CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 16

CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
MỞ ĐẦU
Theo đặc điểm của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hệ thống thu ngân
sách nhà nước của Việt Nam giai đoạn từ năm 1990 trở về trước chủ yếu từ kinh tế
quốc doanh và có sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế (giữa khu vực kinh tế quốc
doanh và khu vực kinh tế tập thể, cá thể). Song song với vấn đề đó là hệ thống bộ máy
quản lý cồng kềnh, kém hiệu quả do thiếu mối quan hệ và kết hợp giữa nhiều cơ quan
quản lý khác nhau cùng tồn tại. Năm 1990, nguồn thu thuế chỉ đáp ứng được 47% nhu
cầu chi ngân sách, do đó, chi ngân sách phải dựa vào nguồn thu khác rất lớn (43%),
trong đó chủ yếu là dựa vào vay nợ, viện trợ nước ngoài và cả biện pháp phát hành
tiền. Điều này làm cho tình trạng nợ công của Việt Nam trong giai đoạn này trở nên
căng thẳng. Nếu tình trạng khủng hoàng nợ công này kéo dài sẽ dẫn đến hậu quả nặng
nề cả về mặt kinh tế lẫn chính trị cho Việt Nam.
Từ đó, yêu cầu cấp bách được đặt ra là phải cải cách hệ thống thu ngân sách
nhà nước, mà một trong những nhiệm vụ chính yếu là cải cách hệ thống thuế theo
định hướng mục tiêu là xóa bỏ hệ thống thu theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung và
hình thành một hệ thống thu thuế thích ứng với cơ chế thị trường đang chuyển đổi.
Như vậy, đến giai đoạn hiện nay, tình trạng nợ công quá cao của Chính phủ
Việt Nam đã được khắc phục như thế nào sau 20 năm tiến hành cải cách, đặc biệt là
cải cách hệ thống thuế. Đây chính là mục tiêu trọng tâm mà nội dung đề tài tiểu luận
này muốn hướng đến.
Với định hướng như trên, bố cục của bài tiểu luận như sau:
√ Chương 1: Sơ lược các nội dung cải cách thuế của Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay – Tầm nhìn đến năm 2020.
√ Chương 2: Nợ công ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp.
GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 1
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHƯƠNG 1: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY – TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020

(10/03/1993); Thuế chuyển quyền sử dụng đất (01/07/1994). Bằng hình thức pháp
lệnh có: Thuế tài nguyên (30/03/1990); Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
(27/12/1990); Thuế nhà đất (31/07/1992).
Nhìn chung, mục tiêu của giai đoạn cải cách thuế bước 1 nhằm phù hợp với
nền kinh tế đa thành phần bằng việc thiết lập nền tảng cơ bản cho khối kinh tế ngoài
quốc doanh, đặc biệt là khuyến khích cá nhân bỏ vốn kinh doanh. Tuy nhiên, phần lớn
các sắc thuế đưa ra trong giai đoạn cải cách đầu tiên đều bắt nguồn từ hệ thống thuế
theo cơ chế cũ, vì vậy không tránh khỏi tồn tại một số cơ chế mang tính phân biệt đối
xử mà các sắc thuế trước đó vốn có. Tồn tại này của hệ thống ngày càng ảnh hưởng
đến sự phát triển của nền kinh tế đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, kế hoạch
hoá, sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chiến lược phát triển
kinh tế dựa vào xuất khẩu. Điều này thúc đẩy sự ra đời của giai đoạn cải cách thuế
bước 2.
2. Cải cách thuế bước hai (1997 – 2002):
Giai đoạn cải cách thuế này ưu tiên cải cách thay thuế doanh thu bằng thuế
giá trị gia tăng (GTGT), và thay thuế lợi tức bằng thuế thu nhập doanh nghiệp
(TNDN). Lúc này tình hình kinh tế đã thay đổi khi Việt Nam bước đầu tham gia vào
các Hiệp định thương mại quốc tế và song phương, và đang nỗ lực đàm phán gia nhập
vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Việc ban hành thuế GTGT, với tính chất
trung lập đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, đã đáp ứng yêu cầu phù hợp với
thông lệ quốc tế và khuyến khích xuất khẩu. Thuế TNDN được cải cách theo hướng
thống nhất áp dụng đối với các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, đáp ứng yêu cầu gia nhập
WTO.
Tuy nhiên, cải cách thuế giai đoạn này vẫn tồn tại nhiều hạn chế như: hệ
thống thuế chưa thực sự đồng bộ, phù hợp với cơ chế thị trường; chưa xóa bỏ triệt để
các bao cấp qua thuế; chính sách thuế còn có những điểm quy định chưa chặt chẽ, tạo
GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 3
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Đẩy mạnh cải cách hệ thống thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai;
tách chính sách xã hội ra khỏi chính sách thuế.
Nhanh chóng hiện đại hóa và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý thuế;
khắc phục các hiện tượng tiêu cực, yếu kém làm cho bộ máy quản lý thuế trong sạch,
vững mạnh.
3. Nội dung cải cách hệ thống thuế.
Cải cách thể chế nhằm xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ, có cơ cấu phù
hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với hiện đại hóa công
tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách động viên thu nhập quốc dân, đảm bảo
nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Cải cách và hiện đại hóa công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế nhằm
mục tiêu chiến lược là tuyên truyền chính sách pháp luật thuế và cung cấp dịch vụ hỗ
trợ người nộp thuế có chất lượng cao từ đó nâng cao sự hiểu biết pháp luật về thuế, sự
ủng hộ mạnh mẽ của các tổ chức cá nhân trong toàn xã hội, góp phần nâng cao tính
tuân thủ tự nguyện các luật thuế của người nộp thuế.
Cải cách và hiện đại hóa công tác thanh tra nhằm nâng cao chất lượng và hiệu
quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời
các trường hợp vi phạm luật thuế đảm bảo công bằng xã hội và hiệu luật quản lý thuế.
Cải cách và hiện đại hóa công tác quản lý thu nợ thuế là nhằm đổi mới công
tác thu nợ, đảm bảo số trường hợp nợ và số thuế nợ hàng năm phát sinh giảm so với
năm trước, chống thất thu thuế hiệu quả thông qua kịp thời phát hiện và xử lý các
người nộp thuế cố ý chây ỳ, nợ thuế, chiếm đoạt tiền thuế và các khoản tiền phạt liên
quan đến thuế. Cải cách và hiện đại hóa hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về tổ chức,
cá nhân nộp thuế nhằm xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu của ngành thuế
phục vụ cho yêu cầu quản lý thuế hiện đại, hiệu quả theo mô hình quản lý theo chức
năng và ứng dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 5
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Phát triển tin học thực hiện mục tiêu hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý

cũng được ban hành dưới hình thức pháp lệnh và áp dụng thống nhất cho cả nước,
bình đẳng đối với mọi thành phần kinh tế.
Trong giai đoạn cải cách bước 3, Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung các Luật
thuế: Luật thuế Giá trị gia tăng (GTGT); Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB); Luật
thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN); Luật thuế xuất, nhập khẩu (XNK); Pháp lệnh
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (TNC); …
Hầu hết các Luật, Pháp lệnh thuế sửa đổi, bổ sung và ban hành mới đều giảm
nghĩa vụ cho người nộp thuế, tạo điều kiện tích lũy, tái sản xuất mở rộng cho người
dân và doanh nghiệp: Về thuế GTGT: mở rộng diện không chịu thuế và thuế suất 0%;
áp dụng 2 mức thuế suất thấp 5% và 10%, bỏ mức thuế suất cao 20%. Về thuế
TNDN: Giảm thuế suất mức phổ thông từ 32% xuống còn 28%, từ 1-1-2009 hạ xuống
còn 25%. ; Về thuế TNCN: cho tính triết trừ gia cảnh ở mức cao hơn đồng thời giảm
mức thuế suất cao nhất từ 45% xuống còn 40%. Thuế CQSD đất giảm 5 lần; lệ phí
trước bạ tài sản giảm 2 lần. Hầu hết các loại phí, lệ phí mức tiêu thu đều giảm và đã
xóa bỏ trên 340 loại phí, lệ phí gây phiền hà, tốn kém cho người dân và doanh
nghiệp… Đối với người có thu nhập cao, thuế suất thuế thu nhập thấp nhất ban đầu là
10%, cao nhất tới 60%, rồi xuống 50%, nay thuế suất thuế thu nhập cá nhân tương
ứng 5% và 35%
2. Về đảm bảo thể hiện đầy đủ vai trò của thuế
a. Thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước
Cùng với quá trình cải cách, nguồn thu thuế không những đáp ứng đầy đủ
kế hoạch chi tiêu thường xuyên mà còn có phần thặng dư để đáp ứng nhu cầu chi đầu
tư ngày một tăng lên của nhà nước. Mức độ động viên từ thuế và phí vào ngân sách
nhà nước ngày càng tăng và tạo thành một xu hướng ổn định năm sau cao hơn năm
trước.
b. Thuế là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường
GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 7
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Hệ thống chính sách thuế hiện nay được đánh giá như là một trong những

nhân; hỗ trợ người nộp thuế (ứng dụng QHS…
4. Về tính quốc tế
Qua các lần cải cách, đến nay, hệ thống thuế đã đạt được bước đầu các kết quả
quan trọng:
+ Ứng dụng chính sách thuế tiên tiến và quản lý thuế hiện đại của quốc tế vào
hệ thống thuế Việt Nam thông qua việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thuế để mở
rộng hiểu biết, tích luỹ kinh nghiệm .
+ Vừa bảo hộ được sản xuất trong nước, vừa chủ động thực hiện chính sách
mở cửa để thu hút đầu tư, tự do hoá thương mại, thực hiện lộ trình cam kết về thuế
với các nước ASEAN, EU, Hoa Kỳ và các tổ chức quốc tế khác.
+ Đã đàm phán và ký Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với trên 50 nước, tạo cơ
sở pháp lý để các nhà đầu tư nước ngoài, người nước ngoài đến Việt Nam kinh doanh
sinh sống không bị đánh thuế trùng lắp
IV. Những hạn chế của việc cải cách chính sách thuế
Bên cạnh những thành tựu đạt được, hệ thống thuế Việt Nam trong thời kỳ
này vẫn còn một số tồn tại cần tiếp tục khắc phục hoàn thiện như sau:
1. Về chính sách thuế
Hệ thống chính sách thuế vẫn chưa bao quát được hết tất cả đối tượng chịu
thuế, đối tượng nộp thuế. Nguyên nhân là do khi xây dựng chính sách thuế chưa nhận
thức hết phạm vi điều chỉnh của từng sắc thuế và chưa lường hết các nguồn thu sẽ
phát sinh trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường.
Hệ thống chính sách thuế còn nhiều mức thuế suất nên chưa thúc đẩy mạnh
mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong sản xuất kinh
doanh.
Một số chính sách thuế như thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt còn nặng
về bảo hộ sản xuất trong nước. Các mặt hàng mới được sản xuất trong nước đều được
bảo hộ bằng mức thuế nhập khẩu cao.
GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 9
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

+ Tình trạng trốn thuế, lậu thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn diễn ra
ở nhiều khoản thu, sắc thuế, ở các địa phương trong cả nước, vừa làm thất thu cho
Ngân sách nhà nước, vừa không bảo đảm công bằng xã hội.
+ Một số doanh nghiệp, hộ gia đình cá nhân kinh doanh cố ý, tìm mọi thủ
đoạn, dưới mọi hình thức gian lận các khoản tiền thuế phải nộp như kê khai khống để
chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng từ ngân sách Nhà nước.
B. TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 – KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
Thực tế cho thấy, giai đoạn cải cách thuế bước 3 (2001 – 2010) mặc dù đã
có những bước tiến và thành công đáng kể, tuy nhiên, với những hạn chế như đã nêu
ở phần trên, các mục tiêu đề ra vẫn chưa được hoàn thành một cách triệt để. Hơn
nữa, các định hướng cho các chiến lược cải cách thuế trong giai đoạn này vẫn còn
nguyên giá trị và phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Do đó,
trong giai đoạn từ 2010 – 2020, các chiến lược cải cách thuế trong giai đoạn trước
vẫn nên được tiếp tục thực hiện nhằm có thể đạt được những mục tiêu đã đề ra này.
Cụ thể, các định hướng và những việc cần làm đối với chiến lược cải cách thuế cho
giai đoạn này như sau:
Chính sách thuế phải góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường
đầu tư đổi mới công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa trong điều kiện VN hội
nhập vào khu vực và thế giới. Thực hiện cải cách thuế, từng bước áp dụng hệ thống
thuế thống nhất, minh bạch, trung lập, không phân biệt các thành phần kinh tế; đồng
thời tháo dỡ dần chính sách bảo hộ bằng việc xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, cắt giảm
thuế nhập khẩu. Chính sách thuế cần được điều chỉnh cho hợp lý hơn nhằm khuyến
khích các doanh nghiệp tăng cường tích tụ vốn và đầu tư thay đổi công nghệ, hiện đại
hóa sản xuất, hạ thấp giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường
tiêu thụ, bồi dưỡng nguồn thu, tăng thu nội địa cho NSNN .
GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 11
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Hệ thống thuế phải đơn giản, ổn định, mang tính luật pháp cao và có sự
tương đồng với khu vực và thông lệ quốc tế. Các quy định của luật thuế cần đơn giản,

khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo
quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng
thời kỳ.
• Nợ của chính quyền địa phương: là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký
kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành.
• Nợ được chính phủ bảo lãnh: là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính,
tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
Các hình thức vay nợ:
• Nợ trong nước: được thực hiện bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ là
chứng chỉ nhận nợ của chính phủ để phát hành để vay vốn của các tầng lớp dân
cư và các tổ chức kinh tế xã hội. Trái phiếu chính phủ tồn tại dưới các hình
thức sau:
Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, thời hạn dưới một năm,
được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối thu chi tiền mặt tạm
thời trong năm tài chính.
Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm
được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách đã được Quốc
hội phê chuẩn.
GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 13
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Trái phiếu đầu tư: là loại trái phiếu chính phủ tring và dài hạn, có thời hạn
trên một năm được phát hành để huy động vốn cho các công trình cụ thể và cho
Quỹ hỗ trợ phát triển theo kế hoạch đầu tư đã được duyệt của Nhà nước
• Nợ nước ngoài: là khoản vay ngắn hạn, trung - dài hạn phải trả lãi hoặc không
phải trả lãi do Nhà nước, Chính phủ, doanh nghiệp và tổ chức khác của Việt
Nam vay của chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế,
tổ chức và cá nhân nước ngoài. Các hình thức vay nợ nước ngoài:

2006 36.60%
2007 33.80% -2.80% -7.65%
2008 36.20% 2.40% 7.10%
2009 41.90% 5.70% 15.75%
2010 52.60% 10.70% 25.54%
Dự kiến 2011 57.10% 4.50% 8.56%
GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 15
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Từ biểu đồ trên, ta thấy tỷ lệ nợ công so với GDP có xu hướng tăng từ năm 2008
đến năm 2010. Trong đó, tốc độ tăng nợ công nhanh nhất là vào giai đoạn từ 2009-
2010 (từ 15,75% tăng lên 25.54%). Chính phủ dự kiến nợ công trong năm 2011 sẽ là
57,1% GDP. Nếu tính bình quân đầu người, thì mỗi người Việt Nam gánh 578,65
USD nợ công. Và theo mức dự báo của Chính phủ đưa ra trong năm 2011, thì chắc
chắn số nợ công bình quân chia theo đầu người sẽ không dừng ở mức hơn 578 USD
như hiện nay. Nói như vậy để thấy rằng, nợ công của Việt nam đang tăng và mỗi công
dân đều có quyền lợi và cả trách nhiệm từ các khoản vay của Nhà nước.
Dẫu các chuyên gia kinh tế quốc tế cho rằng, ngưỡng nợ công hơn 50% GDP của
Việt nam là có thể chấp nhận được, nhưng Việt Nam không thể chủ quan. Thực tế cho
thấy ngưỡng nợ hay quy mô nợ chỉ là điều kiện cần thiết để hạn chế các nguy cơ về
ngân sách có thể xảy ra. Vậy, thực chất ngưỡng nợ công hơn 50% có đủ đảm bảo độ
an toàn? Đây cũng là vấn đề được nhiều người quan tâm. Nhiều chuyên gia quốc tế
cho rằng về lý thuyết mức nợ công của Việt Nam “không có vấn đề gì” nhưng Việt
Nam phải tính tới “phần chìm của tảng băng”, tức là những khoản nợ ngầm, các
khoản nợ ngân hàng, nợ doanh nghiệp của Nhà nước vay mà Chính phủ phải bảo
lãnh. Đây là những yếu tố tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với kinh tế Việt Nam, nếu Việt
Nam “lơ là”.
Cần phải có một “thước đo chuẩn” từ các nền kinh tế khác có hoàn cảnh và điều
kiện kinh tế tương tự và điều quan trọng là chúng ta phải giám sát được thực trạng
kinh tế vĩ mô. Do đó cần mở rộng cách thức suy nghĩ và hiểu về nợ và phân tích nợ.

thế nào thì phù hợp với một quốc gia, chỉ biết rằng việc trả nợ lãi và trả nợ gốc nó
phải tương xứng với dòng vốn đi vào quốc gia đó. Muốn hiểu tận gốc vấn đề nợ công
của Việt Nam, cần đặt nó trong bối cảnh của những biến số vĩ mô phức tạp khác như
tốc độ tăng GDP, lạm phát, thâm hụt cán cân vãng lai
Thực tế, với mức tăng GDP trên 6% được duy trì trong nhiều năm qua (trừ 2009),
đại diện IMF cho rằng Việt Nam có thể tiếp tục duy trì tăng trưởng ở mức 7-8% trong
GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 17
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
vòng 5 năm tới và do đó thu nhập bình quân đầu người ước tính có thể đạt đến con số
2.000 USD vào năm 2015.
Tuy nhiên, tình hình của Việt Nam lại nằm ở các yếu tố giúp ổn định nền kinh tế
như lạm phát hay thâm hụt vãng lai.
- Vấn đề về lạm phát: theo số liệu của IMF, lạm phát của Việt Nam luôn cao hơn
so với mức trung bình của một số nước trong khu vực ASEAN trong vòng ít nhất là 4
năm qua và đặc biệt là mức chênh lệch có thể lên tới gần 20% (2008).
- Vấn đề về cán cân vãng lai: Mức thâm hụt của Việt Nam trong năm 2009 (-7,7%
GDP) được đánh giá là sâu nhất so với những nền kinh tế có cùng quy mô, hoặc lớn
hơn tại châu Á
Chính những yếu tố bất ổn này là một phần nguyên nhân quan trọng đẩy nợ công
của Việt Nam tăng vọt trong 3 năm gần đây (2008- 2010) "
Như vậy, để duy trì mức nợ công ổn định thì một trong những giải pháp mà Chính
phủ cần thực thi là việc định hướng lại chính sách tiền tệ theo hướng lạm phát thấp.
Bên cạnh đó, còn phải chú ý đến vai trò của chính sách tài khóa.
2. Góc nhìn của thế giới về nợ công Việt Nam
 Nợ công chưa được đánh giá đầy đủ:
Theo cách tính nợ công của Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc
(UNCTAD) được nhiều nước trên thế giới sử dụng thì nợ công còn bao gồm cả nợ
của doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế tự vay tự trả, nợ của công ty cổ phần tương
ứng với tỷ lệ phần vốn góp của Nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội mà Nhà nước sử dụng

GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 19
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Những tồn tại cơ bản được chỉ ra là thị trường trái phiếu trong nước phát triển còn
hạn chế. Công tác huy động vốn ODA còn thụ động, nhiều khoản vay ODA còn gắn
với những ràng buộc làm tăng chi phí đầu vào.
Cạnh đó, phân bổ vốn vay còn dàn trải, chủ trương huy động và sử dụng vốn cần
gắn kết hơn với ngưỡng an toàn nợ. Do đó, hiệu quả sử dụng vốn vay chưa cao, gây
lãng phí thất thoát, nguồn vốn đầu tư chưa được quản lý giám sát chặt chẽ.
GVHD: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Trang 20
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
III. Giải pháp
Muốn kiểm soát nợ công hiệu quả trong mức an toàn cần có một loạt giải pháp đồng bộ:
• Phải đảm bảo sự công khai và minh bạch về nợ công cho toàn dân.
• Chúng ta cần nhìn nhận và đánh giá lại hiệu quả đầu tư các dự án để tăng
cường hiệu quả sử dụng đồng vốn. Chúng ta phải theo đuổi mục tiêu phát triển
kinh tế đi đôi với kiểm soát tiền vay và vạch ra kế hoạch trả nợ.
• Cần giảm thiểu thâm hụt ngân sách quốc gia, cụ thể là quản lý chi tiêu công.
Do thâm hụt ngân sách cần khoản bù đắp, hệ quả là khả năng trả nợ lại càng
kém đi. Hãy học tập từ bài học thắt lưng buộc bụng ở châu Âu khi đối phó với
khủng hoảng hồi đầu năm nay. Họ tăng cường tiết kiệm, giảm trợ cấp, tăng
thuế đối với người thu nhập cao, thoái vốn tại những doanh nghiệp làm ăn
không hiệu quả
• Nên đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tìm cứu cánh lúc cần thiết.
• Phải kiểm soát chặt chẽ hơn tốc độ tăng và hiệu quả sử dụng nợ công, trên cơ
sở kiểm soát thâm hụt ngân sách hợp lý và có chiến lược cụ thể về huy động và
sử dụng hiệu quả nợ công trong trung hạn. Vì chỉ cần một cú sốc tài chính nhỏ,
các nhà đầu tư rút vốn có thể ngay lập tức thành nợ ngắn hạn.
• Hoàn thiện khung quản lý nợ công thời gian tới, kiểm soát nợ quốc gia ở

Chính Tiền Tệ – Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội.
6. Tạp chí Cộng Sản (12/06/2010) – Nợ công và thực chất nợ công. Được lấy về
từ: />7. Tạp chí Thuế Nhà nước (07/06/2007) – Luật Quản lý thuế trước giờ G – Bài 4:
Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC đảm bảo yêu cầu thực thi Luật Quản lý thuế.Được lấy
về từ:
8. Một số biện pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện Luật thuế Giá trị gia tăng đến
2020 (30/05/2006) – Theo Tạp chí Kinh tế Phát triển. Được lấy về từ :
/>phap-chu-yeu-gop-phan-hoan-thien-luat-thue-gia-tri-gia-tang-den-6.html
9. Định hướng cải cách chính sách thuế của Việt Nam (05/06/2006) - Theo Tạp
chí Kinh tế Phát triển. Được lấy về từ:
/>cai-cach-chinh-sach-thue-cua-vie.html
10. Luật quản lý nợ công số 29/2009/QH12
11. Dự báo nợ công (02/10/2010) – Theo VNExpress. Được lấy về từ:
/>23
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
12. Kiểm soát nợ công dưới 60% GDP (05/11/2010). Được lấy về từ:
/>13. Đánh giá nợ công không nhìn vào con số (05/11/2010). Được lấy về từ:
( />24
CHUYÊN ĐỀ I: CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY–TẦM NHÌN ĐẾN 2020
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Võ Thanh Bình
2. Nguyễn Thị Ngọc Châu
3. Vũ Trung Dũng
4. Quốc Minh Đức
5. Trần Thị Thanh Huyền
6. Nguyễn Thị Thu Hương
7. Đặng Thị Kiều
8. Nguyễn Ngọc Hoàng Lan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status