Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
MỤC LỤC
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã và đang đưa nhân loại
tiến xa hơn nữa, có sự nhảy vọt về mọi mặt, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội. Đất nước đang trong quá trình hội nhập sâu rộng với nền kinh tế các nước
trong khu vực. Chúng ta đang từng bước đổi mới nhằm nâng cao đời sống vật chất
cũng như tinh thần cho nhân dân. Kinh tế vĩ mô đã vạch rõ những vấn đề phát sinh
từ thực tiễn như: thất nghiệp, lạm phát, môi trường, các tệ nạn xã hội… đang thực
sự cần phải quan tâm và được giải quyết. Trong công cuộc đổi mới của nước ta
hiện nay, thất nghiệp và các chính sách giải quyết việc làm vẫn luôn là vấn đề
nóng bỏng và không kém phần bức bách, được toàn xã hội quan tâm. Hơn thế,
cuộc khủng hoảng kinh tế đã và đang diễn ra trên toàn cầu lại càng đẩy thất
nghiệp lên cao, thậm chí tới mức báo động. Ngay cả những nước là đầu
tàu của nền kinh tế thế giới cũng không thoát khỏi tình trạng đáng buồn
trên, như Mỹ, Anh, Pháp… Bởi bất kỳ một quốc gia nào, dù nền kinh tế
có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì vẫn tồn tại thất nghiệp, đó là vấn
đề không thể tránh khỏi, chỉ có điều thất nghiệp ở mức thấp hay cao mà
thôi. Ở Việt Nam hiện nay, thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp cũng
đang là vấn đề nóng được Đảng, nhà nước và các cấp các ngành hết
sức quan tâm. Bởi hậu quả của tình trạng thất nghiệp đã và đang tác
động nhiều đến đời sống kinh tế xã hội của cả nước. Cho dù bảo hiểm
thất nghiệp đã được triển khai từ ngày 01- 01- 2009, song do nhiều lần
triển khai và rơi đúng vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nền chính sách
bảo hiểm thất nghiệp và quá trình tổ chức thực hiện chính sách không
thể tránh khỏi những khiếm khuyết. Đây cũng chính là lý do mà nhóm
nghiên cứu của mình. Nhóm em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Bảo
hiểm trường Đại học Kinh tế quốc dân, đặc biệt là thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Văn
Định đã tận tình giúp đỡ chúng em hoàn thành chủ đề nghiên cứu này.
Hà nội, tháng 4 năm 2013
4
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
CHƯƠNG I: THẤT NGHIỆP VÀ BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường, nguyên nhân và hậu quả
1.1.1. Thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.1. Thất nghiệp và tình hình thất nghiệp
Bảng 1.1. Tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam trong những năm 2008 - 2011
Năm 2008 2009 2010 2011
Thành thị 4,56 4,6 4,43 3,6
Nông thôn 1,53 2,29 2,27 1,71
(Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)
Thực trạng thất nghiệp của Việt Nam trong những năm gần đây:
- Năm 2008:
• Tỉ lệ thất nghiệp của VN ở vào khoảng 4,56%
• Số người mất việc khoảng 667.000 người lao động từ nước ngoài trả về
trước thời hạn.
• Hàng vạn người bị nợ lương, không có tiền thưởng.
• Xuất khẩu lao động gặp nhiều khó khăn.
• Năm 2008, tổng việc làm mới được tạo ra chỉ là 800.000 so với khoảng 1,3
triệu việc làm mới được tạo ra trong năm 2007.
• Nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã cắt giảm lao động.
• Tăng trưởng DGP giảm từ 8,5%( 2007) xuống còn 6,23%.
- Năm 2009
• Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi KV thành thị là 4,6% và tỷ lệ thiếu việc làm
trong độ tuổi KV nông thôn đã ở mức 6,3%.
6
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
càng dài thêm.
Tỷ trọng lao động thất nghiệp của nữ giới là 57,5%, còn của nam giới là
42,5%.
• Năm 2009: Đây là năm đầu tiên Chính Phủ thực hiện chính sách đóng bảo
hiểm thất nghiệp, nhằm bù đắp một phần thu nhập cho người lao động bị mất việc
làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, đồng thời tạo điều kiện để họ có cơ hội tìm
được việc làm trong thời gian sớm nhất.
Theo báo cáo của Bộ Lao Động – Thương binh và xã hội, đến cuối năm 2009,
cả nước đã có 133 262 lao động bị mất việc làm – chiếm 18% lao động làm việc
trong các doanh nghiệp có báo cáo, chưa kể 40 348 lao động ở các làng nghề bị mất
việc làm và khoảng 100 000 người phải giảm giờ làm, nghỉ luân phiên.
Tỷ trọng lao động thất nghiệp nữ và nam lần lượt là 50, 2% và 49, 8%.
Tỷ lệ thất nghiệp chung là 4, 66%, tỷ lệ thiếu việc làm của Việt Nam ở mức 5,
1%. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn lên tới 6, 1%, còn khu vực thành
thị là 2, 3%.
•Năm 2010:
Tỷ lệ thất nghiệp chung giảm 0, 02%. Tại cuộc họp báo ngày 31/12, Tổng cục
thống kê cho biết, lực lượng lao động trong độ tuổi của nước ta năm 2010 khoảng
46, 21 triệu người, tăng 2, 12% so với năm 2009. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp năm
2010 là 2, 88%
•Năm 2011:
Theo số liệu vừa được Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công
bố, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2011 là 2, 27%.
•Năm 2012:
Theo số liệu Tổng cục thống kê vừa công bố hôm nay (24/12), năm 2012, tỷ lệ
thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 1, 99%, giảm so với mức 2, 27% năm 2011.
Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi tại khu vực thành thị là
3, 25%, khu vực nông thôn là 1, 42% ( năm 2011 các tỷ lệ tương ứng là: 2,22%;
dài; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đào tạo lại và tạo điều kiện cho người lao động
8
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
học tập suốt đời để không lạc hậu trước công nghệ mới và đẩy mạnh xuất khẩu lao
động. Thực hiện việc lồng ghép các chương trình mục tiêu về việc làm với các
chương trình, dự án khác nhằm nâng cao chất lượng cung, điều chỉnh cung lao động
phù hợp cầu lao động, đẩy mạnh kết nối cung - cầu và trực tiếp làm tăng quy mô
việc làm hay gián tiếp tạo ra việc làm mới.
1.1.1.2. Hiện tượng mùa thất nghiệp xảy ra hàng loạt
Mùa thất nghiệp mà một khái niệm chỉ thất nghiệp theo mùa cả những người
chưa có công việc ổn định. Hiện tượng lạ này thường xuất hiện ở khu vực có sự
thay đổi chóng mặt về mùa hoặc tập chung lượng lớn lao động eo hẹp về kỹ năng.
Theo nhà nghiên cứu nghề nghiệp Charles: tỷ lệ thất nghiệp thường xảy ra ở
những khu vực thường xuyên có sự thay đổi nhanh chóng về mùa trong năm. Thêm
vào đó, hiện tượng này cũng xuất hiện ở cộng đồng người thiếu trình độ. Những
người di cư với thời gian làm việc ngắn cùng nguồn thu không cố định cũng gây ra
hiện tượng thất nghiệp theo mùa này.
Nông nghiệp là một trong những nghề phổ biến nhất về tỷ lệ nghiệp theo mùa
do tính thời vụ của nó. Những nước thiên về nền kinh tế nông nghiệp thương phải
đối mặt với vấn nạn này cùng với đó là sự “bí” trong việc tìm hướng giải quyết.
Chung số phận với nông nghiệp là các ngành liên quan đến chế biến hoa quả công
nghiệp. Chẳng hạn như ở phía Tây Ấn Độ, nơi trồng rất nhiều loại xoài Alphonso.
Mùa hái quả thường kéo dài từ tháng ba đến tháng năm. Khoảng hai tháng đó,
những người làm nghề hái quả sẽ rất bận rộn, nhưng đến gần cuối năm họ sẽ mất
việc vì lúc đó là nhiệm vụ của các nhà máy chế biến xoài xuất khẩu. Hoặc là xoay
nghề khác để kiếm sống hoặc ngồi chờ đến vụ xoài năm sau. Đó là lý do tỉ lệ thất
nghiệp theo mùa tăng cao.
Dịch vụ cũng là ngành chịu tác động lớn của hiện tượng thất nghiệp theo mùa
này. Mỗi quốc gia lại có mùa du lịch riêng tùy thuộc vào vị trí và thời gian tốt nhất
để khách du lịch đến tham quan. Ở đỉnh cao của mùa giải, các ngành dịch vụ như
ti: thời gian thất nghiệp của nhóm i.
- Sự thay đổi về tỷ lệ thất nghiệp và thời gian thất nghiệp theo thời gian:
Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng= tổng số ngày công làm việc thực tế*
10
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
100% / tổng số ngày công có nhu cầu làm việc.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động= lực lượng lao động* 100% / dân số
trưởng thành.
- Ngoài ra, ở các nước phát triển còn sử dụng chỉ số “ số giờ làm việc trong
tuần” để biểu diễn mức độ sử dụng nhân công trong một nền kinh tế.
Các khái niệm về thất nghiệp:
+ Là những người trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, mong muốn
làm việc nhưng lại không tìm được việc làm: nữ 18 55, nam 18 60.
Người trong tuổi lao động có 2 loại:
•Lực lượng lao động ( người có việc làm trong hoạt động kinh tế xã hội và
người không có việc làm nhưng mong muốn tìm được việc làm)
•Người ngoài lực lượng lao động như sinh viên, người bệnh tật, ốm đau,
người nội trợ,….
+ Là những người ngoài tuổi lao động = dân số - người trong tuổi lao động.
Có thể nhận thấy, những khái niệm trên có tính quy ước thống kê và có thể
khác nhau giữa các quốc gia. Do tình hình kinh tế và đặc điểm tuổi thất nghiệp có
sự khác nhau giữa các nước nên việc xác định những tiêu thức làm cơ sở xây dựng
những khái niệm trên cần tiếp tục dược thảo luận.
1.1.2.2. Phân loại thất nghiệp:
+ Theo lý do thất nghiệp:
•Tự ý bỏ việc: Là những người đang có việc làm nhưng tự ý xin thôi việc
vì lý do nào đó.
•Mất việc do doanh nghiệp cho nghỉ.
•Những người mới ra nhập lực lượng lao động nhưng chưa có việc làm:
thanh niên đến tuổi lao động, sinh viên ra trường nhưng chưa có việc.
- Thất nghiệp tạm thời ( fricstional unemployment) xuất hiện khi không có
sự ăn khớp về nhu cầu trong thị trường lao động.
- Thất nghiệp cơ cấu xuất hiện do sự dịch chuyển cơ cấu giữa các ngành
trong nền kinh tế hoặc sự thay đổi phương thức sản xuất trong một ngành.
•Thất nghiệp chu kỳ (cyclical unemployment): là mức thất nghiệp tương ứng
12
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
với từng giai đoạn trong chu kì kinh tế, do trạng thái tiền lương cứng nhắc tạo ra, là
dạng thất nghiệp sẽ mất đi trong dài hạn.
•Thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển: xảy ra khi tiền lương được ấn định không
bởi các lực lượng thị trường mà cao hơn mức tiền lương thực tế cân bằng của thị
trường.
+ Theo lý thuyết hiện đại
Gồm có thất nghiệp tự nhiên, thất nghiệp tự nguyện, thất nghiệp bắt buộc.
Trong đó, thất nghiệp= thất nghiệp bắt buộc + thất nghiệp tự nguyện.
Trong trường hợp thị trường lao động cân bằng:
Thất nghiệp bắt buộc= 0.
Thất nghiêp= thất nghiệp tự nhiên.
1.1.3. Nguyên nhân và hậu quả của thất nghiệp
1.1.3.1. Nguyên nhân
a, Xét theo góc độ kinh tế vĩ mô
Kinh tế học vĩ mô đã cho chúng ta nhận thức được rõ ràng các loại hình thất
nghiệp trong nền kinh tế, gồm có thất nghiệp tự nhiên và thất nghiệp chu kì.
+ Thất nghiệp tự nhiên là loại hình thất nghiệp mà nền kinh tế luôn hướng tới
trong dài hạn. Thất nghiệp tự nhiên bao gồm các loại hình thất nghiệp sau:
- Thất nghiệp tạm thời: bắt nguồn từ sự dịch chuyển bình thường của thị
trường lao động. Một nền kinh tế vận hành tốt là nền kinh tế đảm bảo sự ăn khớp
giữa công nhân và việc làm. Nhưng trong một nền kinh tế phức tạp, chúng ta
không thể hy vọng những sự ăn khớp như vậy xuất hiện tức thì vì trên thực tế,
công nhân có những sở thích, năng lực, thuộc tính, sự tiếp cận các luồng thông tin
giá mức độ ảnh hưởng của chúng đến từng loại hình thất nghiệp theo bảng 1:
14
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
Bảng 1.2. Nguyên nhân gắn với các loại hình thất nghiệp
Nguyên nhân thất nghiệp
Thất
nghiệp
tạm thời
Thất
nghiệp cơ
cấu
Thất
nghiệp nhu
cầu
* Không có thông tin về tình hình trên thị
trường lao động.
+++
* Do sự di chuyển của người lao động +++
* Tham gia thị trường lao động lần đầu +++ ++
* Tham gia lại thị trường lao động của những
người trước đây tự nguyện thất nghiệp
+++ ++
* Lạm phát ++
* Mất đất nông nghiệp do làm KCN, KCX ++ ++
* Tăng quy mô lực lượng lao động +++
* Trình độ đào tạo không phù hợp với yêu cầu
làm việc
+++
* Cơ cấu nghiệp vụ (nghề) theo vùng về số
lượng và chất lượng không phù hợp
Nam vẫn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư ngoại quốc và xuất khẩu.
•Nếp nghĩ có từ lâu trong thanh niên: Thói quen đề cao việc học để “ làm
thầy” và “ thích làm Nhà nước, không thích làm cho tư nhân” ; Một bộ phận trẻ
ngộ nhận khả năng của bản thân hoặc tự ti, không đánh giá hết khả năng của
bản thân.
•Lao động Việt Nam có trình độ tay nghề thấp: Tỷ lệ lao động được dào
tạo nghề rất thấp (khoảng 26%).
•Kỹ năng không đáp ứng được yêu cầu mới, tính chuyên nghiệp không cao.
•Lao động vẫn trong tình trạng chất lượng thấp, công việc chắp vá, không
ổn định.
• Do trình độ học vấn.
• Tỷ lệ sinh đẻ cao.
•Do cơ cấu ngành nghề không phù hợp.
•Do chính sách nhà nước.
16
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
1.1.3.2. Hậu quả của thất nghiệp
Thất nghiệp là vấn đề nan giải, tồn tại xuyên suốt trong quá trình phát triển
của mỗi quốc gia. Chúng ta chấp nhận một điều rằng, trong nền kinh tế của mỗi
quốc gia, luôn tồn tại ít nhất một tỉ lệ thất nghiệp, đó là tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên
mà trong dài hạn nền kinh tế luôn hướng tới, để đảm bảo cân bằng xã hội, cũng
như cung cấp nhân công khi có thêm những ngành nghề mới, hoặc thay thế một số
lao động khi họ về hưu, hoặc gặp những rủi ro trong lao động. Tuy nhiên, thất
nghiệp ở các quốc gia nói chung đều cao hơn mức thất nghiệp tự nhiên, thậm chí
là vượt xa. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế nói riêng và toàn xã
hội nói chung. Cụ thể sẽ được đề cập rõ trong phần này.
Ở góc độ vi mô, thất nghiệp làm tăng tỉ lệ tội phạm, tỉ lệ tự tử và suy giảm
chất lượng cuộc sống. Những người không có việc thường có xu hướng suy nghĩ
tiêu cực, sẽ dẫn đến sa đà vào các tệ nạn xã hội, như ma túy, cờ bạc, mại dâm. Đặc
biệt, tỉ lệ thất nghiệp chủ yếu là rơi vào những người trẻ tuổi – chủ nhân tương lai
tài năng, họ nhận thức rất rõ về vấn đề này, nên sẽ đi tìm kiếm những nơi có điều
kiện, tiềm năng để có thể phát huy khả năng của mình. Điều đó gây ra hiện tượng
chảy máu chất xám trong toàn xã hội.
1.1.4. Biện pháp giải quyết tình trạng thất nghiệp
Hiệu quả can thiệp của Chính phủ vào lĩnh vực lao động - việc làm để đảm
bảo an sinh xã hội hoặc tạo điều kiện tăng độ linh hoạt mềm dẻo của thị trường
lao động- nhằm mục tiêu việc làm đầy đủ, việc làm bền vững và có hiệu quả- phụ
thuộc trước hết vào việc đánh giá đúng những nguyên nhân gây ra từng loại hình
thất nghiệp và lựa chọn những công cụ, giải pháp phù hợp. Những biện pháp cơ
bản sau đã phần nào được thực hiện và đạt được hiệu quả:
•Cần đưa ra một cơ chế phù hợp tạo điều kiện cho thị trường lao động phát
triển. Song hành là những giải pháp tăng đào tạo cho lực lượng lao động, bao gồm
18
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
cả đào tạo lực lượng lao động chất xám.
•Một trong những chính sách quan trọng nhất là tiền lương, thu nhập của
người lao động. Chính sách tiền lương cần được mở theo xu hướng không quy
định mức lương khung đồng đều cho từng vị trí ở các thành phần doanh nghiệp
khác nhau, mà điều này phải để cho thị trường lao động điều tiết.
•Với độ thoáng của tiền lương, ở đâu có chất lượng lao động tốt, ở đó tiền
lương, thu nhập của người lao động sẽ cao.
•Chính sách dân số.
•Ngăn cản dân di cư từ nông thôn ra thành thị.
•Áp dụng các công nghệ thích hợp.
•Giảm độ tuổi nghỉ hưu.
•Chính phủ tăng đầu tư cho ngành kinh tế.
•Trợ cấp thôi việc, mất việc làm.
•Trợ cấp thất nghiệp.
•Bảo hiểm thất nghiệp.
Bảng 1.3 giới thiệu những công cụ, giải pháp được lựa chọn để hạn chế thất
+ +++ +
* Sử dụng Quỹ Giải quyết việc làm hỗ trợ các DN
tuyển dụng lao động là người yếu thế.
+++
* Cho vay đối với những lao động phải nghỉ việc do
những nguyên nhân từ phía DN
+ ++ ++
* Cho những người thất nghiệp, người thiếu việc làm
vay vốn để tự tạo việc làm
+++ ++
* Cho DN vay ưu đãi để mở rộng sản xuất ++ ++
* Đẩy mạnh xuất khẩu lao động + +++
* Lồng ghép các chương trình mục tiêu về việc làm
với các chương trình, dự án khác.
+ +++ +++
* Tổ chức việc làm can thiệp + +++
* Tổ chức việc làm công cộng + +++
* Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về lao động + +++ +++
20
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
- việc làm
2. Những công cụ và giải pháp khác
* Quy hoạch phát triển vùng kinh tế, ngành kinh tế +++ +++
* Cải cách DNNN ++ +++
* Ưu tiên khu vực DN vừa và nhỏ +++ +++
* Chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng
miền núi, biên giới, hải đảo, vùng nông thôn nghèo.
+ ++ +++
* Chế độ nghỉ hưu linh hoạt ++ ++
* Nghĩa vụ phục vụ quân đội, công an +++
nhiều doanh nghiệp phá sản, hàng nghìn lao động rơi vào cảnh thất nghiệp. Sau 2
năm thực hiện, Bảo hiểm thất nghiệp đã mang lại những thành công nhất định,
cũng như tác dụng tích cực về mặt kinh tế xã hội
1.2.2. Đối tượng và phạm vi của bảo hiểm thất nghiệp
+ Người lao động: Là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao
động, hợp đồng làm việc sau đây với người sử dụng lao động:
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi
sáu tháng.
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
- Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi
sáu tháng.
22
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
- Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, kể cả những người được tuyển
dụng vào làm tại các đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước trước ngày Nghị
định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ quy định về
tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp nhà
nước.
+ Người sử dụng lao động: Có sử dụng từ 10 người lao động trở lên tại doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức sau:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ
trang nhân dân.
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề
nghịêp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức
chính trị - xă hội và tổ chức xă hội khác.
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Lụât Doanh nghiệp, Luật Đầu tư.
- Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp
tác xã.
- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử
dụng và trả công cho người lao động.
a. Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp
- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong vòng hai mươi
bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng
làm việc.
- Đă đăng kí thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm thất nghiệp và có đơn đề nghị
hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
Việc đăng kí thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm thất nghiệp:
Trong thời hạn 7 ngày (không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần)
kể từ ngày bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm
việc, người lao động phải đến tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp nơi nộp hồ sơ
tham gia bảo hiểm thất nghiệp để đăng kư thất nghiệp.
24
Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp
- Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng kí thất nghiệp.
b. Các trường hợp không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật.
- Bị xử lư kỷ luật theo h́nh thức sa thải.
- Bị kết án tù giam theo quyết định của toà án.
- Chết hoặc mất tích theo tuyên bố của Toà án.
1.2.3.4. Các chế độ bảo hiểm thất nghiệp
a. Trợ cấp thất nghiệp.
Mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền
công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi bị mất việc làm
hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định
của pháp luật về cán bộ, công chức.
- Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng phụ thuộc vào thời gian
làm việc có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động:
+ 03 tháng, nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
+ 06 tháng, nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
+ 09 tháng, nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.