thể di chuyển.
Tóm lại, khách sạn là một khâu quan trọng trong kinh doanh du lịch và trong
quá trình khai thác tài nguyên du lịch của một địa phương, quốc gia. Mặt khác, khách
sạn cũng là một loại hình cơ sở kinh doanh về dịch vụ lưu trú của ngành du lịch. Tìm
hiểu đặc điểm, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, của khách sạn là nền tảng để nghiên cứu
nội dung, phương pháp kinh doanh và quản lý, trang thiết bị cho giám đốc khách sạn
những lý luận cơ bản giúp cho họ xây dựng, tổ chức hợp lý các hoạt động kinh doanh
5
dịch vụ khách sạn phù hợp với tiềm năng du lịch của địa phương và đạt hiệu quả kinh
tế cao.
b, Khái niệm kinh doanh khách sạn
Nhu cầu của con người là vô tận, khi một nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì sẽ
nảy sinh một nhu cầu khác ở mức độ cao hơn. Cũng như học thuyết “Đẳng cấp nhu
cầu” của Maslow đưa ra nhận định về động cơ thúc đẩy con người, cho rằng khách
hàng suy nghĩ trước khi hành động thông qua quá trình ra quyết định hợp lý Maslow
đề cập đến năm phạm trù về nhu cầu tương ứng với mức độ quan trọng đối với nhu
cầu của con người đó là:
1, Nhu cầu sinh lý.
2, Nhu cầu an toàn.
3, Nhu cầu quan hệ xã hội.
4, Nhu cầu được kinh doanh.
5, Nhu cầu được thể hiện.
Trong đó nhu cầu sinh lý là nhu cầu thiết yếu vì con người muốn tồn tại và
phát triển thì phải ăn uống có chỗ ở, quần áo mặc, thu giãn. Do vậy, con người dù có
đi du lịch hay không thì họ đều phải ăn uống, nghỉ ngơi. Nhà kinh doanh khách sạn
theo nghĩa hẹp là kinh doanh dịch vụ lưu trú bao gồm dịch vụ buồng ngủ và một số
dịch vụ bổ sung kèm theo và theo nghĩa rộng hơn thì kinh doanh khách sạn là một hình
thức kinh doanh dịch vụ lưu trú bao gồm dịch vụ buồng ngủ, dịch vụ ăn uống và dịch
vụ bổ sung khác. Hiểu một cách đầy đủ thì kinh doanh khách sạn là một hình thức
tổng hợp các hoạt động từ khi nghe lời yêu cầu của khách cho đến khi khách rời khỏi
khách sạn. Sản phẩm của khách sạn rất đa dạng bao gồm vật chất và phi vật chất, có
thứ do khách sạn tạo ra, có thứ do ngành khác tạo ra nhưng khách sạn là khâu phục vụ
trực tiếp, là điểm kết quả của quá trình du lịch. Sản phẩm khách sạn là sản phẩm phi
vật chất cụ thể là: sản phẩm dịch vụ không thể lưu kho, 1 ngày buồng không tiêu thụ
được là một khoản thu nhập bị mất không thu lại được. Sản phẩm dịch vụ được sản
xuất bán và trao đổi trong sự có mặt hoặc tham gia của khách hàng, diễn ra trong mối
quan hệ trực tiếp giữa nhân viên và khách hàng.
Vì kinh doanh lưu trú là một loại hình dịch vụ, nên kinh doanh lưu trú trong
khách sạn cũng mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của kinh doanh dịch vụ. Bên cạnh
đó, kinh doanh lưu trú trong khách sạn còn mang một số đặc điểm đặc trưng quan
trọng khác như:
- Vốn đầu tư ban đầu lớn: Để kinh doanh lưu trú khách sạn cũng cần đầu tư
vào cơ sở hạ tầng, đất đai nên chi phí cho công trình khách sạn lớn. Khi xây dựng cơ
bản đối với một cơ sở kinh doanh khách sạn đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống đồng
bộ các công trình, cơ sở phục vụ, các trang thiết bị có chất lượng cao. Phải đầu tư
khách sạn ngay từ đầu để tránh lạc hậu theo thời gian, thỏa mãn nhu cầu của khách.
Mặt khác, trong quá trình kinh doanh lưu trú, các khách sạn luôn duy trì tình trạng vốn
có, phải đảm bảo tính sẵn sàng đón tiếp và phục vụ khách.
- Sử dụng số lượng lao động trực tiếp tương đối cao: Kinh doanh lưu trú trong
khách sạn đòi hỏi sử dụng nhiều lao động trực tiếp, vì tính luôn sẵn sàng phục vụ
khách của dịch vụ lưu trú. Tính sẵn sàng phục vụ là một trong tiêu chuẩn quan trọng
7
của chất lượng dịch vụ. Sản phẩm lưu trú khách sạn chủ yếu là sản phẩm dịch vụ được
tạo thành do giao diện tiếp xúc trực tiếp giữa nhân viên và khách hàng. Mặt khác, lao
động trong khách sạn có tính chuyên môn hóa khá cao, thời gian làm việc phụ thuộc
vào thời gian tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của khách, vì vậy, đẩy chi phí kinh doanh
lên cao.
- Tính thời vụ: Hoạt động kinh doanh khách sạn mang tính mùa vụ do khách
sạn xây dựng và hoạt động dựa vào tài nguyên du lịch mà tài nguyên du lịch mang tính
Sau khi nghiên cứu thị trường khách đến lưu trú, khách sạn đưa ra các chính
sách quảng bá tới con mắt những khách hàng đó thông qua website của khách sạn hoặc
liên kết, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, qua truyền miệng hay qua
các công ty lữ hành để bán sản phẩm lưu trú đến khách hàng có nhu cầu.
- Tổ chức phục vụ
Khi khách hàng đã đăng ký mua hay đăng ký phòng lưu trú thì khách sạn phải
tổ chức phục vụ khách. Có thể nói đây là nội dung quan trọng nhất trong kinh doanh
lưu trú vì trong giai đoạn này khách hàng trực tiếp sử dụng dịch vụ lưu trú nên các
khâu đón phục vụ khách phải thực sự lấy được sự hài lòng từ phía khách hàng. Khách
sạn phải chú ý từng khâu. Các khâu từ lúc đón khách, lúc khách sử dụng dịch vụ đến
lúc tiễn khách phải thực sự nhịp nhàng để tạo ra hiệu quả cao nhất.
- Thanh toán, tiễn khách và đúc kết kinh nghiệm
Sau khi khách trả phòng và thanh toán thì kế toán phải tổng hợp các chi phí và
doanh thu có liên quan trong thời gian khách sử dụng dịch vụ lưu trú. Nhân viên làm
thủ tục thanh toán cho khách phải nhanh gọn, chính xác. Hoàn thiện bảng thống kê chi
phí, doanh thu cho phòng kế toán kế toán tổng hợp của khách sạn. Tổng kết quá trình
lưu trú tại khách sạn, trong quá trình phục vụ những điểm làm tốt, những điểm làm
chưa tốt khiến khách hàng chưa hài lòng, phàn nàn hay khiếu nại đã giải quyết ra sao,
khách hàng vừa lòng chưa…Để từ đó đưa ra kinh nghiệm trong quá trình phục vụ tiếp
theo.
Quan điểm và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh lưu trú trong khách sạn
Quan niệm hiệu quả kinh doanh lưu trú trong khách sạn
Theo định nghĩa chung: Hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố
cần thiết tham gia một hoạt động để đạt được mục tiêu nhất định của con người.
Hiệu quả kinh tế: 3 quan niệm
+ Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế.
+ Hiệu quả kinh tế là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ
ra để đạt được kết quả đó trong hoạt động kinh tế (mối tương quan tuyệt đối).
+ Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế /
của doanh nghiệp. Được thể hiện là mối tương quan tối ưu của mối quan hệ giữa các
F
D
Sức sinh lợi: H=
F
L
Trong đó:
H- Hiệu quả kinh doanh lưu trú.
D- Doanh thu lưu trú.
L- Lợi nhuận lưu trú.
F- Chi phí kinh doanh dịch vụ lưu trú
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn lực trong kinh doanh dịch vụ lưu
trú 1 đồng chi phí bỏ vào kinh doanh lưu trú sẽ tạo ra bao nhiêu doanh thu và lợi
nhuận. Chỉ tiêu này mang ý nghĩa tổng hợp.
- Ngoài ra có thể đánh giá nhanh hiệu quả kinh doanh lưu trú qua chỉ tiêu tỉ suất
lợi nhuận
x100 Với L’ là tỉ suất lợi nhuận
10
b. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng các nguồn lực
* Hiệu quả sử dụng lao động ở bộ phận lưu trú
- Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân: Phản ánh mức thu nhập bình quân đạt
được trong kỳ của một người lao động
H
lđ
=W=
R
D
Trong đó:
W: Năng suất lao động trong kỳ.
R
: Số lao động bình quân sử dụng trong kỳ.
nhiêu đồng doanh thu, bao nhiêu đồng lợi nhuận.
- Hiệu quả sử dụng thời gian lao động.
Trong đó:
K: Hệ số sử dụng thời gian làm việc. Chỉ số này để định hướng đúng cho việc tổ
chức lao động của từng bộ phận nghiệp vụ để tận dụng được thời gian lao động.
* Hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh lưu trú
- Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chung
H
v
=
V
D
; H
v
=
V
L
Trong đó:
V= Vcđ + Vlđ
V: Tổng vốn kinh doanh
Vcđ: Vốn cố định
11
Vlđ: Vốn lưu động
- Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định
H=
Vcđ
D
; H=
Vcđ
L
bình quân của một số phòng giữa các khách sạn với nhau.
* Một số chỉ tiêu khác
- Doanh thu (lợi nhuận) bình quân 1 ngày khách
Doanh thu bình quân 1 ngày khách = Tổng doanh thu trong kỳ / Tổng số ngày
phòng
Lợi nhuận bình quân 1 ngày khách = Tổng lợi nhuận trong kỳ / Tổng số ngày
phòng
- Doanh thu (lợi nhuận) bình quân khách
Doanh thu bình quân khách = Tổng doanh thu trong kỳ / Tổng số khách
Lợi nhuận bình quân khách = Tổng lợi nhuận trong kỳ / Tổng số khách
Như vậy, để đánh giá hiệu quả kinh doanh lưu trú của khách sạn thì ta có thể sử
dụng một trong số các chỉ tiêu trên.
12
1.3 Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả kinh doanh lưu trú trong
khách sạn
1.3.1 Nhóm nhân tố tác động khách quan
Giá cả hàng hóa dịch vụ: Giá cả là một nhân tố khách quan ảnh hưởng trực
tiếp đầu vào và đầu ra trong kinh doanh lưu trú. Vì đặc điểm không thể lưu trữ được
của phòng lưu trú (khi khách không thuê phòng) nên khách sạn cần phải tính toán kỹ
càng khi định giá cả buồng phòng dựa trên sự hiểu biết, phân tích về giá cả thị trường
khu vực và thế giới cũng như tâm lý khách hàng để tránh tình trạng lãng phí. Về lý
thuyết, khách sạn có thể tạo ra lợi nhuận khi giảm giá phòng cho khách nếu khách thuê
với một số lượng phòng lớn. Tuy nhiên tất cả các khách hàng đều mong đợi được đối
xử như nhau với mức giá tương đương, do đó nếu không khéo léo trong vấn đề giá cả
thì chính sách đưa ra lại rất có thể bị phản tác dụng (doanh thu giảm). Bên cạnh đó tỷ
giá trao đổi ngoại tệ cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh lưu trú trong đón khách
quốc tế.
Môi trường chính trị-xã hội: Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến bất cứ khách sạn
nào trong việc kinh doanh lưu trú của mình. Để việc kinh doanh lưu trú đạt hiệu quả
lâu dài, khách sạn luôn quan tâm về các chính sách của Đảng và Nhà nước để đưa ra
Thời vụ du lịch: thời vụ du lịch được hiểu là sự lặp đi lặp lại đối với cung cầu
các dịch vụ hàng hóa. Nắm bắt được tính thời vụ du lịch là chìa khóa để các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch hay các khách sạn kinh doanh lưu trú giảm được các chi phí
không đáng có khi lượng khách đến từng thời kì khác nhau và tăng được hiệu quả kinh
doanh nhờ tiết kiệm chi phí hợp lý, thu hút khách hiệu quả. Tính thời vụ ảnh hưởng
đến lượng khách do ảnh hưởng lớn tới hiệu quả kinh doanh lưu trú.
Các yếu tố khác như: sự phát triển của nền kinh tế: CSHT, đầu tư áp dụng tiến
bộ công nghệ. Tuy các yếu tố này mang tính chất khách quan nhưng chúng cũng tác
động rất lớn và có thể làm thay đổi hiệu quả kinh doanh lưu trú của khách sạn.
1.3.2 Nhóm nhân tố tác động chủ quan
Đội ngũ lao động: Nhân tố này được xem xét trên các góc độ số lượng, cơ cấu
và chất lượng trên các bộ phận buồng, lễ tân. Trong kinh doanh dịch vụ nói chung và
trong kinh doanh dịch vụ lưu trú nói riêng, thì nhân tố con người được coi là vấn đề
hàng đầu. Một nụ cười và lời mời của một nữ nhân viên phục vụ bao giờ cũng chiếm
được nhiều cảm tình của khách. Các nhà kinh doanh du lịch trên thế giới đã đưa ra
nhận định rằng “70% yếu tố thành bại trong kinh doanh khách sạn là phụ thuộc vào
người lao động”. Yếu tố con người chi phối rất mạnh đến chất lượng sản phẩm khách
sạn vì các dịch vụ là kết quả cuối cùng của lao động sống. Họ là những người tiếp xúc
trực tiếp với khách nhiều nhất, họ tạo ra mối quan hệ và họ cũng chính là cầu nối cho
khách đến các dịch vụ khác trong khách sạn và họ có thể tạo cho khách hàng sự thoải
mái yên tâm. Bên cạnh vai trò của đội ngũ lao động trực tiếp thì vai trò của người quản
lý điều hành trong khách sạn cũng rất quan trọng. Họ phải là những người có trình độ
quản lý kinh tế, nghiệp vụ du lịch… Từ đó, có cái nhìn đúng đắn về các biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tổ chức tốt công tác đánh giá và có các biện pháp
quản lý hữu hiệu nhất kinh doanh lưu trú tại khách sạn mình.
14
Cơ sở vật chất kỹ thuật: Trong kinh doanh khách sạn nói chung và kinh doanh
lưu trú nói riêng thì cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố vật chất quan trọng, nó quyết định
phần lớn đến mức độ thỏa mãn của khách trong các khâu hoạt động và nhu cầu thiết
yếu. Nó quyết định một phần đến chất lượng, đến lượng khách và thời gian khách lưu
hàng và tạo ra hiệu quả trong kinh doanh lưu trú.
15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH LƯU TRÚ TẠI KHÁCH
SẠN DAEWOO HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Phương pháp nghiên cứu vấn đề
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong thời gian thực tập tại khách sạn Daewoo Hà Nội, em thu thập dữ liệu
thứ cấp bao gồm giữ liệu nội bộ và dữ liệu bên ngoài.
- Dữ liệu nội bộ bao gồm các thông tin lưu trữ của khách sạn như: báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh, các số liệu về cơ cấu lao động, thị trường khách mục tiêu,
cơ cấu khách…các thông tin này phòng kế toán tài chính hay phòng nhân sự của khách
sạn Daewoo Hà Nội cung cấp.
- Dữ liệu bên ngoài thu thập được từ các tạp chí, báo, đài, ti vi, các đề tài luận
văn khóa trước. Trong đó phần lớn thu thập dữ liệu từ tạp chí du lịch Việt Nam trên
các website và luận văn các năm trước.
Những dữ liệu thứ cấp cung cấp các thông tin về du lịch như thành tựu, hiện
tại và xu hướng phát triển của du lịch và cung cấp các thông tin cần thiết về hiệu quả
kinh doanh lưu trú của khách sạn.
2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Sau khi thu thập được các dữ liệu nội bộ và dữ liệu bên ngoài ta tiến hành phân
tích dữ liệu. Chúng ta có thể sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp tổng hợp: Dữ liệu sau khi thu thập được tiến hành tổng hợp vào
bảng sau đó tiến hành phân tích tổng hợp.
Phương pháp phân tích: Từ kết quả so sánh thu được tiến hành phân tích thực
trạng của hoạt động kinh doanh của khách sạn Daewoo Hà Nội.
Phương pháp so sánh: Đề tài tiến hành so sánh các chỉ tiêu, các dữ liệu đã thu
thập tổng hợp trong hai năm 2010 - 2011 để đưa ra được nhận định về hoạt động kinh
doanh của khách sạn, tình hình kinh doanh lưu trú của khách sạn và đưa ra được giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh lưu trú tại khách sạn Daewoo Hà Nội.
2.2 Tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến hiệu quả kinh
hưởng của đàn Piano, của những dàn nhạc sống vào buổi tối.
Bên cạnh một hệ thống nhà hàng, bar với phong cách đặc trưng, Daewoo còn
hoàn thiện các dịch vụ của mình bằng một trung tâm hội nghị có sức chứa 800 khách
và 7 phòng hội nghị nhỏ được trang bị đèn, máy chiếu, internet, đồng thời có dịch vụ
dịch thuật, sân khấu di động, với nhiều trang thiết bị hiện đại. Song song với đó là một
trung tâm thương vụ phục vụ nhu cầu kinh doanh, tổ chức hội nghị, sự kiện của quý
khách.
Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của khách sạn Daewoo Hà Nội:
- Hoạt động kinh doanh lưu trú với 411 phòng đạt tiêu chuẩn năm sao quốc tế.
- Kinh doanh địa điểm ăn uống với 8 địa điểm ăn uống và nhà hàng.
- Dịch vụ câu lạc bộ sức khỏe với một hệ thống phòng tập hiện đại, bể bơi
ngoài trời dài 80 mét, sân tennis, sân golf.
- Dịch vụ giặt là, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, Internet, dịch vụ vận tải.
- Kinh doanh cho thuê văn phòng với tổng diện tích mặt sàn 14215.9 m
2
.
17
- Kinh doanh cho thuê căn hộ cao cấp với tổng căn hộ là 193.
Trải qua hơn 10 năm hoạt động và trưởng thành, khách sạn Daewoo Hà Nội đã
đạt được những thành tựu vững chắc trong ngành kinh doanh khách sạn với đối tượng
chính là khách thương nhân và khách lưu trú nước ngoài. Trong suốt chặng đường
hình thành và phát triển khách sạn Daewoo Hà Nội đã khẳng định được chất lượng thứ
hạng và vị trí dẫn đầu trong kinh doanh khách sạn.
2.2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của khách sạn Daewoo Hà Nội
Sơ đồ bộ máy tổ chức tại khách sạn Daewoo Hà Nội
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý tại khách sạn Daewoo Hà Nội
Cơ cấu tổ chức của khách sạn Daewoo Hà Nội được quản lý theo mô hình trực
tuyến – chức năng đây là một cơ cấu tổ chức đơn giản và gọn, tuân theo nguyên tắc
một người nắm quyền điều hành toàn bộ tổ chức, đảm bảo được sự thống nhất và tập
trung cao độ trong công việc, quyền hạn của mỗi thành viên được quy định cụ thể và
GDTT
và
thẩm
mỹ
BP
lễ
tân
BP
bảo
vệ
BP kỹ
thuật
Giám đốc điều hành
18
năm 2011 tăng so với năm 2010, đã giúp cho tổng doanh thu của khách sạn tăng lên là
2391874USD tương ứng với tỉ lệ tăng 10.147%, tỉ lệ tăng của lợi nhận là 5.11%. Mặc
dù vậy còn một vấn đề mà khách sạn quan tâm đặc biệt là chi phí kinh doanh năm
2011 so với năm 2010 tăng lên là 1999426 USD tương ứng tăng lên 12.579% tỷ suất
chi phí cũng tăng lên là 1.489% và điều này đã ảnh hưởng xấu làm tỷ suất lợi nhuận
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của khách sạn Daewoo Hà Nội năm 2010-2011
STT Các chỉ tiêu Đơn vị Năm 2010 Năm 2011
So sánh 2011/2010
%
1
Tổng doanh thu USD 23572341 25964215 +2391874 10.147
Doanh thu lưu trú USD 13327528 15027141 +1699613 12.753
Tỷ trọng % 56.539 57.876 +1.337
Doanh thu ăn uống USD 8126724 9113415 +986691 12.141
Tỷ trọng % 34.476 35.099 +0.623
Doanh thu dv bổ sung USD 2118089 1823659 -294430 (13.007)
nhưng cũng không ít thách thức đối với các khách sạn. Khách sạn Daewoo Hà Nội
cũng vậy, các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh lưu trú.
19
- Giá cả thị trường:
Giá cả tác động đến cả đầu ra và đầu vào của dịch vụ kinh doanh lưu trú theo
Cục Thống Kê Hà Nội cho biết, năm 2011 giá cả thị trường Hà Nội nói riêng và cả
nước nói chung đều biến động tăng, giảm bất thường chủ yếu do thiên tai, dịch bệnh
và phản ứng với những biến động của nền kinh tế. Đến năm 2011, tốc độ tăng trưởng
kinh tế của cả nước đạt 6.18%, vượt mục tiêu đề ra và đứng vào hàng các nên kinh tế
có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và trên thế giới. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân
năm 2011 tăng 18.58% so với năm 2010.
Giá phòng trong khách sạn Daewoo Hà Nội cũng chịu tác động của sự biến
động giá chung này do: giá cả nguyên vật liệu tăng, chi phí điện nước tăng…
- Chính sách nhà nước:
Với việc đưa ra hàng loạt các chính sách như chính sách thuế, thủ tục xuất
nhập cảnh, chính sách cho vay vốn ưu đãi và trợ giá phát triển sản phẩm, hỗ trợ xúc
tiến, quảng bá, đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch. Có thể nói chính sách nhà nước hiện nay
của Việt Nam đang là điểm thuận lợi cho việc kinh doanh của khách sạn. Với việc mở
cửa để hội nhập đã khiến lượng khách đến tham quan và lưu trú tại Việt Nam tăng lên.
Điều đó có nghĩa là lượng khách đến lưu trú tại khách sạn Daewoo Hà Nội sẽ có cơ
hội tăng lên. Hơn nữa chính sách tiền lương cũng được cải thiện rất nhiều, vì thế mà
tinh thần làm việc của nhân viên trong bộ phận kinh doanh lưu trú ngày càng hăng say,
làm việc hiệu quả cao hơn.
-Tính thời vụ du lịch:
Do hoạt động kinh doanh du lịch mang tính thời vụ rõ rệt, như vậy nhu cầu
lưu trú của khách du lịch trong khách sạn Daewoo Hà Nội thường không ổn định.
Thời tiết có những biến động cũng làm lượng khách lưu trú đến khách sạn
Daewoo Hà Nội giảm đi, ví dụ như các đợt nắng nóng kéo dài, hay mưa bão, khách du
lịch cũng hạn chế đến Hà Nội hơn. Vào mùa lễ hội hay dịp cuối năm lượng khách đến
khách sạn để lưu trú lại tăng mạnh, điều đó ảnh hưởng cả đến doanh thu cũng như việc
- Thay hoa tươi mỗi ngày trong phòng, nhằm tạo cho du khách cảm giác thoái
mái hơn.
- Dịch vụ lưu trú tại khách sạn Daewoo Hà Nội, khách sạn có nhiều loại phòng
có giá cả và chất lượng phù hợp với yêu cầu của khách đến lưu trú. Các dịch vụ lưu trú
đáp ứng sự trông đợi, làm hài lòng khách khi khách lưu trú tại khách sạn.
Khách sạn Daewoo Hà Nội tạo cho khách cảm giác thoải mái như chính “ở
ngôi nhà thứ hai của mình”.
* Thị trường khách tại khách sạn Daewoo Hà Nội
Trong thời gian qua, khách sạn Daewoo Hà Nội đã đón tiếp phục vụ rất nhiều
khách đến từ trong nước và các nước khác nhau trên thế giới, khách sạn Daewoo Hà
Nội đã chú trọng tới việc nâng cao chất lượng dịch vụ, tích cực mở rộng thị trường,
bên cạnh giữ vững thị trường truyền thống, mở rộng mối quan hệ liên doanh, liên kết
để nhằm tăng cường nguồn khách đến khách sạn. Dưới đây là bảng thống kê số lượng
khách lưu trú tại khách sạn Daewoo Hà Nội.
21
Bảng 2.2 Số lượng khách lưu trú tại khách sạn Daewoo Hà Nội
STT Năm 2010 2011
Quốc gia Lượt khách TT Lượt khách TT
1 Tổng số khách 87.07 100 99.78 100
2 Khách quốc tế 83.24 96 95.66 95.87
Nhật Bản 22.21 25 25.3 25.3
Trung Quốc 6.32 7 8.32 8.34
Hàn Quốc 15 17 17.3 17.3
Tây Âu 13.65 16 15.34 15.3
Bắc Âu 1.637 2 2.132 2.14
Trung Đông 0.598 1 0.798 0.8
Đông Nam Á 7.159 8 8.23 8.25
Đông Âu 6.934 8 7.823 7.84
Hòa Kỳ 7.03 8 7.27 7.28
Châu Úc 2.218 3 2.54 2.54
a, Cơ sở vật chất kỹ thuật
Để thu hút được nhiều đối tượng khách hàng, khách sạn đã có nhiều loại phòng
có giá cả và chất lượng phù hợp với yêu cầu của khách lưu trú. Khách sạn gồm 18 tầng
với 34 dãy phòng gồm 411 phòng trong đó có 330 phòng Deluxe, 47 phòng Executive
và 34 phòng suites :
Bảng 2.3 Tổng hợp các loại phòng của khách sạn Daewoo Hà Nội năm 2011
Loại phòng Số lượng Giá
Suites 34 470$-520$
Executive 47 290$-340$
Deluxe 330 250$-300$
Tổng số 411
Phòng Deluxe: Có diện tích 34m2 với một phòng tắm lát đá cẩm thạch, cửa sổ
lớn, khu tiếp khách có ghế sofa, bàn viết với ghế bành và một bar cá nhân. Tất cả các
phòng đều có tầm nhìn thành phố hoặc trông ra hồ Thủ Lệ.
Phòng Executive: Phòng có tất cả các trang thiết bị của phòng Deluxe, nằm
trên những tầng cao của khách sạn với một khu giải khát Executive nơi hàng sáng có
bữa sáng buffet, một khu làm việc cá nhân với internet tốc độ cao.
Phòng căn hộ: Có 34 phòng căn hộ và một phòng căn hộ loại Presidential. Tất
cả các phòng đều được trang bị sang trọng và hiện đại, nằm trên những tầng cao của
khách sạn. Có tầm nhìn bao quát Hà Nội và bể bơi của khách sạn.
23
Các phòng được trang bị điều hòa tại Khách sạn Daewoo Hà Nội có quầy bar
nhỏ và két. Tivi có các kênh truyền hình vệ tinh và VCR. Phòng tắm có vòi hoa
sen/bồn tắm kết hợp, áo choàng tắm, dép đi trong nhà và gương trang điểm/cạo râu.
Khách hàng có thể luyện tập trong phòng tập thể dục hoặc hướng đến phòng
xông hơi khô để thư giãn hay tận hưởng 1 liệu pháp tắm spa tại khách sạn. Dịch vụ
cho thuê ô tô và thu đổi ngoại tệ có thể được thực hiện tại bàn bán tour.
Khách sạn Daewoo Hà Nội có thể truy cập Internet với tốc độ cao có dây miễn
phí. Các tiện nghi hạng thương gia gồm bàn và báo miễn phí, cũng như điện thoại.
Ngoài ra, các phòng gồm nước đóng chai miễn phí và máy pha cà phê/trà. Khách có
c, Vốn
24
Khách sạn Daewoo Hà Nội có cơ cấu vốn gồm 80% vốn tự có, 20% vốn đi vay
từ các tổ chức khác. Trong đó vốn cố định 82%, vốn lưu động 18%. Với trọng tâm
kinh doanh lưu trú của khách sạn Daewoo Hà Nội dành phần lớn lượng vốn của mình
vào cho việc xây dựng phòng và cơ sở vật chất kỹ thuật lưu trú. Trong năm 2010
khách sạn đã bỏ ra 8198802USD, năm 2011 khách sạn bỏ ra 8740000 USD dành làm
vốn kinh doanh lưu trú. Đồng thời khách sạn đã rải ngân các khoản đầu tư để sửa,
nâng cấp các trang thiết bị vật chất trong phòng.
2.3.2 Kết quả đánh giá hiệu quả kinh doanh lưu trú tại khách sạn Daewoo Hà Nội
a, Chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp
Chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp này, chính là hiệu quả kinh doanh lưu trú tại khách
sạn Daewoo Hà Nội. Dưới đây là bảng phân tích hiệu quả kinh doanh lưu trú của
khách sạn Daewoo Hà Nội năm 2011.
Bảng 2.5 Hiệu quả kinh doanh lưu trú của khách sạn Daewoo Hà Nội
STT Chỉ tiêu
Đơn
vị
Năm So sánh
2010 2011 ± %
1 Doanh thu lưu trú USD 13327528 15027141 +1699613 12.753
2 Chi phí USD 7915234 8414924 +499690 6.313
3 Lợi nhuận sau thuế USD 3896851 4760796 +863945 22.17
4
Sức sản xuất kinh doanh
H=D/F
Lần 1.68 1.79 +0.11 6.55
5 Sức sinh lợi H=L/F Lần 0.49 0.57 +0.88 16.32
6 Tỷ suất lợi nhuận % 29.24 31.68 +2.44
Qua bảng phân tích tình hình kinh doanh lưu trú tại khách sạn Daewoo Hà Nội
Hiệu quả sử dụng lao động theo bảng trên được phản ánh như sau. Năng suất
lao động của nhân viên năm 2011 so với năm 2010 tăng lên là 15884.2 USD tương
ứng tăng lên 12.75%. Lợi nhuận bình quân của 1 nhân viên tạo ra tăng lên là 8074.25
USD tương ứng tăng lên là 22.17%. Hiệu quả sử dụng chi phí tiền lương tính theo
doanh thu của khách sạn tăng lên là 15884.24USD tương ứng tăng lên là 12.75%, hiệu
quả sử dụng chi phí tiền lương tính theo lợi nhuận tăng lên 8047.23 USD tương ứng
tăng lên 22.1%. Như vậy, hiệu quả sử dụng lao động trong kinh doanh lưu trú của
khách sạn Daewoo Hà Nội tương đối tốt.
* Hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh lưu trú tại khách sạn
Hiệu quả sử dụng vốn của khách sạn là tốt khi nó được phản ánh là tăng. Nhìn
vào bảng số liệu (2.7) ta thấy: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh lưu trú của khách sạn
Daewoo Hà Nội tính theo doanh thu năm 2011 so với năm 2010 tăng lên là 0.09 lần,
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh lưu trú tính theo lợi nhuận tăng lên là 0.06 lần. Hiệu
quả sử dụng vốn cố định tính theo doanh thu năm 2011 so với năm 2010 tăng lên 0.12
lần, hiệu quả sử dụng vốn cố định tính theo lợi nhuận tăng lên là 0.08 lần. Điều này
chứng tỏ khách sạn đã biết tận dụng rất hiệu quả khẳ năng tạo ra lợi nhuận từ vốn cố
định hiện có của khách sạn.
Bảng 2.7 Hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh lưu trú tại khách sạn
STT Chỉ tiêu
Đơn
vị
Năm So sánh 2011/ 2010
2010 2011 ± %
1 Doanh thu KD lưu trú USD 13327528 15027141 +1699613 12.753
2 Lợi nhuận KD lưu trú USD 3896851 4760796 +863945 22.17
3 Tổng vốn KD lưu trú USD 8198802 8740000 +541198 6.6
3.1 Vốn cố định KD lưu trú USD 6723018 7164230 +441212 6.56
3.2 Vốn lưu động KD lưu trú USD 1475784 1575770 +99986 6.78