1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TOÁN KINH TẾ
-
¬
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
ĐỀ TÀI:
ĐỊNH PHÍ BẢO HIỂM TIỀN GỬI THEO MỨC ĐỘ RỦI RO ĐỐI
VỚI HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN HẢI PHÒNG
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. NGÔ VĂN THỨ
Sinh viên thực hiện : VŨ KIM ANH
HÀ NỘI, NĂM 2012
2
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, HÌNH 4
PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU 5
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ PHÍ BẢO HIỂM CỦA QUỸ TÍN DỤNG
NHÂN DÂN 7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍNH PHÍ BHTG VÀ ĐÁNH GIÁ XẾP HẠNG RỦI RO ĐỐI
VỚI QUỸ TDND 20
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HỒI QUY ORDINAL LOGISTIC ĐỂ XÁC ĐỊNH
MỨC PHÍ BHTG ĐỐI VỚI QUỸ TDND Hải Phòng 32
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 51
PHỤ LỤC 55
TÀI LIỆU 59
Bảng 7: Mô hình ước lượng đầy đủ biến
Bảng 8: Kiểm định bỏ biến X7, X10
Bảng 9: Mô hình ước lượng sau khi bỏ biến X7, X10
Bảng 10: Kiểm định bỏ biến X4, X8
Bảng 11: Mô hình ước lượng sau khi bỏ biến X4, X8
Bảng 12: Kiểm định bỏ biến X9
Bảng 13: Mô hình ước lượng sau khi bỏ biến X9
Bảng 14: Model fitting information
Bảng 15: Goodness-of-fit
Bảng 16: Hệ số xác định
Bảng 17: Test of Parallel Lines
Bảng 18: Các nhóm rủi ro
Bảng 19: Xếp hạng rủi ro của hệ thống Quỹ TDND Hải Phòng
Bảng 20: Tỷ lệ phí theo các nhóm rủi ro
5
Bảng 21:Tỷ lệ phí áp dụng cho hệ thống Quỹ TDND Hải Phòng
PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU
Qua nghiên cứu lý luận, phí bảo hiểm tiền gửi được xét đến như một phần rất
quan trọng trong hoạt động tín dụng. Trên thế giới, có tới 25/80 nước ấn định một
mức phí nhất định dựa trên nguyên tắc là rủi ro càng cao thì phí bảo hiểm càng cao.
Điều đó có nghĩa là mức phí bảo hiểm tiền gửi thường được dựa vào mức độ rủi ro
tài chính của chính các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó.
Ở Việt Nam, pháp luật về bảo hiểm tiền gửi quy định mức phí bảo hiểm tiền
gửi là 0,15% trên tổng số dư tiền gửi, áp dụng chung cho tất cả các tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, xét trong dài hạn thì phương pháp thu phí đồng hạng
sẽ không còn phù hợp.Phương pháp này sẽ làm mất đi tính cạnh tranh trong hoạt
động của các tổ chức tham gia bảo hiểm, đồng thời không thúc đẩy được các tổ
chức này hoạt động an toàn, hạn chế tối đa rủi ro… Khi nền kinh tế chuyển mạnh
sang kinh tế thị trường, hội nhập khiến cho hệ thống tài chính ngân hàng phát triển
Nam công bố.
Em xin cảm ơn sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của PGS.TS. Ngô Văn Thứ
cùng với sự hỗ trợ của các cán bộBảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã giúp em hoàn
thành chuyên đề này.
Em xin chân thành thành cảm ơn!
7
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ PHÍ BẢO HIỂM CỦA
QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.1. Rủi ro của Quỹ TDND
1.1.1. Khái niệm rủi ro
Trên thế giới, rủi ro đã được đề cập đến trong rất nhiều lĩnh vực – kinh tế xã
hội, khoa học kỹ thuật. Rủi ro là những tình huống có nhiều biến cố có thể xảy ra và
ta biết xác suất xuất hiện và kết quả của các biến cố này. Nghiên cứu về rủi ro,
người ta có thể đưa ra những giải pháp hạn chế, phòng ngừa rủi ro tiêu cực.
Trong hoạt động tài chính – ngân hàng, có rất nhiều loại rủi ro: rủi ro tín
dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thị
trường,… Đặc biệt đối với một tổ chức tín dụng như Quỹ TDND thì rủi ro thanh
khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất có ảnh hưởng rất lớn tới sự vững mạnh của
Quỹ TDND.
Có thể nói, tín dụng là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho
các Quỹ TDND, song cũng đó cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Rủi ro tín
dụng chủ yếu là do thất bại của khách hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ đã
cam kết với tổ chức tín dụng. Giao dịch tín dụng chỉ được coi là hoàn thành khi
ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và thu hồi về được khoản tín dụng gồm
cả gốc và lãi.
Trong quá trình đó, ngân hàng không biết chắc chắn có hoàn thành được giao
dịch hay không vì lúc đó việc thu hồi khoản tín dụng chưa xảy ra. Do vậy, rủi ro tín
dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng đó. Điều này
tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng
thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và cải thiện đời sống. Qũy TDND thường hoạt động trong một địa bàn dân
cư nhất định, thường trên địa bàn một phường, một xã. Trong quá trình hoạt động,
Quỹ TDND cũng gặp phải những rủi ro phổ biến của một tổ chức tín dụng như: rủi
ro thanh toán, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro đạo đức, tài sản,… Tuy nhiên, so
9
với các TCTD khác thì Quỹ TDND thường gặp phải nhiều rủi ro, đổ vỡ hơn bởi
những nguyên nhân mang tính đặc thù cao.
Trên thực tế, hoạt động của hệ thống Quỹ TDNDCS chủ yếu là đi vay để cho
vay, thời gian qua, tình hình biến động của nền kinh tế, lãi suất trên thị trường tài
chính đã làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của hệ thống Quỹ TDNDCS, việc
huy động vốn gặp rất nhiều khó khăn do phải cạnh tranh lãi suất với các NHTM
trên cùng địa bàn. Với khả năng tài chính eo hẹp tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm
và hầu như không có được sự hỗ trợ hay hậu thuẫn từ bên ngoài dẫn đến tiềm ẩn rủi
ro thanh khoản cao.
Đồng thời, hoạt động của hệ thống Qũy TDND gặp nhiều khó khăn hơn các
loại hình tổ chức tín dụng khác do quy mô hoạt động của Qũy TDND nhỏ, tiềm lực
tài chính hạn chế, tính hệ thống yếu, trình độ nguồn nhân lực kém nên khả năng tự
bảo vệ của Qũy TDND thấp, các khoản cho vay chủ yếu là cho vay nông nghiệp
nông thôn nên rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn thấp.
Về rủi ro đạo đức, một số Qũy TDND có hiện tượng vay ké, vay nóng, lập
hồ sơ khống rút tiền để cho vay ngoài hưởng chênh lệch lãi suất đã làm ảnh hưởng
rất lớn đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây ảnh hưởng lòng tin của
quần chúng nhân dân, đặc biệt là gây hoang mang cho người gửi tiền. Với đặc thù
hoạt động chủ yếu trong một địa bàn hẹp thường là một xã, do đó nguy cơ ảnh
hưởng của tín dụng đen đến chất lượng tín dụng, khả năng thanh khoản của Qũy
TDND cơ sở là rất lớn nếu trên địa bàn hoạt động của Quỹ TDND phát sinh hoạt
động tín dụng đen.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có văn bản không áp dụng hoặc chấm dứt áp
dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát
đặc biệt thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản.
Khi xem xét đến những yếu tố vĩ mô gây ra khủng hoảng và đổ vỡ các
TCTD thì nguyên nhân phổ biến nhất là do suy thoái kinh tế (18 nước), tiếp đến là
do hệ thống giám sát, điều tiết tài chính không hiệu quả (15 nước), do quản lý tài
chính lỏng lẻo (13 nước) và do những nguyên nhân chính trị (5 nước). Về những
11
yếu tố vi mô gây ra đổ vỡ TCTD, nguyên nhân được chỉ ra là: hoạt động ngân hàng
thiếu an toàn, quản lý rủi ro không phù hợp, quản trị doanh nghiệp yếu kém và tham
ô, biển thủ trong quản lý.
Hình 1: Các nhân tố vĩ mô gây ra khủng hoảng hoặc đổ vỡ TCTD riêng lẻ
Hình 2: Các nhân tố vi mô gây ra khủng hoảng hoặc đổ vỡ TCTD riêng lẻ
1.2. Phí bảo hiểm tiền gửi
1.2.1. Bảo hiểm tiền gửi và hệ thống Bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức
tham gia BHTG và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền gửi được bảo
hiểm cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất
khả năng thanh toán cho người gửi tiền.
12
Hệ thống Bảo hiểm tiền gửi là một định chế tài chính đặc biệt trong hệ thống
tài chính quốc gia, cùng với các cơ quan giám sát tài chính quốc gia thực hiện
nhiệm vụ kiểm soát hợp nhất liên quan tới rủi ro quốc gia, bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của người gửi tiền, góp phần ổn định hệ thống tài chính ngân hàng.
Vai trò nổi bật của hoạt động BHTG là tác động thúc đẩy nâng cao chất
lượng hoạt động ngân hàng hướng tới thu hút tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
trong cộng đồng xã hội trên cơ sở các bên cùng có lợi.
Đối với người gửi tiền, hoạt động của tổ chức BHTG góp phần củng cố niềm
là tiền gửi thuộc
đối tượng bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG; D
3
là tiền gửi thuộc đối tượng bảo
hiểm nhưng chỉ tính trong giới hạn chi trả bảo hiểm. Do đó, tùy thuộc từng quốc gia
mà họ sẽ lựa chọn loại tiền gửi để tính phí phù hợp với hoàn cảnh của họ. Hiện nay,
Việt Nam đã xác định số dư tiền gửi D ở công thức [1] để làm cơ sở tính phí là D
2
,
tức là là tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG
1.2.4. Phân loại phí bảo hiểm tiền gửi
!"!#! ! $%&'()*++
1.2.4.1.1. Khái niệm
Phí bảo hiểm đồng hạng là hình thức thu phí bảo hiểm tiền gửi áp dụng cùng
một mức phí (tỷ lệ phí) nhất định đối với tất cả các tổ chức tín dụng tham gia bảo
hiểm tiền gửi.
1.2.4.1.2. Ưu, nhược điểm
Các tổ chức tham gia BHTG đều được áp dụng chung một tỷ lệ phí như nhau
nên nhu cầu phải đánh giá chính xác tình hình hoạt động của từng tổ chức tham gia
BHTG là không nhất thiết trong việc xem xét trách nhiệm tài chính của tổ chức
tham gia BHTG đối với tổ chức BHTG. Việc này đã tạo điều kiện thuận lợi rất lớn
cho tổ chức BHTG trong giai đoạn đầu mới thành lập vì hệ thống này có cấu trúc
tương đối đơn giản, dễ thực hiện, quản lý. Do đó, đa số các hệ thống BHTG trên thế
giới đều khởi đầu bằng việc áp dụng đóng góp tài chính theo tỷ lệ phí BHTG đồng
hạng.
Tuy nhiên, việc áp dụng tỷ lệ phí này cũng chứa đựng nhiều hạn chế. Theo
IADI, phí BHTG đồng hạng là hệ thống phí không công bằng do các TCTD có mức
độ rủi ro thấp phải nộp phí đồng hạng như các TCTD có mức độ rủi ro cao.Hệ
thống phí đồng hạng thường bị chỉ trích là không phản ánh được nguy cơ rủi ro mà
các TCTD có thể gây ra cho hệ thống BHTG.Tỷ lệ phí đồng hạng áp dụng chung
thúc đẩy các tổ chức tham gia BHTG đảm bảo độ an toàn cao để được hưởng mức
phí thấp và đồng thời nâng cao uy tín cho chính các tổ chức này.
Loại phí BHTG theo rủi ro này có nhiều ưu việt hơn so với các loại phí khác,
song lại vấp phải nhiều hạn chế trong việc triển khai thực hiện. Hệ thống phí theo
rủi ro không phải là phù hợp với tất cả các hệ thống BHTG tại mọi thời điểm. Việc
15
định lượng rủi ro không hề đơn giản vì các TCTD là một định chế trung gian hoạt
động kinh doanh phụ thuộc lớn vào độ bí mật của thông tin. Đồng thời, cũng còn rất
nhiều khó khăn để: tìm ra được một phương pháp phù hợp và chấp nhận được để
phân biệt rủi ro giữa các tổ chức; thu thập được các thông tin kịp thời, nhất quán,
đáng tin cậy; đảm bảo các tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng là minh bạch, rõ ràng; và
kiểm tra các tác động gây bất ổn khi áp dụng mức phí cao đối với các TCTD đã có
vấn đề.
Vì vậy, trước khi thành lập một hệ thống phí theo rủi ro thì việc quan trọng là
phải đánh giá lại tình hình nền kinh tế, cấu trúc của hệ thống ngân hàng, thái độ và
kỳ vọng của công chúng, sức mạnh của công tác giám sát và quản lý an toàn, khung
pháp lý, và mức độ lành mạnh của cơ chế tiết lộ thông tin và cơ chế kế toán. Đối với
một số nước mà các điều kiện không ở mức lý tưởng, cần phải xác định được sự
chênh lệch giữa các điều kiện hiện tại và lý tưởng, và đánh giá ký lưỡng các lựa
chọn hiện có.
Thậm chí, ngay cả khi các điều kiện phù hợp cho việc áp dụng phí theo rủi ro
thì việc quan trọng là hệ thống này đạt hiệu quả đặt ra chỉ khi hệ thống này khuyến
khích được các TCTD quản lý rủi ro tốt và hệ thống được hỗ trợ bởi những cảnh
báo sớm và các hoạt động giám sát, kiểm tra, xử lý kịp thời.
1.2.5. Các phương pháp tính phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro đang
được áp dụng trên thế giới
Về cơ bản, tổ chức BHTG hiện đang sử dụng 3 phương pháp đánh giá, phân
loại tại các quốc gia: phương pháp định lượng, phương pháp định tính và phương
kết hợp cả định lượng và định tính.
các số liệu thực tế. Một số phương pháp định lượng chỉ phụ thuộc vào một yếu tố để
đánh giá rủi ro và các phương pháp khác kết hợp nhiều yếu tố khác nhau. Thông tin
được thu thập tại chỗ hoặc từ xa và trong quá trình giám sát. Những yếu tố thường
được xem xét cho hệ thống này bao gồm:
• Việc một ngân hàng tuân thủ các quy định về an toàn vốn hoặc các
biện pháp để đánh giá số lượng, chất lượng và mức đủ vốn của ngân hàng.
17
• Chất lượng và mức độ đa dạng hoá danh mục tài sản có bao gồm cả
nội bảng và ngoại bảng.
• Mức độ đủ, độ biến động và chất lượng của thu nhập.
• Dòng tiền (cashflows) của ngân hàng (cả nội bảng và ngoại bảng) và
khả năng tạo và thu hút vốn đủ, kịp thời với mức chi phí hợp lý.
• Mức độ ổn định và đa dạng hoá của nguồn vốn;
• Rủi ro lãi suất, trong trường hợp cần thiết rủi ro ngoại hối và trạng
thái.
Trong các yếu tố trên, chỉ tiêu phổ biến nhất và rất quan trọng là tỷ lệ an toàn
vốn. Vốn là phần đệm đầu tiên, cơ bản nhất để chống đỡ những biến động bất lợi về
chất lượng tài sản có và thu nhập của ngân hàng. Bên cạnh vốn, thu nhập cũng là
yếu tố được sử dụng và góp phần tăng khả năng duy trì mức vốn thích hợp cho ngân
hàng. Thông tin thường được lấy trực tiếp từ ngân hàng trên cơ sở các nguyên tắc
kế toán và ngân hàng được xếp hạng hoặc phân nhóm dựa trên các tiêu chí khác
nhau hoặc so sánh theo nhóm tương đồng.
Một phương pháp định lượng khác có thể được sử dụng để tính mức phí bảo
hiểm phân biệt là phương pháp “định giá theo tổn thất dự kiến”. Giá tổn thất dự
kiến của một ngân hàng phụ thuộc vào xác suất đổ vỡ của ngân hàng đó. Rủi ro mà
BHTG phải gánh chịu đối với ngân hàng đó, mức độ tổn thất mà công ty bảo hiểm
tiền gửi phải chịu nếu ngân hàng đổ vỡ.
Ngoài phương pháp định lượng truyền thống và phương pháp tính tổn thất dự
kiến, một số các mô hình lý thuyết khác đã được đưa ra. Merton (1977) coi Quỹ
hiểm, có thể thấy phương pháp kết hợp các yếu tố định lượng và định tính được sử
dụng rộng rãi nhất. Canada, Mỹ, Đài Loan là những nước áp dụng phương pháp
này. Phương pháp này có thể khắc phục được một số hạn chế của 2 phương pháp
định lượng và định tính. Đây là phương pháp rất hiệu quả, toàn diện để đánh giá hồ
sơ rủi ro của các TCTD. Đây là phương pháp sử dụng và xem xét nhiều loại thông
tin nhất trong việc đánh giá hồ sơ rủi ro của các TCTD. Tuy nhiên, nó cũng có hạn
chế nhất định, đó là các TCTD phải cung cấp rất nhiều thông tin và có thể mở ra
nhiều thách thức hơn so với các phương pháp khác.
19
1.3. Quan điểm chỉ đạo của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam về chiến lược
phát triển đến năm 2015
Xu thế hiện nay các nước thành lập mới hay cải tổ hệ thống BHTG đều theo
đuổi mục tiêu bảo vệ tích cực và chủ động lợi ích người gửi tiền. Nghĩa là các tổ
chức BHTG được thiết kế theo mô hình “giảm thiểu rủi ro” với các chức năng mở
rộng tương ứng. Trên cơ sở đó, chúng ta cần xây dựng BHTGVN trở thành một
định chế tài chính lớn mạnh, phát triển bền vững và hoạt động hiệu quả phù hợp với
các thông lệ quốc tế, bảo vệ tốt nhất quyền lợi người gửi tiền, nâng cao niềm tin
công chúng và sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Để đáp ứng đòi hỏi của
mô hình tổ chức BHTG hiện đại, BHTGVN đã sớm đề ra định hướng phát triển lâu
dài với tầm nhìn dài hạn và lộ trình cụ thể dựa trên 5 trụ cột, đó là:
Nền tảng pháp lý vững chắc.
Tăng cường năng lực tài chính và đảm bảo tính minh bạch hệ thống
Đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ theo hướng hội
nhập.
Cấu trúc bộ máy hiệu quả gắn với việc phát triển nguồn nhân lực có
tính chuyên nghiệp cao để luôn sẵn sàng ứng phó với các tình huống sự cố ngân
hàng.
Hiện đại hóa hoạt động BHTG trên nền tảng công nghệ thông tin.
Bên cạnh nâng cao chất lượng giám sát, chuyển từ giám sát tuân thủ sang
- hai hình thức này có tài liệu còn gọi chung là đóng góp trước, và đóng góp sau).
Phí BHTG đóng thường xuyên là hình thức đóng góp tài chính phổ biến được áp
dụng. Tuỳ vào thời điểm triển khai hoạt động BHTG, điều kiện khách hàng tham
gia BHTG và các điều kiện có liên quan khác để quyết định áp dụng phí đồng hạng
và mức độ bao nhiêu. Sau hơn năm năm triển khai hoạt động BHTG, có thể khẳng
định Việt Nam đã áp dụng thành công phí BHTG đồng hạng được thể hiện ở ba
khía cạnh:
21
Mức độ đóng góp tương đối hài hoà giữa các đối tác tham gia BHTG.
Không tạo nên trách nhiệm tài chính quá lớn đối với các tổ chức tham
gia BHTG.
Phù hợp tương đối với điều kiện và mức độ phát triển ngân hàng ở
Việt Nam.
Từ năm 2000 đến nay, phí bảo hiểm tiền gửi được tính và áp dụng theo cơ
chế phí đồng hạng. Các TCTGBHTG không phân biệt loại hình sở hữu, quy mô
hoạt động, hiệu quả kinh doanh đều nộp cùng một mức phí như nhau là 0,15%/năm
tính trên số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm.
Hình 3: Mô hình các hoạt động nghiệp vụ BHTG
Cơ chế phí đồng hạng có ưu điểm là dễ tính, dễ theo dõi đối với tổ chức
BHTG và thường được áp dụng khi tổ chức BHTG mới thành lập. Song xét về dài
hạn và trong điều kiện hội nhập, minh bạch, công khai tài chính, cơ chế này có
nhiều hạn chế:
• Việc áp dụng mức phí đồng hạng dẫn đến tình trạng không công bằng
giữa các TCTGBH. Các TCTGBH có rủi ro thấp vẫn phải trả mức phí bảo hiểm như
những đơn vị có rủi ro cao. Điều này không phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị
trường.
• Phí đồng hạng không phản ánh mức độ rủi ro mỗi một tổ chức có thể
gây ra cho hệ thống BHTG, các tổ chức nhận tiền gửi có thể tăng rủi ro cho các
danh mục đầu tư của họ mà không cần thêm khỏan chi phí BHTG bổ sung nào.
Trong đó:
P là số phí BHTG phải nộp trong quý thu phí
S
0
là số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm đầu tháng thứ nhất của
quý trước quý thu phí BHTG.
S
1
, S
2
, S
3
là số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm ở cuối các tháng
thứ nhất, thứ hai, thứ ba của quý trước sát với quý thu phí BHTG.
0.15/(100*4) là tỷ lệ phí BHTG phải nộp cho một quý trong năm.
Về bản chất, cách tính phí của BHTGVN hoàn toàn thống nhất với cách tính
phí BHTG theo định kỳ phổ biến trên thế giới. Trong công thức trên, đại lượng số
dư tiền gửi để tính phí được đưa vào chi tiết hơn để phản ánh số dư tiền gửi bình
23
quân được tính trên cơ sở số dư tiền gửi tại 4 thời điểm ở kỳ trước sát với kỳ thu
phí.
Ta thấy tỷ lệ thu phí 0,15%/năm là mức phí không quá cao và không quá
thấp so với các nước áp dụng phí đồng hạng. Việc lựa chọn như vậy phù hợp với
thông lệ chung, phổ biến trên thế giới. Hơn nữa, mức độ đóng góp phí BHTG trong
thời gian vừa qua không ảnh hưởng lớn tới kết quả kinh doanh của các tổ chức tham
gia BHTG.
Việt Nam đã xác định số dư tiền gửi D ở công thức [1] để làm cơ sở tính phí
là D
2
động tại các ngân hàng nhỏ sẽ lớn hơn loại chi phí đó tại các ngân hàng lớn do các
ngân hàng lớn có khả năng huy động được nhiều khoản tiền gửi có giá trị lớn hơn
hạn mức chi trả BHTG. Bên cạnh đó, với thực tế tình hình phổ cập vi tính còn hạn
chế và với cơ cấu hệ thống tài khoản hiện đang áp dụng tại các tổ chức huy động
tiền gửi ở Việt Nam, thì việc duy trì hệ thống số liệu để tính toán và kiểm tra việc
tính phí BHTG theo số dư tiền gửi được bảo hiểm trong hạn mức chi trả là rất khó
khăn trong giai đoạn hiện nay.
Trong quá trình triển khai chính sách BHTG thời gian qua, có tổ chức và cá
nhân cho rằng cần lấy số dư tiền gửi được bảo hiểm và trong hạn mức chi trả để tính
phí mới phản ánh đầy đủ mối liên hệ giữa quyền lợi được bảo hiểm thể hiện qua
mức bảo hiểm tối đa và trách nhiệm đóng phí BHTG, và như vậy hy vọng sẽ giảm
được số tiền phí phải đóng của đơn vị mình. Thực ra, ở chừng mực xác định -2
L của tổ chức tham gia BHTG là =+% và quyền lợi mà họ được đảm bảo
là-'&'() (+0G+: thì quan điểm này có thể là xác đáng. Tuy
nhiên, hoạt động BHTG không chỉ dừng ở trách nhiệm và quyền lợi như vậy và việc
xác định số dư tiền gửi làm cơ sở tính phí cũng không chỉ căn cứ đơn thuần vào
@L+?@-2L>45=. Mong muốn này của khách hàng chỉ có
thể giải quyết một cách thỏa đáng khi triển khai áp dụng phí BHTG xác định theo
mức độ rủi ro trong hoạt động của mỗi tổ chức tham gia BHTG (còn gọi là phí
BHTG không đồng hạng).
25
Hình 4: Mức phí BHTG của 35 hệ thống BHTG áp dụng phí đồng hạng
2.2. Đánh giá thực trạng hệ thống Quỹ TDND
2.2.1. Quản lý rủi ro tại Quỹ TDND
Từ những năm 1998, thực hiện Chỉ thị số 05/1998/CT-NHNN về áp dụng
các biện pháp khẩn cấp để củng cố, chấn chỉnh hoạt động Quỹ TDND, chấp hành
chỉ đạo của Ban Lãnh đạo NHNN, Quỹ TDNDTW đã ứng hàng tỷ đồng để giúp
một số Quỹ TDND vượt qua khó khăn. Tiếp đến giai đoạn củng cố, hoàn thiện và
phát triển hệ thống Quỹ TDND từ năm 2001 theo Chỉ thị số 57/CT-TW ngày