THIẾT KẾ MÔN HỌC
KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
ĐỀ TÀI : HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG SAU KHI GIA NHẬP WTO . THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ
Giáo viên giảng dạy : Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên: Phạm Thị Hoài Phương
Lớp : Kinh tế ngoại thương AK10
Trường : ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
1
Mục lục
Chương 1 : Khái quát chung về nội dung đề tài nghiên cứu
I. Gạo và tình hình xuất khẩu gạo ở Việt Nam
II. Vài nét khái quát về Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)
III. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
Chương 2 : Các cơ chế quản lí và chính sách ngoại thương, tác động của
việc gia nhập WTO
I. Cơ chế quản lí và chính sách ngoại thương của Việt Nam đối với
hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
II. Một số vấn đề liên quan đến thuế xuất khẩu gạo
III. Tác động của việc gia nhập WTO
Chương 3 : Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
I. Thực trạng
II. Ưu điểm , hạn chế và nguyên nhân
III. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu gạo ở
ĐBSCL cũng như ở Việt Nam
2
CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
I – Gạo và tình hình xuất khẩu gạo ở Việt Nam
Gạo là lương thực quan trọng , là nhu cầu thiết yếu để duy trì sự sống.
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Lượng
(%)
Trị giá
(%)
Lượng
(%)
Trị giá
(%)
Tổng cộng 499.726 259.835.357 6.886.177 3.247.860.368 +0,48 +6,39 +15,57 +21,92
Philippines 3.350 2.604.750 1.475.821 947.378.774 +231,68 +243,79 -13,59 +3,30
Indonesia 267.000 136.712.375 687.213 346.017.268 +7,73 +13,81 +3763,79 +4696,30
Singapore 12.085 6.491.437 539.298 227.791.806 -50,91 -47,91 +64,65 +70,51
Cu Ba 45.720 25.592.664 472.270 209.216.943 +75,85 +79,60 +4,96 +9,52
Malaysia 42.265 18.111.200 398.012 177.688.707 -3,88 +2,96 -35,09 -34,72
Đài Loan 5.358 3.155.732 353.143 142.704.502 -75,02 -70,81 +72,30 +74,85
Hồng Kông 9.755 6.326.600 131.123 65.176.239 -34,50 -26,25 +194,00 +222,42
Trung Quốc 12.805 7.530.276 124.466 54.636.941 +158,69 +180,38 * *
Đông Timo 13.000 6.374.500 116.727 51.526.939 * * * *
Nga 6.225 2.872.520 83.696 36.059.497 +2390,00 +2245,78 -1,12 -2,78
Nam Phi 1.502 774.010 31.798 13.365.042 +20,16 +23,10 -14,64 -18,34
Brunei 2.414 1.480.840 15.140 7.658.566 * * * *
Ucraina 350 208.650 13.156 6.149.166 +40,00 +69,29 -64,98 -60,95
tôm sú Người dân sống rất giản dị và có lòng mến khách.
ĐBSCL là vùng có khí hậu cận xích đạo vì vậy nên rất thuận lợi để phát triển
ngành nông nghiệp (mưa niều ,nắng nóng) đặc biệt là phát triển trồng lúa nước
và cây lương thực . Lúa được trồng nhiều nhất ở các tỉnh
An Giang , Kiên Giang ,Long An ,Đồng Tháp ,Sóc Trăng ,Tiền Giang .Diện
tích và sản lượng thu hoạch chiếm hơn 50% so với cả nước .Bình quân lương
thực đầu người gấp 3 lần so với lương thực trung bình cả nước . Cây lúa – cây
trồng chủ lực , là sản phẩm chuyên môn hóa cao nhất của vùng ĐBSCL. Vùng
ĐBSCL có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất lúa gạo của cả nước, kết
quả sản xuất lúa gạo của khu vực này quyết định an ninh lương thực quốc gia.
Hàng năm lúa gạo của vùng ĐBSCL đóng góp phần lớn vào việc cung ứng cho
nhu cầu trong nước và chiếm tới 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước.Mỗi
năm ĐBSCL sản xuất ra gần 20 triệu tấn lúa, xuất khẩu hàng triệu tấn gạo góp
phần đưa Việt Nam lên vị thế của một trong những nước xuất khẩu gạo hàng
đầu thế giới. ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước , chiếm
đến 33,2% giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước .Trong đó lúa chiếm :51,1%
diện tích ,52% sản lượng và 90% lượng gạo xuất khẩu của quốc gia . Nhờ vậy
nên ĐBSCL là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của Việt Nam.
III - Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
Hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu gạo ở ĐBSCL nói riêng đều có vai
trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế như:
_ Xuất khẩu tạo được nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất
nước.
6
_ Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
_ Có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời
sống nhân dân.
7
_ Là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta.
Hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng chịu
thương phù hợp để đưa hoạt động xuất khẩu ngày càng phát triển. Để đẩy
mạnh xuất khẩu, Nhà nước phải có những biện pháp chính sách khuyến khích
ở mức cao nhất các nghành sản xuất cho xuất khẩu, các doang nghiệp tham
gia vào quá trình xuất khẩu và quốc tế hóa nhằm phát huy mọi tiềm năng và
nội lực của đất nước,đồng thời khai thác tối đa sự hỗ trợ và hợp tác của cộng
đồng quốc tế. Và hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL cũng rất được quan tâm
9
đến.Dưới đây là một vài cơ chế quản lí và các chính sách ngoại thương đối
với hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL:
_ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo
hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị
trường và điều kiện sinh thái của vùng ĐBSCL; chuyển dịch cơ cấu ngành,
nghề, cơ cấu lao động , tạo việc làm ,thu hút nhiều lao động ở nông thôn.
_ Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp, chú trọng đến cây lúa
nhiều hơn nữa.
_ Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông
nghiệp nhất là công nghệ sinh học với công nghệ thông tin, làm tốt
công tác chuyển giao giống mới, cải tiến kĩ thật canh tác.
_ Tiếp tục phát triển và hoàn thiện về cơ bản hệ thống thủy lợi ngăn mặn,
giữ ngọt, kiểm soát lũ, bảo đảm tưới tiêu an toàn, chủ động cho sản xuất nông
nghiệp và đời sống nông dân. Có biện pháp điều chỉnh quy hoạch sản xuất và
dân cư sao cho thích nghi được với điều kiện tự nhiên, đề phòng khi có thiên
tai,bão lũ Nâng cao năng lực dự báo thời tiết và khả năng chủ động phòng
chông thiên tai, hạn chế thiệt hại.
_Nâng cao chất lượng cây lúa tiến tới cung cấp đẩy đủ lương thực cho toàn
đất nước ngoaì ra còn dư ra để xuất khẩu ngày càng nhiều hơn ,giảm tổn thất
hao hụt, nâng cao chất lượng sản phẩm.
_Việt Nam thực hiện chính sách thỏa đáng đảm bảo nguồn lúa cho ngành
công nghiệp xuất khẩu gạo,kết hợp với chính sách liên kết vùng với
Campuchia sẽ là điểm nhấn quan trọng hình thành chuỗi xuất khẩu lớn nhất
gạo xuất khẩu, với mong muốn vừa kiểm soát được giá gạo trong nước không
quá leo thang, vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.Tuy nhiên, đến nay,
11
Việt Nam vẫn chưa tính toán được tác động của chính sách điều chỉnh giá
gạo bằng hạn ngạch; nhưng một điều chắc chắn là Chính phủ Việt Nam
không thu được thuế từ xuất khẩu gạo để góp phần làm giảm thâm hụt ngân
sách. Trong khi đó, do khủng hoảng thiếu hụt lương thực trầm trọng trên thế
giới, nhiều nước xuất khẩu gạo chính ở châu Á đang thắt chặt xuất khẩu gạo
đã đẩy giá gạo tăng mạnh. . “Với nông dân, áp dụng hạn ngạch xuất khẩu gạo
hay thu thuế xuất khẩu gạo đều giống như nhau’’. Khi giá gạo nội địa quá
cao, Chính phủ có thể tăng thuế xuất khẩu để làm giảm lượng gạo xuất khẩu
và ngược lại, khi giá gạo trong nước xuống thấp, có thể điều chỉnh giảm thuế
để đẩy mạnh xuất khẩu, giúp tiêu thụ lúa gạo nội địa. "Thuế xuất khẩu gạo tác
động trực tiếp tới lợi nhuận của các DN kinh doanh gạo một cách công bằng
và gián tiếp điều chỉnh giá gạo thị trường trong nước".
Chúng ta có thể tham khảo biểu thuế tuyệt đối với gạo xuất khẩu
sau:
STT
Giá gạo xuất khẩu theo giá FOB
(USD một tấn)
Mức thuế tuyệt đối
(đồng một tấn)
1 Từ 800 đến dưới 900 800.000
2 Từ 900 đến dưới 1.000 1.200.000
3 Từ 1.000 đến dưới 1.100 1.500.000
4 Từ 1.100 đến dưới 1.200 1.900.000
5 Từ 1.200 đến dưới 1.300 2.300.000
6 Từ 1.300 trở lên 2.900.000
Một DN xuất khẩu gạo ở ĐBSCL phàn nàn rằng, chính sách hạn ngạch xuất
khẩu gạo hiện nay trên lý thuyết có vẻ đơn giản, chỉ cần đầu năm Chính phủ
Thứ nhất, Việt Nam trở thành thành viên của WTO sẽ khắc phục được tình
trạng bị phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế. Ví dụ như sự đối xử tối huệ
quốc (MFN) không điều kiện, thuế quan thấp cho hàng xuất khẩu của Việt
Nam,thúc đẩy việc thâm nhập thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Việt
Nam,cải thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại với các nước, sự đối xử
theo hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập và củng cố cải cách kinh tế Việt
13
Nam.Đặc biệt, các hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay đã đem lại cho Việt
Nam các lợi ích như : Đẩy mạnh thương mại và quan hệ của Việt Nam với các
thành viên khác trong WTO và đảm bảo nâng cao vai trò quan trọng của Việt
Nam trong các hoạt động kinh tế và chính trị toàn cầu như là một thành viên
của WTO.
Thứ hai ,gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản
phẩm Việt Nam và thúc đẩy thương mại phát triển. Việt Nam sẽ có cơ hội xuất
khẩu những mặt hàng tiềm năng ra thế giới trong đó Gạo cũng là mặt hàng có
cơ hội được xuất khẩu rất nhiều.Cơ hội xuất khẩu bình đẳng sẽ có những ảnh
hưởng tích cực đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, sản xuất sẽ
được mở rộng và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động .Việt Nam là
một tron g những nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, Việt Nam sẽ có nhiều
thị trường xuất khẩu gạo hơn vì hạn ngạch nhập khẩu gạo sẽ được thay thế
bằng thuế và thuế sẽ phải được cắt giảm theo lộ trình quy định của WTO .Nước
ta cũng có lợi nhiều khi các thị trường gạo mở cửa, đặc biệt là thị trường Nhật
Bản và Hàn Quốc.
Thứ ba, Việt Nam sẽ có lợi từ việc cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp khi
có quan hệ với các cường quốc thương mại chính.Việt Nam có thể cải thiện vị
trí của mình trong các cuộc đàm phán thương mại, có điều kiện tiếp cận các
quy tắc công bằng và hiệu quả để giải quyết các tranh chấp thương mại.Những
nguyên tắc của WTO đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
cũng sẽ có lợi vì sẽ nhận được một số ưu đãi đặc biệt như được miễn trừ sự
ngăn cấm trợ cấp xuất khẩu
kiểm dịch động thực vật và hàng rào kỹ thuật thương mại ,nên việc thực thi sẽ
rất khó khăn. Điều này không chỉ yêu cầu Việt Nam phải thông qua các luật lệ,
quy định phù hợp với WTO và nền kinh tế thị trường, mà còn đòi hỏi tình hình
15
thực tiễn phải đáp ứng được các yêu cầu của WTO.Để sớm đạt mục tiêu gia
nhập WTO nhằm mở rộng thị trường cho hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam
được đối xử bình đẳng, thu hút vốn và công nghệ, đòi hỏi có sự phối hợp chặt
chẽ đồng bộ của tất cả các bộ các ngành từ khâu chuẩn bị đàm phán và đổi mới
cơ chế chính sách cho phù hợp với các cam kết quốc tế, đến sự chuẩn bị cho
nền kinh tế sẵn sàng đương đầu với các thách thức, sự vươn lên vượt bậc của
các doanh nghiệp với sự hỗ trợ của Nhà nước và sự tranh thủ thái độ thiện chí
của các nước thanh viên WTO để đưa ra những yêu cầu hợp lý phù hợp với
điều kiện Việt Nam.
16
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
GẠO Ở ĐBSCL
I – Thực trạng
Chúng ta có thể nhìn qua bảng số kiệu sau đây:
Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2004-2008
2004 2005 2006 2007 2008
Sản lượng (Nghìn Tấn) 4,055 5,202 4,749 4,500 4,741.9
Tốc độ tăng (%) 106.3 128.3 91.3 94.8 105.4
Kim ngạch (triệu USD) 941 1,399 1,306 1,454 2,894.4
Tốc độ tăng (%) 130.6 148.7 93.4 111.3 199.1
Đơn giá trung bình
(USD/Tấn)
232.1 268.9 275.0 323.1 610.4
Tốc độ tăng (%) 100.0 115.9 102.3 117.5 188.9
Từ bảng số liệu trên ta có thể thấy: trong giai đoạn từ năm 2004 – 2008, sản
triệu tấn chiếm gần 67% sản lượng lúa của cả nước. Đây là một năm khó
khăn nhưng ĐBSCL nói riêng vá cả nước nói chung đã vượt qua được khó
khăn đưa xuất khẩu lúa gạo nước ta tăng trưởng cao. Cả nước xuất khẩu
18
6,828 triệu tấn gạo,đạt kim ngạch 3,212 tỷ USD , tăng 20,6% so với năm
2009, vẫn xuất khẩu chủ yếu sang các nước như năm 2009.Dẫn đầu vẫn là
thị trường philippines với 1,48 triệu tấn trị giá 947,38 triệu USD (chiếm
21,4% về lượng và 29,17% tổng kim ngạch) ,thị trường Indonesia với trên
687 nghìn tấn trị giá 346,02 triệu USD( chiếm 9,98% về lượng và chiếm
10,65% tổng kim ngạch); Singapore với 539,3 nghìn tấn, trị giá 227,79 triệu
USD (chiếm 7,83% về lượng và chiếm 7,01% tổng kim ngạch); tiếp đến Cu Ba
gần 472,3 nghìn tấn, trị giá 209,22 triệu USD (chiếm 6,86% về lượng và chiếm
6,44% tổng kim ngạch); sau đó là 2 thị trường cũng đạt kim ngạch trên 100
triệu USD là: Malaysia 177,69 triệu USD; Đài Loan 142,7 triệu USD. Ngoài
ra, còn một số nước ở Tây Phi cũng nhập khẩu gạo của nước ta trong năm 2010
này như :xuất 225 tấn gạo sang beclin, 98.000 tấn sang Bờ biển ngà, 2.600 tấn
sang Nigeria, 19.000 tấn sang Senegal Riêng Đồng Bằng Sông Cửu Long
năm 2010 đã sản xuất 24 triệu tấn lúa chiếm 60% tổng sản lượng và 90% xuất
khẩu của toàn quốc, trong đó thì 20% đã được dự trữ . Tuy xuất khẩu gạo cũng
đạt được nhiều thành công bước đấu nhưng nước ta không quên chuẩn bị
những điều kiện, chính sách mới để chuẩn bị cho một năm mới năm 2011 đạt
được nhiều thành công hơn.
Trong năm nay, năm 2011 các cơ quan quản lí ngành nông nghiệp đặt kì vọng
rất cao cho xuất khẩu gạo. Mức kì vọng từ 7,1- 7,4 triệu tấn .
Theo thống kê của VFA lượng gạo xuất khẩu đã kí hợp
đồng là hơn 1,5 triệu tấn ,tăng 15,7% so với cùng kì năm trước. Số lượng hợp
đồng đăng kí trong tháng 1/2011 cũng đạt mức cao, chủ yếu là 2 hợp đồng tập
trung với Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a chiếm trên 300 nghìn tấn. Tháng 1/2011
là tháng đầu năm có số lượng giao hàng cao nhất từ trước đến nay.Theo hiệp
19
bangladesh đạt 350-400 tấn, thì đến năm 2011 này dự kiến lượng xuất khẩu sẽ
là 500 tấn.Sự kiện này tạo đà cho xuất khẩu gạo ở ĐBSCL ngày càng tăng
trưởng nhanh về sản lượng cũng như chất lượng. Uy tín về gạo của ĐBSCL nói
riêng và VN nói chung ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
II – Ưu điểm , hạn chế và nguyên nhân
21
1 . Những ưu điểm của hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
Đồng Bằng Sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất cả nước. Đóng góp một phần
hết sức quan trọng đối với việc cung cấp lương thực cho trong nước cũng như
xuất khẩu. Chính vì những điều đó mà khu vực ĐBSCL có rất nhiều lợi thế và
ưu điểm để phát triển ngành lúa gạo.
ĐBSCL có diện tích đất trồng trọt lớn, phi nhiêu phù hợp với việc trồng lúa đem
lại năng suất cao.
ĐBSCL còn nhận được rất nhiều ưu đãi do chính phủ tạo điều kiện nhằm ngày
càng nâng cao sản lượng và chất lượng cho ngành sản xuất lúa ở đây.
Điều kiện tự nhiên và điều kiện khí hậu ở ĐBSCL cũng tương đối phù hợp để
phát triển ngành sản xuất lúa gạo xuất khẩu.
Những người dân ở đây rất nhanh nhẹn nhạy bén với cái mới tích cực áp dụng
các công nghệ, máy móc tiên tiến vào sản xuất lúa gạo xuất khẩu.
Tóm lại ,ĐBSCL có rất nhiều ưu điểm và lợi thế để tăng cường hoạt động xuất
khẩu gạo sang các thị trường thế giới. Sản xuất lúa gạo xuất khẩu ở ĐBSCL là
hoạt động quan trọng góp phần không hề nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu gạo của
cả nước ta.
2 . Một số hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó đối với hoạt động
xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
Bên cạnh những ưu điểm trên thì hoạt động xuất khẩu gạo ở ĐBSCL cũng gặp
không ít những hạn chế và khó khăn. Đó cũng là những điều làm đau đầu các
nhà quản lí xuất khẩu gạo và còn làm giảm thu nhập của những người nông
dân trồng lúa ở đây.
Điều kiện tự nhiên ở ĐBSCL không phải lúc nào cũng thuận lợi mà cũng có
sự chênh lệch nay là một bất lợi lớn trong cạnh tranh.
Hạn chế tiếp theo không thể không kể đến đó là những hạn chế về công nghệ,
nguồn nhân lực, cách thức thu hoạch, bảo quản, chế biến còn lạc hậu. Chất
lượng gạo chưa được đồng đều, gạo bị xáo trộn rất nhiều. Quy mô sản xuất của
các hộ nông dân thường nhỏ bé ,manh mún nên việc cải thiện công nghệ cũng
như đầu tư vào sản xuất cho xuất khẩu gặp nhiều khó khăn.
Cùng với đó là sự thiếu hiểu biết về thị
trường , chưa biết chọn thời điểm nào bán chạy nhất khiến cho hoạt động xuất
khẩu gạo diễn ra không được như mong muốn và lợi nhuận từ hoạt động này
mang lại đôi khi sẽ rất ít.
Giá lúa năm nay có diễn biến hết sức thất thường, sau vụ thu hoạch lúa đông
xuân. Mặc dù các doanh nghiệp đã mua tạm trữ gạo nhưng giá gạo vẫn giảm
trong thời gian gần đây. Ví dụ như chỉ trong thời gian 4 ngày từ 29/4 dến 2/5
giá lúa gạo đã giảm từ 500 – 800 đồng/kg gây thiệt hại và thêm phần lo lắng
cho nông dân,các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở ĐBSCL cũng như cả nước.
24
Thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu tập trung ở các thị trường Châu á là chủ yếu,
doanh nghiệp vẫn chưa kí được những đơn đặt hàng lớn mà chủ yếu là dựa vào
các mối quan hệ ở tầm chính phủ. Đây chính là hạn chế và là một nguyên nhân
gây lên sự biến động thất thường của giá cả, nông dân thì lo lắng còn doanh
nghiệp thì chần chừ không thu mua lúa gạo vì sợ lỗ. Khâu thu mua không ổn
định, giá lúa lúc lên lúc xuống, gạo khi thiếu khi thừa. Nhiều khi cần gạo xuất
khẩu nhưng lại hết.
Việc quản lí chuỗi cung ứng gạo cũng như tính toán chuỗi giá trị gạo ở khu vực
ĐBSCL còn nhiều hạn chế, nên giá thành và chất lượng hạt gạo làm ra còn
kém sức cạnh tranh, chưa có nhãn hiệu cạnh tranh cao.Trong đó, những hoạt
động trong chuỗi cung ứng như : nhà cung ứng đầu vào, người sản xuất, chế
biến, phân phối, tiếp thị và tiêu dùng chưa thật sự gắn kết với nhau để xây
dựng thương hiệu, tạo ra sản phẩm chất lượng ổn định có uy tín trên thị trường.
Hiện xuất khẩu gạo ở ĐBSCL ,chủ yếu được vận chuyển bằng đường bộ và