Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo của NHTMCP Bắc Á, lãnh
đạo và các anh chị trong chi nhánh Thái Hà đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em
trong quá trình thực tập vừa qua. Đồng thời em xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Lê
Thị Kim Nhung, bộ môn Tài chính – Doanh nghiệp, Khoa Tài chính - Ngân hàng,
Trường Đại học Thương Mại đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp của mình.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nghiên cứu đề tài này nhưng do hạn chế về mặt thời
gian, kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nên khóa luận của em sẽ không thể tránh
khỏi thiếu sót, hạn chế. Chính vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các thầy giáo, cô giáo cùng các bạn để luận văn tốt nghiệp của em được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên: Nguyễn Đăng Hùng
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
1
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
2
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn
Bảng 2.2: Dư nợ cho vay tại ngân hàng Bắc Á – Chi nhánh Thái hà
Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh
Bảng 2.4: Bảng dư nợ cho vay
Bảng 2.5: Phân loại nợ
Bảng 2.6: Doanh số cho vay và dư nợ
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức của chi nhánh Thái Hà
dụng mang một tầm quan trọng không kém trong xu thế toàn cầu hóa, đặc biệt khi
Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Ngân hàng
TMCP Bắc Á – Chi nhánh Thái Hà cũng không nằm ngoài mối quan tâm đó.
Với đặc điểm của Ngân hàng Bắc Á thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và
nhỏ, đối tượng khách hàng chủ yếu là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ; nguồn thu
chủ yếu từ hoạt động tín dụng. Do đó, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu
hướng tập trung vào danh mục các khoản vay. Trên giác độ này, hiện nay hoạt động
cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á - Chi nhánh Thái Hà cũng còn
khá nhiều bất cập, như: chất lượng cho vay còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, chiếm lĩnh thị
trường về khách hàng còn hạn chế, cơ cấu nguồn vốn, dư nợ tín dụng đối với các
thành phần kinh tế, hiệu quả hoạt động cho vay chưa cao, chưa bền vững so với khả
năng, nên chưa tạo được động lực mạnh mẽ để mở rộng hoạt động và nâng cao khả
năng cạnh tranh. Để đứng vững và phát triển trong môi trường hoạt động ngày càng
đa dạng, tính cạnh tranh cao, phức tạp thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay
của Ngân hàng là một trong những vấn đề cần được đặc biệt chú trọng nghiên cứu.
Bằng lý luận trên, kết hợp với quá trình học tập ở trường, cũng như được trải
qua thời gian thực tập ở Ngân hàng TMCP Bắc Á, em đã lựa chọn đề tài “ Nâng cao
hiệu quả hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Bắc Á” làm chuyên đề tốt nghiệp
của em.
2. Mục đích nghiên cứu.
Xuất phát từ những khó khăn và hạn chế gặp phải trong hoạt động cho vay
của Ngân hàng Bắc Á – Chi nhánh Thái Hà, nên việc nghiên cứu đề tài nhằm mục
đích tìm hiểu một cách toàn diện và đánh giá tổng quan về hiệu quả cho vay tại chi
nhánh, tìm ra các vấn đề tồn tại gặp phải từ đó có thể đề ra các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả cho vay tại Ngân hàng Bắc Á - Chi nhánh Thái Hà.
3. Phạm vi nghiên cứu.
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
5
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Đề tài nghiên cứu hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại về khía
mang tính chất sống còn nhất đối với hầu hết các NHTM. Đây không chỉ là khoản
sử dụng vốn lớn nhất của ngân hàng, mà còn tạo ra nguồn thu nhập lớn nhất trong
tất cả các tài sản có sinh lời.
Cho vay dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất: Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi.
Thứ hai: Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích.
Thứ ba: Vốn vay phải có tài sản tương đương làm đảm bảo.
Vai trò của hoạt động cho vay: Cho vay là một hoạt động tín dụng điển hình
của NHTM có vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM nói riêng, khách hàng
và nền kinh tế nói chung.
- Đối với ngân hàng: Cho vay là hoạt động cơ bản của NHTM, là hoạt động
thường xuyên nhất và thu lợi nhuận nhiều nhất để đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của NHTM.
Thông qua hoạt động cho vay, Ngân hàng có thể điều hoà vốn, hạn chế rủi ro
về vốn, rủi ro thanh khoản…Hoạt động cho vay cũng góp phần cũng cố mối quan
hệ giữa khách hàng và Ngân hàng, hỗ trợ và cùng nhau phát triển. Thông qua hoạt
động cho vay, Ngân hàng có thể tìm thêm được những khách hàng mới, mở rộng
thêm các loại hình dịch vụ khác cho khách hàng như bảo lãnh, dịch vụ thanh toán
khách hàng, mua bán các giấy tờ có giá và các dịch vụ khác. Với mạng lưới Chi
nhánh rộng lớn, NHTM còn tạo điều kiện cho các công ty cổ phần có thể phát hành
cổ phiếu và các giấy tờ có giá để sử dụng khối lượng vốn lớn của xã hội, đáp ứng
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
1
1
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
các nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp, trên cơ sở đó mở rộng sản xuất kinh
doanh.
Hoạt động cho vay còn góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Ngân hàng,
nâng cao trình độ quản lý, khả năng của cán bộ, nhân viên Ngân hàng, giải phóng
năng lực sản xuất, tạo điều kiện phát triển kinh tế, công ăn việc làm…
2
2
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
đẩy việc tiêu dùng hàng hoá, tăng sản lượng bán hàng cho doanh nghiệp, kích thích
phát triển nền kinh tế.
Với chức năng trung gian tích tụ và tập trung vốn tạo bước nhảy vọt cho nền
kinh tế. Hoạt động cho vay của NHTM làm cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn
ra thường xuyên liên tục, là đòn bẩy kinh tế quan trọng để các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế, các cá nhân sử dụng vốn có hiệu quả, thực hiện tái sản xuất mở rộng,
ứng dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại, nâng cao năng suất và hiệu quả
kinh tế, tạo ra thêm nhiều sản phẩm hàng hoá tiêu dùng. Góp phần nâng cao đời
sống vật chất cho xã hội.
Vai trò của hoạt động cho vay đối với mối quan hệ quốc tế: Đầu tư vốn ra
nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá đang là hai lĩnh vực hợp tác
kinh tế thông dụng và phát triển giữa các nước. Ngân hàng với khả năng đặc biệt
của mình là nơi cung cấp vốn cho các hoạt động này và thông qua đó góp phần mở
rộng mối quan hệ hợp tác kinh tế văn hoá với các nước.
Qua hoạt động cho vay đối với nền kinh tế, NHTM thực hiện chức năng tạo
tiền của mình và trực tiếp điều chỉnh lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế. Ngân
hàng Nhà nước có thể gián tiếp thực hiện thay đổi lượng tiền trong lưu thông bằng
chính sách điều chỉnh tỷ lệ dữ trữ bắt buộc hoặc hạn mức cho vay đối với các
NHTM. Qua đó Nhà nước có thể thực hiện chính sách tiền tệ của mình, đảm bảo
cho sự ổn định và phát triển của đồng tiền cũng như nền kinh tế.
Thông qua Chính sách của Nhà nước, hoạt động cho vay sẽ góp phần cơ cấu
lại nền kinh tế quốc dân, bằng việc NHTM thực hiện các chính sách về lãi suất, thời
hạn cho vay, mức cho vay đối với từng ngành, từng vùng kinh tế… Tạo điều kiện
thuận lợi nhất để Nhà nước thực hiện mục tiêu khác nhau như ưu tiên đầu tư phát
triển những vùng, ngành kinh tế trọng điểm đảm bảo ổn định và phát triển cho đất
nước. Mặt khác, cho vay góp phần làm tăng cường chết độ hạch toán kinh tế của
các doanh nghiệp
Cho vay chiết khấu chứng từ có giá: chiết khấu chứng từ có giá là một nghiệp
vụ tín dụng ngắn hạn được thực hiện dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu
chứng từ cho ngân hàng để nhận một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi mức chiết
khấu.
Nghiệp vụ thấu chi: Nghiệp vụ thấu chi được thực hiện bằng cách cho phép
khách hàng được dư nợ tài khoản vãng lai một số lượng tiền nhất định và trong một
thời gian nhất định.
- Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, cho vay trung hạn có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. Cho vay trung hạn
chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết
bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô
nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
4
4
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh
nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới hoạt động.
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm tối đa có thể lên
đến 20 – 30 năm. Cho vay dài hạn là loại cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu dài
hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng
nhà xưởng và các xí nghiệp mới …vv
1.1.2.3 Dưạ vào hình thức đảm bảo của các khoản vay.
- Cho vay có đảm bảo: Đây là những khoản vay mà khi ngân hàng cho khách
hàng vay vốn, ngân hàng sẽ nắm giữ tài sản của người đi vay với mục đích xử lý tài
sản đó để thu hồi vốn vay khi khách hàng vi phạm hơp đồng vay. Khi cho vay ngân
hàng thường không trực tiếp quản lý nguồn vốn của mình nên có rất nhiều rủi ro
xảy ra, khả năng không thu hồi được vốn là rất cao do vậy khi cho vay ngân hàng
thường yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo cho khoản vay.
Trong cho vay kinh doanh nguồn thu lợi thứ nhất đó là doanh thu đối với vốn
phân tán, xa ngân hàng. Trong trường hợp như vậy cho vay trung gian có thể tiết
kiệm được chi phí cho vay.
Cho vay trung gian đều nhằm mục đích giảm bớt rủi ro chi phí của ngân
hàng. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ những khuyết điểm, nhiều tổ chức đã lợi dụng vị
thế của mình, nếu ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay lại
hoặc giữ số tiền của các thành viên cho riêng mình.
1.1.3 Nội dung và quy trình cho vay của ngân hàng thương mại.
Quy trình cho vay là tập hợp các bước, các chuẩn mực mà ngân hàng thiết
lập nhằm hướng dẫn cho các cán bộ tín dụng khi thực hiện cấp một khoản tín dụng.
Việc xây dựng một quy trình cho vay hoàn thiện có ảnh hưởng rất lớn tới
hoạt động cho vay nói riêng và hiệu quả cho vay nói chung. Một quy trình cho hợp
lý và chặt chẽ sẽ giảm thiểu tối đa các rủi ro tín dụng từ đó nâng cao chất lượng
khoản vay và hiệu quả cho vay.
Quy trình cho vay bao gồm các bước sau:
Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng. Một
bộ hồ sơ vay vốn cần thu thập các thông tin:
Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự
Khả năng sử dụng vốn vay
Khả năng hoàn trả nợ (nợ gốc và lãi vay)
Thường thì các thủ tục do ngân hàng quy định bao gồm:
Đơn xin vay
Các tài liệu liên quan tới thông tin về người vay và thuyết minh khoản tín dụng
như:
Tài liệu pháp lý: Quốc tịch, tuổi, nơi cư trú… (như chứng minh thư và hộ khẩu
ở Việt Nam)
Các tài liệu thông tin: nghề nghiệp, nguồn thu nhập, thu nhập hàng thàng, tình
trạng gia đình, trình độ học vấn…
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
6
quả của quá trình phân tích và thẩm định ở khâu trước, tuy nhiên để hạn chế sai lầm
trong khâu quyết định có 2 vấn đề phải chú trọng đó là:
- Ngoài nguồn thông tin được thu thập và xử lý hồ sơ tín dụng do giai đoạn
trước chuyển sang, ngân hàng cần dựa vào các nguồn thông tin thu thập được từ
nhiều nguồn khác như từ các công ty nghiên cứu thị trường, chính sách tín dụng của
ngân hàng, các quy định về hoạt động tín dụng của của NHNN, nguồn vốn cho vay
của Ngân hàng, kết quả thẩm định việc thực hiện đảm bảo nợ vay, “chữ tín” của
người vay trong quan hệ với ngân sách và các tổ chức tín dụng khác
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
7
7
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
- Nên trao quyền quyết định cho vay cho một hội đồng tín dụng hoặc những
người có năng lực phân tích và phán quyết tùy theo quy mô vốn vay.
Sau khi ra quyết định tín dụng, nếu chấp thuận cho vay, cán bộ tín dụng sẽ
hướng dẫn khách hàng ký kết hợp đồng tín dụng và làm các bước tiếp theo. Nếu từ
chối cho vay, ngân hàng có văn bản trả lời và giải thích lý do cho khách hàng được
rõ.
Kể từ thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng thành lập bộ hồ sơ tín
dụng bao gồm các giấy tờ hình thành từ hia giai đoạn trước cùng bản hợp đồng mới
được ký kết. Hồ sơ cho vay là cơ sở pháp lý quan trọng chứng minh sự hình thành,
tồn tại và kết thúc quan hệ tín dụng với khách hàng.
Bước 4: Giải ngân
Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng trên cơ sở hạn
mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng.
Tùy vào hình thức và quy mô của món vay cụ thể mà ngân hàng sẽ áp dụng
phương thức giải ngân cho phù hợp
Thông qua giải ngân, ngân hàng kiểm soát được mục đích của việc sử dụng vốn
vay, đồng thời phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai sót nếu có ở các khâu
trước. Tuy nhiên, giải ngân phải đảm bảo đúng tiến độ trong hợp đồng tín dụng đã
Trong trường hợp này hai bên ngân hàng và khách hàng thanh lý hợp đồng tín dụng
mặc nhiên. Còn trong trường hợp ngân hàng giám sát và phát hiện khách hàng vi
phạm những cam kết ghi trong hợp đồng tín dụng nghiêm trong, có thể ảnh hưởng
đến khả năng thu hồi nợ sau này, ngân hàng có thể đề nghị và tiến hành thanh lý
hợp đồng bắt buộc.
1.2 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM
1.2.1 Hiệu quả hoạt động cho vay
Để xem xét một NHTM choạt động có hiệu quả hay không, trước hết ta phải
hiểu hiệu quả là gì và hiệu quả được xác định như thế nào
Hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được và
chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Hiệu quả tín dụng là hiệu quan trọng việc sử dụng khoản vốn vay của Ngân
hàng cũng như việc sử dụng vốn đi vay của khách hàng. Do đó, một khoản tín dụng
tốt phải mạng lại hiệu quả kinh tế cho NH và cho khách hàng. Cụ thể là nó phải
được sử dụng đúng mục đích và tạo ra cho khách hàng một khoản lợi nhuận tối ưu
sau khi đã trả nợ gốc và lãi cho NH cùng với những khoản phí khác đúng thời hạn.
Nếu chỉ có lợi ích về một bên thì không thể coi khoản tín dụng đó có chất lượng tốt
vì tín dụng ngân hàng luôn gắn liền với hiệu quả đầu tư, hiệu quả SX –KD của
khách hàng.
Hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM được phản ánh thông qua hiệu quả
kinh tế và hiệu quả xã hội mà hoạt động này mang lại.
Hiệu quả kinh tế là một số tương đối phản ánh kết quả đạt được với chi phí
bỏ ra. Trong hoạt động cho vay của NHTM, hiệu quả kinh tế được đo bằng chi tiêu
doanh thu hoặc lợi nhuận từ hoạt động cho vay thu được trong kỳ kinh doanh.
Hiệu quả kinh tế của NHTM phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lức sẵn có
trong hoạt động cho vay, đầu tư, kinh doanh dịch vụ nhằm đạt được những lợi ích
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
9
9
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
và tác động của hoạt động cho vay đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Như vậy, về mặt định tính, hiệu quả hoạt động cho vay được đánh giá qua các mặt
sau:
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
10
10
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Một là, khả năng thu hồi được vốn gốc và lãi trong khoảng thời gian đã quy
định trong hợp đồng vay vốn. Nghĩa là, hoạt động sử dụng vốn vay của người vay
phải bảo đảm để NHTM thực hiện được chức năng vốn có của nó, đồng thời phải
mang lại thu nhập cho NHTM đủ để trang trải các khoản chi phí liên quan và hạn
chế thấp nhất nguy cơ rủi ro( không thu hồi được vốn cho vay hoặc thu hồi chậm,
thu hồi không đủ,…).
Hai là, hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM còn thể hiện ở khả năng đáp
ứng tốt nhu cầu vốn cho khách hàng như: cung cấp vốn đầy đủ, nhanh chóng, kịp
thời. Qua đó, bên đi vay sẽ tiết kiệm được các chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian
và nhất là sẽ không bỏ lỡ những cơ hội sản xuất kinh doanh tốt.
Ba là, hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM thể hiện thông qua hiệu quả
sử dụng vốn vay của người sử dụng vốn. Nghĩa là, bên đi vay sử dụng vốn vay để
đầu tư phục vụ tốt hoạt động sản xuất kinh doanh, mang lại lợi nhuận cho chính
khách hàng. Qua đó, khách hàng đảm bảo khả năng trả nợ tốt cho ngân hàng.
Bốn là, hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM thể hiện thông qua sự đóng
góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của vùng, địa phương và cả nước. Kết quả
này đạt được khi cả bên sử dụng vốn và NHTM đều hoạt động tốt. Hoạt động của
NHTM sẽ đóng góp vào việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất
phát triển, tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá – hiện đại hóa, tạo thêm việc làm cho người lao động, nâng
cao mức sống cho người dân… Đây là chỉ tiêu phát triển bền vững trong mối tương
quan giữa NHTM, khách hàng và xã hội.
Hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM là một chỉ tiêu tổng hợp, được đánh
khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu này biểu hiện khả năng cho vay của NHTM.
Nếu tổng vốn huy động cao, khả năng cho vay của NHTM lớn và ngược lại. Tuy
nhiên, cũng cần kết hợp với các chỉ tiêu định lượng khác để đánh giá hiệu quả hoạt
động cho vay. Nếu tổng vốn huy động của NHTM lớn, trong khi doanh số cho vay
nhỏ, tốc độ tăng doanh số cho vay chậm thì hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM
thấp.
Hiệu quả sử dụng vốn(%):
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn = x 100
Tổng nguồn vốn
Hiệu suất sử dụng vốn cho biết trong một đồng vốn của NHTM cho vay là
bao nhiêu. Chỉ tiêu này nói lên khả năng cho vay so với tổng nguồn vốn của
NHTM, tỷ lệ này nhỏ hơn 1; nếu gần bằng 1, ngân hàng phải chú ý đề phòng mất
khả năng thanh toán, tỷ lệ này thấp chỉ ra khả năng mở rộng hoạt động, hiệu quả
cho vay thấp, cần tăng trưởng dư nợ hoặc giảm nguồn vốn huy động nhằm hạn chế
rủi ro nguồn vốn tác động đến hiệu quả hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, cũng cần kết
hợp với các chỉ tiêu khác để đánh giá một cách tổng quát, không chỉ dựa trên cơ sở
chỉ tiêu này để đánh giá một cách tổng quát, không chỉ dựa trên cơ sở chỉ tiêu này
để đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM thuần tuý.
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
12
12
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Tỷ lệ nợ quá hạn(%):
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng đối với các khoản
vay. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng ngân hàng càng kém và
ngược lại. Chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạn nhất định được coi như giới hạn an toàn.
tại địa phương của ngân hàng. Chỉ tiêu này lớn thể hiện vốn huy động tham gia vào
dư nợ ít, khả năng huy động vốn của Ngân hàng chưa tốt.
Tổng dư nợ / Tổng nguồn vốn: Chỉ số này đánh giá mức độ tập trung vốn tín
dụng của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng
càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại ngân hàng gặp khó khăn, nhất là trong việc
tìm kiếm khách hàng.
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CHO VAY CỦA NHTM
Ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với các chủ thể trong nền kinh tế. Các tổ
chức và các cá nhân trong nền kinh tế chính là nguồn “ năng lượng sống” nuôi
dưỡng, duy trì hoạt động của các ngân hàng thương mại. Tất cả các nghiệp vụ của
ngân hàng thương mại mà trong đó có nghiệp vụ cho vay vốn đều được thực hiện
thông qua mối quan hệ đó. Chính vì vậy, việc sử dụng vốn trong hoạt động cho vay
của ngân hàng có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó có kể đến
2 nhân tố quan trọng ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động cho vay của ngân
hàng, đó là nhân tố chủ quan( nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng) và nhân tố
khách quan( nhân tố bên ngoài ngân hàng).
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về chính bản thân ngân hàng. Đối
với các ngân hàng hoạt động trong cùng một môi trường thì nhân tố có sức ảnh
hưởng lớn và gây tác động trực tiếp đến hoạt động cho vay của ngân hàng phải là
các nhân tố nội tại thuộc về bản thân chính ngân hàng đó. Bao gồm:
1.3.1.1 Công tác tổ chức của ngân hàng
Tổ chức ngân hàng phải được sắp xếp một cách khoa học, đảm bảo sự phối
hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong từng ngân hàng, trong toàn bộ
hệ thống ngân hàng, cũng như giữa ngân hàng với các cơ quan khác như tài chính
pháp lý… Nó phải tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, giúp
ngân hàng theo dõi, quản lý sát sao các khoản cho vay, các khoản huy động vốn,
thực hiện tốt các loại hình dịch vụ ngân hàng. Đây là cơ sở để tiến hành hoạt động
sử dụng vốn có hiệu quả.
ngoài nước, từ các nguồn thông tin khác( báo, đài, tòa án). Số lượng, chất lượng của
thông tin thu nhận được có liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích,
nhận định tình hình thị trường, khách hàng…để đưa ra những quyết định phù hợp.
Vì vậy, thông tin càng đầy đủ, nhanh nhạy, chính xác và toàn diện thì tạo ra
khả năng hoạt động cho vay của NHTM càng có hiệu quả. Tất nhiên, không phải
bất kỳ ngân hàng nào có công nghệ hiện đại cũng thu hút được nhiều vốn hơn, hiệu
quả sử dụng vốn tốt hơn so với các ngân hàng khác, mà ở đây còn có mối tương
quan với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội và như thế việc đầu tư cho công nghệ
của ngân hàng vốn rất tốn kém sẽ trở nên lãng phí, kém hiệu quả.
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
15
15
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
1.3.1.4 Chất lượng nhân sự
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động nghiệp vụ và
quản lý kinh doanh ngân hàng. Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân
sự ngày càng cao để có thể đáp ứng kịp thời, có hiệu quả các yêu cầu cao trong huy
động vốn, sử dụng vốn. Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt, giỏi
về chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với nghề sẽ giúp cho ngân
hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi thực hiện các hoạt
động cho vay.
1.3.1.5 Kiểm soát nội bộ
Đây là biện pháp giúp cho Ban lãnh đạo ngân hàng có được bức tranh về tình
trạng hoạt động kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động kinh doanh
đang được xúc tiến, phù hợp với các chính sách, đáp ứng được các mục tiêu đã
định.
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
16
16
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
ngân hàng đáp ứng đầy đủ về số lượng tiền, với thời hạn và lãi suất được xác định
rõ ràng và có thể chấp nhận được. Nếu nhu cầu vốn của khách hàng được chấp nhận
với thái độ niềm nở và thủ tục đơn giản sẽ thu hút được nhiều khách hàng tốt, tạo
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
17
17
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
điều kiện cho hoạt động cho vay được thuận lợi, hiệu quả kinh doanh ngân hàng sẽ
cao.
- Về phía ngân hàng: Là chủ thể đại diện cho bên cầu đặt ra với bên cung
thông qua việc huy động vốn để cho vay. Đồng thời ngân hàng cũng đại diện cho
bên cung qua việc cấp tín dụng. Quy mô và phạm vi hoạt động tín dụng phụ thuộc
vào vốn tự có của ngân hàng, khả năng huy động vốn, uy tín và trình độ quản lý của
ngân hàng( trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ, mạng lưới hoạt động, các công cụ quản lý
kinh doanh…).
1.3.2.3 Môi trường pháp lý
Bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ thống nhất, kịp thời
của văn bản dưới luật. Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp thì mọi
hoạt động kinh tế sẽ không thể tiến hành trôi chảy được. Pháp luật là cơ sở pháp lý
để giải quyết các khiếu nại, tranh chấp có thể xảy ra, vì vậy nó có vị trí hết sức quan
trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. Chỉ trong điều kiện các chủ thể
tham gia quan hệ với ngân hàng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh thì hiệu
quả hoạt động cho vay mới cao, hoạt động cho vay mới đem lại lợi ích cho cả ba
phía là Nhà nước, khách hàng và ngân hàng.
1.3.2.4 Các nhân tố về phía khách hàng
Khách hàng chính là đối tác hay là con nợ của ngân hàng trong hoạt động cho
vay.Do vậy khách hàng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động cho vay của ngân
hàng.
Ảnh hưởng của khách hàng có thể xét trên hai khía cạnh là khả năng và ý chí
trả nợ của khách hàng.
với đối thủ cạnh tranh và phải nâng cao, tăng cường các hoạt động của mình vượt
đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, khách hàng có sự lựa chọn của mình khi gửi tiền, sử
dụng dịch vụ và vay tiền của Ngân hàng nào có lợi cho họ. Nếu như đối thủ cạnh
tranh mà chiếm ưu thế hơn so với Ngân hàng thì sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn
Ngân hàng thậm chí khách hàng của Ngân hàng cũng chuyển sang đối thủ cạnh
tranh. Do đó để mở rộng hoạt động cho vay thì việc nghiên cứu tìm hiểu đối thủ
cạnh tranh để ngày càng chiếm ưu thế hơn là vô cùng quan trọng.
SV: Nguyễn Đăng Hùng Lớp: K44H5
19
19