LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hình thành ý tưởng, tìm kiếm tài liệu, khảo sát thực tế cho tới
khi hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt
tình từ lãnh đạo của các Sở, ban ngành, người dân tại xã Lộc Vượng thành phố
Nam Định cũng như gia đình, bạn bè và người thân của tôi.
Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường –
Giáo viên trường Đại học Văn Hóa Hà Nội người đã hướng dẫn cho tôi những
bước đầu tiên trong quá trình hình thành ý tưởng cũng như phương hướng tiếp cận
vấn đề.
Cuối cùng, tôi mong muốn được gửi lời cảm ơn của mình tới các thầy cô giáo
trong khoa Văn hóa du lịch – trường Đại học Đông Đô đã dạy bảo tôi trong suốt 4
năm học qua; cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ, tạo điều kiện để
tôi có thể hoàn thành đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Di tích lịch sử, các lễ hội gắn với các di tích là hoạt động phản ánh rõ nét nhất
những sinh hoạt văn hoá của một cộng đồng cư dân trong một không gian cụ thể và
là môi trường tốt nhất để lưu giữ những giá trị truyền thống qua các thời đại. Mỗi
vùng quê Việt Nam đều nằm trong dòng chảy văn hoá thống nhất nhưng nó vẫn
mang nét riêng biệt, đặc trưng của con người nơi đó tạo nên một bức tranh văn hoá
lễ hội Việt Nam phong phú và đa dạng.
Nam Định là một vùng đất cổ có gần 700 năm tuổi và là vùng gần trung tâm
ĐBSH. Lễ hội nơi đây mang đậm nét văn hoá chung của vùng hoà quyện với
những nét riêng của cư dân vùng đất cổ. Nói đến lễ hội ở Nam Định chúng ta
không thể không nhắc đến lễ hội đền Trần như một biểu tượng văn hoá truyền
1
thống của cư dân vùng này.
Trần Miếu tên cổ của đền Trần - Tức Mặc Nam Định không chỉ là biểu tượng
của Nam Định, một danh thắng của trốn Thành Nam mà lễ hội đền Trần và những
lễ hội khác trong vùng còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống, là dịp
để con người gửi gắm bao ước mơ khát vọng về một cuộc sống bình an và hạnh
Từ trước tới nay có nhiều nhà nghiên cứu về lễ hội nói chung ở những
góc độ, liều lượng khác nhau. Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về lễ hội
truyền thống được công bố như: “Hội hè đình đám” của Toan Ánh(1969), “Lễ hội -
truyền thống và hiện đại” của Thu Linh và Đặng Văn Lung (1984), “ Lễ hội trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam” GS. Vũ Ngọc Khánh (2004).
Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã nêu khá đầy đủ về nội dung
và hình thức thể hiện của lễ hội truyền thống, đồng thời nó cũng mô tả diễn biến
của các lễ hội trong mối quan hệ trực tiếp với phong tục tín ngưỡng dân gian…
Trên đây là các công trình nghiên cứu liên quan đến lễ hội truyền thống
nhưng chủ yếu là các bài viết này chỉ nói sơ qua về tất cả các phong tục trong lễ
hội chung của Việt Nam chứ chưa đi vào một lễ hội cụ thể.
Viết về thời Trần cho đến nay nổi tiếng nhất vẫn là cuốn “Cuộc kháng chiến
chống xâm lược Nguyên Mông” của hai tác giả Đại học Tổng hợp Hà Nội là Hà
Văn Tấn và Phạm Thị Tâm in từ thập niên 60 của thế kỉ XX. Nhưng cuốn sách này
chỉ tập trung vào công cuộc giữ nước của nhà Trần, giúp người đọc hiểu thêm về
nhà Trần.
Để hiểu thêm về lễ hội đền Trần Nam Định, nhà xuất bản văn hoá thông tin
(2006) cho phát hành cuốn “Trần Miếu di sản và tín ngưỡng dân gian”. Cuốn sách
giới thiệu về quần thể di tích lịch sử đền Trần, cùng với đại lễ khai ấn mùa xuân
và hội Đức Thánh Trần, nhằm giúp người đọc hiểu rõ về lễ hội điển hình của mảnh
đất Thành Nam.
Điểm lại các công trình nghiên cứu từ trước tới nay cho thấy, nhằm giữ gìn
phát huy truyền thống văn hoá, bản sắc dân tộc trong xã hội hiện đại thì lễ hội cổ
3
truyền ngày càng được quan tâm thu hút nhiều nhà nghiên cứu. Tuy vậy cho đến
nay chưa có công trình nào khảo sát, mô tả một cách có hệ thống, chi tiết cụ thể về
lễ hội thôn Tức Mặc - Lộc Vượng - Nam Định. ﻌﻌﻌﻌﻌ
3. Mục đích nghiên cứu.
• Tìm hiểu những giá trị của quần thể di tích và lễ hội đền Trần, xã Lộc
Vượng thành phố Nam Định, đồng thời khẳng định vai trò của những giá trị
NAM ĐỊNH
1.1. Một số khái niệm.
• Di tích lịch sử văn hóa.
- Theo Hán Việt tự điển
Di: Sót lại, rơi lại, để lại
Tích: Tàn tích, dấu vết
Di tích: Tàn tích, dấu vết còn lại của quá khứ
- Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Di tích lịch sử văn hóa là tổng thể những công
trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa
được lưu lại.
- Theo luật di sản văn hóa của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được quốc hội khóa X thông qua trong kỳ họp thứ 9 ngày 29.09.2001: Di tích lịch
sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật bảo vật quốc gia
thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử văn hóa khoa học.
• Khái niệm về lễ hội.
Có rất nhiều khái niệm về lễ hội khác nhau tuy nhiên ở đây tôi chỉ đưa ra một
khái niệm chung nhất về lễ hội:
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân
cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật
5
lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con
người đối với thiên nhiên, thần thánh và con người trong xã hội.
1.2. Khái quát về tỉnh Nam Định.
1.2.1. Vị trí địa lý – Tự nhiên.
Nam Định là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam. Theo
quy hoạch năm 2008 thì Nam Định thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ.
• Vị trí địa lý: Nam Định nắm ở 19°54′đến 20°40′độ vĩ bắc, 105°55′ đến
106°45′ độ kinh đông. Nam Định tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía bắc,
tỉnh Ninh Bình ở phía nam, tỉnh Hà Nam ở phía tây bắc, giáp biển (vịnh Bắc
Bộ) ở phía đông.
bắt hải sản. Ở đây có khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Xuân Thủy (huyện Giao
Thủy) và có 4 cửa sông lớn: cửa Ba Lạt, cửa sông Đáy, cửa Lạch Giang và cửa Hà
Lạn.
1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển.
Theo các công trình nghiên cứu khoa học, miền đất Nam Định hình thành
cách đây khoảng 70 triệu năm do ảnh hưởng tạo sơn thời kỳ Đại Tân Sinh, nâng
ghềnh phía nam sông Hồng cao lên, biển Đông lùi dần và từng bước hình thành
vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Dấu tích các loại động - thực vật có ở vùng
biển và những hoá thạch tìm thấy trong lòng đất cho thấy: đây là vùng đất màu mỡ,
phì nhiêu, tạo cơ hội cho con người quần tụ thành cộng đồng đông vui và khá sầm
uất.
Thời thuộc Đường, Nam Định thuộc huyện Chu Duyên. Đời Trần được gọi là
lộ Thiên Trường, sau lại chia làm ba lộ: Kiến Xương, An Tiêm, Hoàng Giang.
Thời thuộc Minh, vùng đất này được chia làm 3 phủ: Trấn Nam, Phụng Hoá, Kiến
Bình. Đời Lê, thuộc xứ Sơn Nam, đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 năm 1741, vùng
đất này thuộc lộ Sơn Nam Hạ. Đến triều Nguyễn, năm 1832 đổi tên thành tỉnh
Nam Định, với 4 phủ, 18 huyện, bao gồm phần đất tỉnh Thái Bình hiện nay. Năm
1890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng. Nam Định còn lại 2 phủ và 9 huyện.
Từ năm 1926, tỉnh Nam Định có 2 phủ và 7 huyện, 78 tổng, 708 xã (phủ là
7
cấp trung gian, tương đương với cấp huyện). Riêng thành phố Nam Định có 10
phường. Đến những năm 1930, địa giới hành chính của tỉnh Nam Định không có
nhiều thay đổi.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các đơn vị hành chính trong tỉnh luôn
có sự thay đổi. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tỉnh Nam Định thuộc Liên
khu ba. Năm 1953, 7 xã bắc sông Đào thuộc huyện Nghĩa Hưng được cắt nhập vào
huyện ý Yên. Đồng thời, 03 huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, ý Yên nhập vào tỉnh Hà Nam.
Đến tháng 4-1956, 03 huyện này lại được cắt trả cho Nam Định. Tháng 5-1965,
Nam Định hợp nhất với Hà Nam thành tỉnh Nam Hà. Cuối năm 1967, 02 huyện
Giao Thuỷ và Xuân Trường hợp thành huyện Xuân Thuỷ. Tháng 3-1968, 07 xã
du lịch, trước hết phải kể đến Khu di tích lịch sử văn hóa triều Trần trải rộng trên
phạm vi các phường Lộc Vượng, Lộc Hạ (thành phố Nam Ðịnh) và một số xã Mỹ
Thành, Mỹ Phúc, Mỹ Trung của huyện Mỹ Lộc bao gồm 45 di tích gắn với lịch sử
vương Triều Trần. Các di tích: Ðền Trần, Chùa Tháp, Ðền Bảo Lộc, Ðền Cao
Ðài có giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật kiến trúc, đã được Nhà nước xếp
hạng di tích lịch sử văn hóa. Tại đây còn lưu giữ và trưng bày nhiều hiện vật lịch
sử về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của quân dân Ðại Việt thế kỷ
13. Xưa kia, nơi đây vốn là hành cung Thiên Trường từng được ví như kinh đô thứ
hai thời Trần với các cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa (nơi dành cho các Thái
Thượng Hoàng và các Vua đương triều ngự), cung Ðệ Nhất, Ðệ Nhị, Ðệ Tam, Ðệ
Tứ (dành cho các Thái Hoàng thái hậu, các phi tần tôn nữ ở).
Du khách cũng có thể ghé thăm các làng nghề, làm quen với các nghệ nhân
tài hoa làm nghề chạm khắc, đúc đồng, dệt lụa, trồng hoa cây cảnh ở La Xuyên,
Cát Đằng, Vân Chàng, Cổ Chất, Điền Xá. Du khách cũng có thể tận hưởng những
ngày nghỉ ngơi giải trí sảng khoái tại khu du lịch biển Thịnh Long, Quất Lâm nơi
mà được xem là vẫn còn vẻ hoang sơ. Du khách cũng có thể tham quan khu bảo
tàng thiên nhiên Xuân Thủy, khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam tham
gia công ước quốc tế RAMSAR với hệ sinh thái rừng ngập mặn độc đáo, đa dạng
và phong phú bao gồm nhiều loại động thực vật quý hiếm. Đây là điểm dừng chân
9
của các loài chim di trú từ phương Bắc trong đó có nhiều loại được ghi vào sách đỏ
Quốc tế.
Người Nam Định vốn tài hoa, thông minh, cần cù và năng động; từ xưa đã tạo
dựng và để lại cho con cháu kho tàng di sản văn hóa tinh thần mang đậm bản sắc
dân tộc với những nét đặc trưng của nền văn minh lúa nước.
Đến Nam Định quý khách luôn được đón tiếp nồng hậu và chu đáo trong các
khách sạn, nhà nghỉ đầy đủ tiện nghi, được thưởng thức những món ăn đặc sản của
địa phương, được nghe hát chèo văn và xem múa rối nước một loại hình nghệ thuật
độc đáo.
1.3 Triều đại nhà Trần và những ảnh hưởng tới vùng đất Nam Định.
thế bức bách của Đàm thái hậu, Lý Huệ Tông đã bí mật rời bỏ hoàng cung, cùng
với Trần Thị Dung trốn đến nơi đóng quân của Trần Tự Khánh (con trai thứ của
Trần Lý). Từ đó, vua Lý hoàn toàn phụ thuộc vào thế lực anh em họ Trần.
Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, mọi việc đều uỷ quyền cho Trần Thủ Độ khi
ấy là chỉ huy sứ, quản lĩnh cấm quân. Là người cơ mưu, quyết đoán, Trần Thủ Độ
đã sắp xếp để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, rồi cắt tóc
đi tu ở chùa Chân Giáo. Liền sau đó, Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng
lên 7 tuổi lấy con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh lên 6 tuổi. Một năm sau, vào
tháng 12 âm lịch năm 1225, Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho chồng, nhà Trần
bắt đầu nắm quyền cai trị với vị vua đầu tiên là Trần Thái Tông – Trần Cảnh.
Ngay sau khi thành lập, nhà Trần dã chấm dứt được tình trạng hỗn loạn của
xã hội Đại Việt vào cuối thời Lý, củng cố và xây dựng bộ máy chính quyền từ
Trung ương đến địa phương, lập lại trật tự chính trị, xã hội, chăm lo phát triển kinh
tế, văn hóa.
• Về mặt nông nghiệp:
Để tránh nạn ngập lụt, vua Thái Tông sai đắp đê hai bên bờ sông và cử quan
đặc trách trông coi việc đắp đê gọi là hà đê sứ. Mỗi năm sau vụ mùa, triều đình còn
ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp đỡ dân chúng. Triều đình cũng
cho phép các vương, hầu có quyền chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi
11
khai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng nương.
• Về mặt thuế má:
Có 2 loại thuế là thuế thân và thuế điền. Thuế thân được đóng bằng tiền và ít
nhiều tuỳ theo số ruộng có. Ai có dưới một mẫu ruộng thì được miễn thuế. Thuế
điền thì đóng bằng thóc. Ngoài ra còn có thuế trầu cau, rau quả, tôm cá v.v. Về mặt
tiền tệ, để tiện việc tiêu dùng, vàng bạc được đúc thành phân, lượng và có hiệu của
nhà vua.
• Về việc thi cử, học hành:
Trước kia dưới triều nhà Lý, có mở những khoa thi tam trường để lấy cử
nhân, nhưng các khoa thi chỉ được mở ra khi nào triều đình cần người tài giỏi ra
thực tế nơi đây có vai trò như là một "hành đô" một "đông kinh" sau kinh thành
Thăng Long thuở đương thời.
Nghiên cứu di sản văn hoá Trần ở Việt Nam, các nhà khoa học ngành xã hội
nhân văn khẳng định không nơi đâu lại phong phú và đậm dấu ấn như vùng đất
Thiên Trường. Khác với kinh đô Thăng Long, trải qua biến cố lịch sử, dấu vết kinh
đô khó xác định thì trái lại, các nhà khoa học đã phát hiện khối lượng di vật phong
phú đa dạng tại các địa danh vùng đất Tức Mặc. Từ những năm 60, 70 của thế kỷ
XX, trong khi canh tác, người dân địa phương đã phát hiện nhiều di vật thời Trần
dưới lòng đất như: Giếng cổ được tạo bởi 152 chiếc bao nung ở phía sau chùa Phổ
Minh, những sản phẩm gốm hoa nâu, ngói, đầu rồng, sành sứ. Các nhà khoa học,
đã "khoanh vùng" sự chú ý vào các di chỉ, di tích thời Trần tiêu biểu tập trung tại 4
xã phía bắc thành phố Nam Định là Lộc Vượng, Lộc Hạ, Mỹ Trung, Mỹ Phúc. Qua
các đợt khai quật đã tìm thấy 6 mảnh gốm có chữ "Thiên Trường Phủ chế" cho
phép suy đoán có thể quanh Phủ Thiên Trường chính là nơi "xuất phát điểm" của
gốm hoa nâu; đồng thời là nơi sản xuất các sản phẩm gốm cao cấp cùng với Thăng
Long - Hà Nội, Tam Thọ, Thanh Hoá. Đặc biệt, từ tháng 6 đến tháng 12-2006, Sở
Văn hoá - Thông tin Nam Định đã phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến
hành thám sát khai quật khu vực các di tích Hậu Bồi, Vạn Khoảnh, Đệ Tam Tây,
13
Lựu Phố và khu vực cánh đồng giữa chùa Phổ Minh và đền Trần với tổng diện tích
là 2100m2. Kết quả, đã phát hiện hàng vạn di vật có niên đại và tầng văn hoá kéo
dài từ thế kỷ XIII - XIX như: Gạch lát nền hình vuông có chữ "Vĩnh Ninh
Tường", các loại ngói mũi lá, ngói mũi sen kép, mũi sen đơn, ngói cong; dấu tích
các bờ đá kè, nền sân, nền gạch, xuất lộ dấu tích kiến trúc mới như dải "hoa
chanh", các ô vuông bát giác dạng "Bồn hoa", các móng trụ bước đầu nhận diện
về kiến trúc cung Trùng Hoa cổ của các vua Trần. Với hiện trạng nói trên, các di
tích vừa được phát hiện có ý nghĩa khoa học rất lớn. Đó là "khám phá" về một mặt
bằng kiến trúc hiếm có niên đại chuẩn của thời Trần (thế kỷ XIII-XIV). Các dấu
tích kiến trúc ở đây có sự tương đồng với kiến trúc Trần ở Thăng Long, bởi vậy
thông qua việc nghiên cứu các di tích này sẽ góp phần xác định niên đại cho nhiều
chùa Tháp, với những thành tựu nghiên cứu gần đây, giới nghiên cứu khoa học xã
hội và nhân văn bước đầu nhận định đây là đồ án kiến trúc hoàn chỉnh và tương
đối sớm trong kiến trúc cung điện, chùa chiền ở Việt Nam.
Với vị trí quan trọng đó, trong ba lần kháng chiến Nguyên-Mông, cung điện
Thiên Trường đều là căn cứ địa quan trọng để triều đình tôn thất từ kinh thành
Thăng Long lui về ẩn náu, bàn kế sách phản công chiến lược, dẫn đến những thắng
lợi oanh liệt của dân tộc, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc.
Ngày nay, khi bước vào đền Thiên Trường, chúng ta gặp ngay ba bức hoành
phi lớn treo trang trọng ở gian tiền đường ghi rõ "Thiên trường cung," bên tả là
"Trùng Quang," bên hữu là "Trùng Hoa" và đặc biệt có bức hoành phi ghi "Triệu
cơ vương tích" trong cung cấm nói rõ việc phát tích của dòng họ Trần ở đất này.
Chính đền Thiên Trường, đền Cố Trạch được xây dựng sau này cùng với chùa tháp
Phổ Minh (tôn tạo, mở rộng từ năm 1262) là những chứng cứ vật chất được xây
dựng trên nền tảng và cương vực của cung điện Trung Quang, Trùng Hoa xưa.
Giờ đây, quần thể di tích này đang hàng ngày hàng giờ được nhân dân cả nước và
trong tỉnh Nam Định chăm lo gìn giữ.
15
CHƯƠNG 2: QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA , LỄ HỘI ĐỀN
TRẦN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH.
2.1 Quần thể di tích lịch sử văn hóa đền Trần.
2.1.1 Vị trí và lịch sử phát triển.
Đền Trần thuộc thôn Tức Mặc xã Lộc Vượng ngoại thành Nam Định, cách
trung tâm thành phố 3km. Đây là quê hương của nhà Trần, nơi sinh ra Trần Hưng
Đạo, vị anh hùng dân tộc. Khu di tích rộng tới hàng chục hecta với đền Thiên
Trường, Cố Trạch, Trùng Hoa thờ các vua Trần và Trần Hưng Đạo. Trong chùa có
hàng cây lưu niên, hàng tường bao, cửa vào, sân gạch, hồ sen với 6 con rồng đá
trườn xuống nước như sắp vẫy vùng
Là một khu đền nằm ở ngoại thành Nam Định cách quốc lộ 10 chỉ khoảng
300m tạo điều kiện thuận lợi cho khu di tích về giao thông dễ ràng thu hút du
khách khắp nơi hành hương về đây lễ phật bằng các phương tiện giao thông khác
Điều này chứng tỏ các bậc Tiên tổ nhà Trần rất quan tâm đến cội nguồn. Và nếu
dựa vào “Phả hệ bảo tích” thì cụ Thuỷ tổ Trần Kinh về khu Tức Mặc đã mau
chóng dựng nhà ở, cũng như thiết lập từ đường tạo phúc cho dòng họ và con cháu
mai sau Nếu đúng thế thì nhà thờ phải có trước thời kì Thái Tông về thăm quê
hàng nhiều thập kỉ.
Những công trình thờ tự của Đông - A dù có từ rất sớm, hoặc vào đầu thế kỉ
XIII cũng đã lui vào dĩ vãng. Ngay nhà từ tái lập năm Chính Hoà thập ngũ niên mà
văn tự “ Trần thị đại tông từ đường” thôn Tức Mặc ghi, hoặc như câu đối tại
Thượng miếu cũng chỉ tồn tại rất ít cấu kiện, trong đó có ngạch, ngưỡng và bộ
cánh cửa chạm lưỡng long chầu nguyệt, hiện còn lưu tại đền Thượng mà thôi. Lại
17
công trình mở rộng vào niên hiệu Long Đức thứ hai (1733) cũng đâu còn nhiều dấu
tích.
Sang thời Nguyễn, Trần Miếu được trùng tu dưới thời Tự Đức ngũ niên
(1852), rồi Tự Đức Mậu Thìn (1868) được cải tạo mở mang thêm cũng không còn
nguyên vẹn. Nhưng kiểu dáng kiến trúc, phong cách vẫn giữ dấu ấn văn hoá thời
Nguyễn. Người xưa đánh giá việc hưng công đền thờ vua là quan trọng nên thời
gian trùng tu được ghi trên tấm biển lớn hai chữ “Trần Miếu” và hàng chữ nhỏ ghi:
Hoàng triều Tự Đức vạn vạn niên chi lục, tuế tại Quý Sửu lục nguyệt thượng cán,
phụng chỉ xuất khố tiền trùng tu. Mười sáu năm sau Trần Miếu lại tiếp tục sửa
chữa nên trên câu đầu gian giữa toà tiền đường Thượng Miếu ghi: Tự Đức Canh
Ngọ hạ - Mùa hè năm Canh Ngọ niên hiệu vua Tự Đức -1868.
Có lẽ tổng thể quy trình kiến trúc thời kì này chưa hoàn chỉnh, bình diện
chưa đáp ứng yêu cầu tín ngưỡng đối với khách hành hương, cũng như cộng đồng
làng xã, con cháu họ Trần nên dưới triều vua Thành Thái và đầu niên hiệu Duy
Tân ( cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20) Thượng miếu được tôn tạo, đồng thời phục
dựng Hạ miếu, làm thêm cổng ngõ, hồ nước mặt tiền, ngũ môn… Khiến tổng thể
khu vực hài hoà đẹp mắt, tạo một bình diện toà ngang dãy dọc ẩn hiện dưới bóng
cây xanh, cây đại thụ trên khoảng đất cao ráo rộng tới tám hecta. Đây lại là đắc địa
bởi có thế ngoạ long, theo thuyết phong thuỷ là rất quý hiếm.
Trần là chân cột cung Trùng Quang cũ. Tại đây có đặt ban thờ và bài vị của các
quan có công lớn phù tá nhà Trần
Sau tiền đường là trung đường là nơi thờ 14 vị hoàng đế nhà Trần. Tuy nhiên,
không có tượng thờ mà chỉ có bài vị. Trước cửa trung đường có ba cỗ ngai là nơi
thờ bái vọng các vị hoàng đế.
Sau trung đường là chính tẩm gồm 3 gian. Đây là nơi thờ 4 vị thủy tổ của họ
Trần và các phu nhân chính của họ ở gian giữa. Các hoàng phi của nhà Trần cũng
được đặt bài vị thờ ở 2 gian trái, phải.
Tòa thiêu hương (hay kinh đàn) là nơi đặt ban thờ và bài vị của các công thần
19
nhà Trần. Có ban thờ riêng cho các quan văn, và ban thờ riêng cho các quan võ.
Đền Cố Trạch nằm phía Đông của đền Thiên Trường. Nhìn từ sân, là bên
phải đền Thiên Trường. Đền Cố Trạch được xây vào năm 1894. Theo bia Trùng
kiến Hưng Đạo thân vương cố trạch bi kí, thì lúc tu sửa đền Thiên Trường năm 21
đời Tự Đức (năm 1868), người ta đào thấy ở phía Đông đền Thiên Trường một
mảnh bia vỡ có ghi chữ Hưng Đạo thân vương cố trạch (nhà cũ của Hưng Đạo thân
vương). Do đó khi xây đền này vào năm 1894 khánh thành vào năm 1895, đền
được đặt tên là Cố Trạch Từ (đền nhà cũ). Đền Hạ là tên thường gọi.
Đền Cố Trạch đặt bài vị của Trần Hưng Đạo, gia đình và gia tướng. Tiền
đường của đền Cố Trạch là nơi đặt bài vị của 3 gia tướng thân tín của Trần Hưng
Đạo, đó là Phạm Ngộ, Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Chế Nghĩa.
Thiêu hương (kinh đàn) là nơi đặt long đình trong có tượng Trần Hưng Đạo
cùng 9 pho tượng Phật. Bên trái đặt bài vị các quan văn. Bên phải đặt bài vị của
các quan võ.
Gian tả vu là nơi đặt bài vị Trương Hán Siêu, Phạm Thiện Nhân và các bài vị
văn thần triều Trần.
Gian hữu vu là nơi đặt bài vị võ thần triều Trần, bài vị Trần Công và các thân
nhân họ Trần.
Tòa trung đường là nơi đặt bài vị và tượng của Trần Hưng Đạo, bài vị của 4
người con trai, của Phạm Ngũ Lão và các tả hữu tướng quân.
Trần tạo nên thắng tích, góp phần cho trang sử vàng Đông - A thêm lung linh màu
sắc.
Thượng miếu nằm trên khu đất cao ráo, có thể khẳng định là vị trí trung tâm
của tổng thể miếu đền nơi đây. Toàn bộ công trình làm theo trục đối xứng Bắc -
Nam bao gồm chính điện(chính tẩm) tả, hữu vu, siêu hương (thiêu hương), tiền tế,
ống muống (nhà nhỏ hai bên tiền tế), tả, hữu giải vũ, Ngũ môn (Ngọ môn) với 10
toà lớn nhỏ, được bố cục đăng đối hài hoà đẹp mắt. Bình diện công trình có sân
21
trong (còn gọi sân rồng) với hàng rồng đá từ trên thềm cao năm cấp nhao xuống,
cùng hàng gạch hoa trên đường chính đạo (gạch phục chế theo mẫu từ thời Trần).
Sân rồng còn có tường bao, đồng trụ, đôi voi lớn đứng chầu hai bên dưới bóng cây
bàng cổ thụ, khiến ngoại thất nơi tẩm miếu thoáng đãng, sáng chiều đều râm mát
gợi cảm. Phía ngoài sân rồng là hồ nước rộng hàng mẫu, xung quanh có vườn cây
cảnh, cây lưu niên, cây cổ thụ toả bóng nghiêng ngả trên hồ, hoà quyện với cột trụ,
tường hoa, mái ngói cùng mây trời như thêu dệt bức tranh thuỷ mặc Trần miếu.
Phía ngoài hồ nước có sân giữa với hàng cây cổ thụ nhiều dáng vẻ, rồi Ngũ môn cổ
kính, hoành tráng với ba chữ lớn tạc trên đá “Chính Nam môn” như nhắn nhủ cho
hiện tại và mai sau, phải quay về phía Nam, hoài tưởng hương Tức Mặc quê vua
như văn bia có ghi “ Cố đế hương dã”.
Tổng thể các toà Thượng miếu từ chính điện, siêu hương, tả hữu vu,
tiền đường, ống muống, giải vũ rồi Ngũ môn tuy lớn nhỏ khác nhau, bộ mái khác
nhau nhưng đồng phong kiến trúc thời Nguyễn, lại khiêm tốn việc gia công nghệ
thuật điêu khắc ở cấu kiện công trình, như một số đền, đình tín ngưỡng khác, nhất
là phục chế đúng nếp cũ của Trần miếu thế kỷ XVII, như chạm khắc rồng trên bộ
cửa ở toà tiền tế hiện còn lưu. Những toà ngang dãy dọc chính, phụ được bố cục có
thấp, có cao vừa trải rộng, vừa vươn dài theo thế tay ngai. Trên trăm mét chiều
rộng, hàng trăm mét chiều dài được vươn dần về phía Nam tạo một không gian
mênh mông trữ tình, đượm thi vị.
Chính điện có chiều dài 13m20 rộng gần 12m là công trình thiết kế không cầu
kì nhưng to, cao theo lối cổ chồng diêm, lại cách tân thành ba gian cuốn hậu cung
Nhưng đáng lưu tâm nhất là bộ cánh cửa gian giữa toà tiền đường. Bộ cửa
gồm hai cánh chạm “lưỡng long tranh châu” (hai con rồng giành ngậm ngọc). Cửa
cao gần hai mét làm kiểu chân quay, đặt trên bạo cửa và ngạch ngưỡng lối
cổ. Nghệ nhân nhấn, tỉa đôi rồng khoẻ mạnh làm đang thè lưỡi nhe răng, trợn mắt,
vểnh râu cùng lớp lớp lá hoả, khiến đôi rồng được nhân lên vẻ hùng dũng. Nhìn kĩ
còn thấy bốn con rồng nhỏ cùng đôi ly đang nép mình dưới những khúc rồng uốn
éo như trông cậy lão long che chở. Khung, bạo cửa cũng được tạo hoa văn, lá hoả
23
và đôi rồng nhỏ chầu thật mềm mại, khiến hoạ tiết lão long thêm vẻ oai phong,
đường vệ. Và đây chắc là tác phẩm điêu khắc của thế kỉ 17 còn sót lại, đánh giá
nhiệt tình của con cháu họ Trần, đã góp công, góp của tạo cho nhà từ những cấu
kiện kỳ công, sáng giá.
Tiền tế xây dựng trên nền cao, phần hiên rộng được tiếp liền với hệ thống bậc
lên xuống năm cấp bằng đá tảng kiến tạo công phu. Và để tạo vẻ tôn nghiêm khi
bước lên tiền tế, người ta thiết kế hai đôi rồng đá từ trên hiên nhao xuống. Rồng
làm theo phong cách thời Nguyễn, được chạm họa tiết cầu kỳ, oai phong. Và có lẽ
do sự bố cục rồng chầu, gạch lát sân có hoa sen nổi hoạ tiết hoa chanh, các đường
chỉ viền tạo lỗ vuông cũng như hình tròn giống như đồng tiền cổ, cùng với các chữ
“Thọ”. Hai phía Đông-Tây sân rồng là hai dãy giải vũ, rồi tiếp theo hệ thống tường
hoa, đồng trụ xây dựng chắc chắn, khoẻ khoắn hoà nhập với công trình làm tăng
thêm vẻ đẹp cho sân rồng.
Đền Trần còn có đôi voi chầu trong sân. Voi tuy chỉ đắp bằng vôi vữa, nhưng
là cặp voi lớn có tư thế bệ vệ với những chi tiết cấu tạo như đầu, tai, ngà và cả
phần bành và yếm voi, cũng được chú ý vừa tả thực vừa cách điệu, do đó cặp voi
trầu khá sinh động. Qua một hồ nước hình chữ nhật trải rộng như chiếc gương lớn,
đến sân ngoài với nhiều cây cổ thụ, cây lưu niên mà do thời gian nên chúng đã sần
sùi gốc, cũng như thân tạo nhiều dáng vẻ tự nhiên, già cỗi tiếp đến Ngũ môn (năm
cửa). Dân gian còn gọi hệ thống này là Ngọ môn.
Ngọ môn ở phía Nam tổng thể các công trình, lại quay mặt hướng chính
Nam, trên cửa lớn chính giữa của Ngọ môn có ba chữ lớn “ Chính Nam môn”. Ba
Đinh Mùi thu (1907). Đây lại là sự khẳng định đền miếu làm trên nền nhà cũ của
Đại Vương ở đất Nam Mặc. Điều đáng nói ở đây là bức đại tự có nghệ thuật thư
pháp cao tay, nên nét chữ phóng khoáng, như rồng bay phượng múa. Tiền đường
gồm năm gian ở phía ngoài cùng. Toà nhà này thiết kế rất đơn giản có các cột gỗ
lim, xà, bẩy, câu đầu song không đưa đề tài điêu khắc mà trang trí hàng loạt đại tự
như “ Hà đức như sơn”, “ Danh đằng lưỡng quốc”, “Đông A ngọc phả”. Lại có đại
tự chỉ chạm một chữ đó là chữ “ Trần”, ngoài ra còn dùng hàng loạt câu đối có giá
25