BẢN SẮC VĂN HÓA VÀ TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG
TRONG PHÁT TRIỂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
ThS. Nguyễn Thị Nguyệt
Bảo tàng Đồng Nai
1. Từ bản sắc văn hóa
Bản sắc là cái gốc, cái căn bản thể hiện ra của một sự vật. Bản sắc văn
hóa là giá trị cơ bản của văn hóa. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam tức
là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân
tộc Việt Nam. Giá trị văn hóa là những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất
nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong
mọi lĩnh vực của nền văn hóa Việt Nam, trong các lĩnh vực văn học nghệ
thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp,
ứng xử hàng ngày của người Việt Nam.
Những giá trị văn hóa đó không phải tự nhiên mà có, mà được tạo
thành dần dần và được khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng,
củng cố và phát triển của nhà nước dân tộc Việt Nam. Những giá trị đó
được bảo tồn, bổ sung và tiếp biến những giá trị mới cho phù hợp. Dân
tộc Việt Nam, với tư cách là chủ thể sáng tạo, thường xuyên kiểm
nghiệm những giá tri hạt nhân đó, quyết định những thay đổi và bổ
sung cần thiết, tái tạo những giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Miền Đông Nam Bộ nằm trên lưu vực sông Đồng Nai, gồm các tỉnh,
thành: Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, thành phố Hồ
Chí Minh và Bà Rịa ‑ Vũng Tàu. Miền Đông Nam Bộ là vùng cư trú của
nhiều thành phần dân tộc có nguồn gốc địa phương khác nhau tụ họp
về đây. Đây là vùng đất có nhiều tôn giáo và các hình thức tín ngưỡng
tồn tại trong nhân dân, là vùng hội tụ dân cư do những cuộc di dân lớn
diễn ra hàng thế kỷ tạo nên, vốn có nhiều hệ thống phong tục tập quán
khác nhau kết tinh thành truyền thống văn hóa chung có đặc tính riêng
trong văn hóa Việt Nam.
374
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN VÙNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
trú. Xưa kia đứng đầu mỗi nhà dài có vị trưởng họ hay tộc trưởng gọi
là ông đầu nhang ‑ voh yang va (người Chơro), chau đoòng (người Mạ),
tom yau (người Stiêng) hoặc vị già làng hay hội đồng già làng có trách
nhiệm giải quyết các việc trong trong một làng, palây, bòn, sóc… Đây là
Bản sắc văn hóa và tri thức địa phương trong phát triển vùng Đông Nam Bộ
375
những người già có uy tín, có nhiều kinh nghiệm được mọi người trong
làng tín nhiệm và tuân phục.
1.2. Phong tục tập quán:
Phong tục của người Việt ở vùng Đông Nam Bộ cũng có nguồn
gốc từ đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ, nhưng có tiếp biến thêm
nhiều yếu tố từ phong tục của người Khơme, người Chăm, người
Hoa… Chẳng hạn, hầu hết người Việt Nam Bộ vẫn giữ tập quán giẫy
mả vào ngày 25 tháng Chạp trước khi làm lễ đón ông bà vào ngày 30
tháng Chạp âm lịch, nhưng một bộ phận người Việt Nam Bộ cũng
theo tập quán tảo mộ vào tiết Thanh minh tháng Ba âm lịch giống như
người Hoa.
Tính cách của người Việt Nam Bộ cũng có nhiều nét khác biệt với
người Việt ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ: cởi mở, không ưa sự
ràng buộc, chuộng sự bình đẳng; trong mưu sinh thì có tinh thần mạo
hiểm, bươn chải, đầu óc sáng tạo, nhanh nhạy với cái mới; trong ứng xử
thì bộc trực, hào hiệp, trọng nghĩa, khinh tài, thích ăn chơi xả láng…
Người Chăm ở Đông Nam Bộ hầu hết theo đạo Hồi (Islam) nên
có những món ăn riêng, gọi là các món halal. Họ ăn thịt các loài động
vật do chính họ cắt tiết và làm lấy. Trong tháng chay nhịn Ramadan,
người Chăm Hồi giáo phải giữ mình trong sạch và phải chịu thử thách
bằng cách nhịn ăn, uống, hút thuốc vào ban ngày (khi có ánh sáng mặt
trời) và chỉ được phép ăn, uống, hút thuốc vào ban đêm.
Người Chăm Islam có tục chôn cất người chết trong vòng 24 giờ và
không có quan tài với ý nghĩa thân xác người chết sẽ mau hòa tan trở về
cúng Mẫu ‑ Nữ thần và kết hợp cúng thần biển. Ở Cần Giờ (thành phố
Hồ Chí Minh) và Bà Rịa ‑ Vũng Tàu đều có lễ hội Nghinh Ông trọng
thể hằng năm. Lễ hội văn hóa ‑ lịch sử bao gồm các lễ tết cổ truyền
như tết Nguyên Đán, tết Đoan ngọ Các lễ hội tưởng niệm các danh
nhân có công mở đất như Nguyễn Hữu Kính, Lê Văn Duyệt, Trần
Thượng Xuyên…
Người Khơme vẫn duy trì tín ngưỡng thờ Neak ‑ tà là các thần bảo
hộ con người và đất đai dưới hình tượng những viên đá cuội. Các lễ
hội truyền thống của người Khơme bao gồm hai loại chính: các lễ hội
Phật giáo (lễ Phật Đản (bon Pisakh Bâuchea), lễ nhập hạ (bon Châul
Vâssa), lễ cầu phước (bon Đa), lễ hội linh (bon Pchum Bôn), lễ tang (bon
Sôp) ) và các lễ hội văn hóa ‑ lịch sử (lễ Tết‑ pithi Chôl Chnam Thmây,
lễ cúng tổ tiên ‑pithi Sen Đônta, lễ cúng trăng ‑pithi Sâm Peak Preach
Khe hay còn gọi là lễ đút cốm dẹp ‑ Âk Âmbok với các nghi lễ cảm tạ
thần Mặt Trăng bảo hộ mùa màng, điều hòa thời tiết, đem lại ấm no, tổ
chức đua ghe ngo ‑ Um tuk ngua ). Các nghi lễ vòng đời có lễ cắt tóc
(đầy tháng), lễ giáp tuổi (12 tuổi), lễ đi tu cho nam giới, lễ cưới, lễ chúc
thọ và lễ tang với hình thức hỏa táng.
Bản sắc văn hóa và tri thức địa phương trong phát triển vùng Đông Nam Bộ
377
Người Hoa phần nhiều theo các tín ngưỡng dân gian và thờ cúng tổ
tiên. Hệ thống thần thánh của người Hoa rất phong phú và phức tạp.
Các thần thánh được cộng đồng thờ cúng gồm bà Thiên Hậu, Quan
Thánh Đế Quân, Quan Âm Bồ Tát, Phúc Đức Chánh thần, Khổng Tử
Trong đó, thánh nhân được thờ cúng nhiều hơn thần linh như Thiên
Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Phước Đức Chánh thần (ba vị
thần được tôn sùng nhất).
Người Chăm ở Đông Nam Bộ theo đạo Hồi (Islam), tôn thờ Thượng
đế Allah và lấy Kinh Qur’an làm kim chỉ nam cho hoạt động tín ngưỡng
của mình. Các lễ hội
nông nghiệp theo kiểu du canh du cư. Họ tôn sùng các hiện tượng
trong tự nhiên, các vật trong thiên nhiên thể hiện sự hòa nhập với thế
giới tự nhiên.
Khoảng ba năm dân trong làng (bòn) tổ chức lễ cúng thần rừng (lở
Yàng Bri). Họ góp gạo, rượu, gà, vịt… đem ra miếu lá dựng trên đường
đi vào rừng làm lễ cúng, mong Yàng Bri cho bà con những nguồn thực
phẩm từ rừng như: thú rừng, măng, dầu chai, mật ong…
Cây nêu trong lễ đâm trâu người Mạ tượng trưng cho cây hoa đẹp
nhất. Cây nêu được làm bằng cây muỗng là loại cây cao thẳng, sống lâu
năm, có nhiều hoa và trái (trái muỗng nhìn giống như trái bông gòn).
Cây muỗng không sử dụng để cất nhà chỉ dùng làm cây nêu.
Còn người Cơho thì có kinh nghiệm sử dụng cây bông lang làm cây
nêu trong lễ đâm trâu và mừng lúa mới.
Người Chơro có kinh nghiệm chọn cây vàng nghệ làm cây nêu vì
dẻo và thân thẳng, cao, không bị mối mọt.
2.2. Tri thức về quản lý xã hội và cộng đồng
‑ Người Việt ở các làng cổ Đồng Nai còn có tục lệ hết sức tiêu biểu
mang tính văn hóa cộng đồng, đó là “lễ lạy làng” trong đám cưới. Sau
khi đôi trai gái được hai gia đình đồng ý cho kết hôn, đám cưới phải
trình “lễ bát nhật” theo lệ làng. Ban Hội tề viết bố cáo tên tuổi của đôi
trai gái cũng như tên tuổi của cha mẹ hai bên và dán ở nhà Hội của làng.
Nếu trong 8 ngày không có ai phản đối hay tờ bố cáo không bị xé đi thì
cả hai gia đình mới được tổ chức lễ cưới cho đôi trẻ.
Ngày thành hôn cũng là ngày mà làng đứng ra chứng nhận và lập
giấy Hôn thú cho đôi hôn phối trước sự chứng kiến của mọi người. Sau
khi cô dâu chú rể lạy Cửu huyền Thất tổ, thì phải trình “lễ lạy làng”. Cô
dâu chú rể lạy tạ hai vị Hương cả và Hương hào để tỏ lòng cảm ơn
“làng” đã chứng giám và xác lập hôn thú cho họ. Ngày nay nghi thức
Bản sắc văn hóa và tri thức địa phương trong phát triển vùng Đông Nam Bộ
379
nhà dài còn tồn tại thì lễ cúng Yang Va mang tính tập thể kéo dài khoảng
một tuần lễ. Nay từng hộ nhỏ lần lượt cúng ở mỗi ấp tuần tự kéo dài
trong suốt tháng ba âm lịch.
380
Nguyễn Thị Nguyệt
‑ Trước kia, vào mùa cấy gặt, chiếc tù và, tù ló còn được người nông
dân ở làng Việt cổ Đồng Nai sử dụng để thổi kêu thợ đi cấy, đi làm. Đây
là nét sinh hoạt văn hóa nông nghiệp đặc thù của nông thôn làng Việt ở
Nhơn Trạch (Đồng Nai) so với những nơi khác. Trong cấy gặt, thanh
niên nam nữ thôn quê còn có tục hò đối đáp giao lưu tình cảm với nhau.
‑ Dân tộc bản địa Stiêng hiện nay vẫn còn một số hộ giữ được phong
tục cầu mưa, thường thực hiện vào dịp thu hoạch mùa màng xong và
chuẩn bị cho mùa vụ gieo trỉa sắp tới.
‑ Vào những năm thời tiết không thuận lợi, người Tày và người
Nùng tổ chức làm Then để xin Thần Nông ban cho mưa nắng thuận hòa,
mùa màng thuận lợi, con người khỏi bị đói kém thất mùa, dịch bệnh…
Người ta tiến hành lễ Then trên một thửa ruộng khô bên bờ suối với các
nghi nghi lễ theo chu kỳ canh tác như: lễ xuống đồng, lễ gieo mạ, lễ lúa
lên đòng, lễ lúa chín, lễ mừng sân lúa, lễ hội mùa (mừng lúa tốt) và lễ
dâng gạo mới (còn gọi là lễ Tiến cốm).
2.4. Tri thức về phong tục, tập quán
‑ Nhà ở của các dân tộc bản địa là nhà sàn, sàn cao chừng 1,5m, dựng
theo hướng đông‑tây tránh mặt trời đi qua đòn dông nhà, hai cửa hông
có hai cầu thang bằng gỗ hoặc tre. Thang người đi ở bên trái, thang
chuồng gà (nhiier) ở bên phải. Nhà có trổ một số cửa sổ, cửa ra vào không
có cánh để đóng mở mà dựng như phên liếp. Khoảng giữa rộng rãi là
nơi ngồi chơi ăn cơm. Khoảng sàn phía đông được đắp một ô đất chống
cháy để làm bếp đun nấu. Nửa sàn nhà phía tây là sạp tre cao hơn sàn
một chút được trải chiếu, đệm làm nơi ngủ của gia đình. Phía trên nơi
ngủ là bàn thờ Nhang cúng nhang lúa.
Buông (sau này mới đến Sài Gòn thuộc huyện Tân Bình) Có lẽ xuất
phát từ ý nghĩa quan trọng đó mà từ lâu người Việt ở vùng Đông Nam
Bộ đã tổ chức những dịp lễ hội đua ghe, đua thuyền trên sông – một nét
văn hoá sông nước được duy trì cho đến hiện nay.
‑ Người Stiêng ở Bình Phước, Đồng Nai còn giữ được món ăn truyền
thống (như cơm lam, rượu cần, canh bùi) biết đan gùi, rèn kim loại và
giao tiếp bằng tiếng Stiêng.
‑ Người Tày và người Nùng làm Then trong nghi lễ cúng giỗ, cầu
thọ, cầu an, giải hạn và chữa bệnh… Dựa vào mục đích, có thể chia Then
thành 7 loại gồm: Then cầu mùa, Then chữa bệnh, Then bói toán, Then
chúc tụng (làm nhà mới, cưới xin), Then cầu yên (cầu an), Then cầu tự
(cầu con cái), Then cấp sắc (còn gọi là Lẩu Then). Then thường được tổ
chức vào những thời tiết đẹp của mùa xuân và mùa thu. Đây là hai mùa
hoa thơm và cỏ lạ, mùa của trăng sáng, cũng là mùa ứng với hai quẻ
Thái (tháng giêng) và Bỉ (tháng bảy).
382
Nguyễn Thị Nguyệt
2.5. Tri thức về tín ngưỡng dân gian
‑ Các vị thần được các dân tộc bản địa thờ như: Yang Va (thần lúa),
Yang Bri (thần rừng), Yang Dal (thần suối), Yang Re (thần rẫy), Yang
Mơ (thần ruộng), Yang Nhi (thần nhà hay thổ công)… Một trong
những lễ cúng quan trọng của các dân tộc bản địa là lễ cúng Thần Lúa
(sa Yang Va) hay mừng Lúa mới đến nay vẫn còn bảo tồn nhiều nét
đặc sắc.
‑ Trong một vụ mùa, người Cơho còn tổ chức nhiều nghi lễ tương
ứng với chu kỳ sinh trưởng của cây lúa như: cúng lúa đang xanh tốt sắp
làm đòng để mong cho lúa chắc hạt, lúc lúa chín nửa bông cúng cho lúa
chín tương tự lễ cúng cơm mới, cầu mong thần linh ban cho mùa vụ
thuận lợi, mùa màng bội thu…
‑ Trong lễ cúng sa Yang Va của dân tộc Chơro bao giờ cũng có tục
Men ủ khoảng 10 ngày thì được. Men được đem phơi nắng cho khô dần,
có thể dành sử dụng trong vài năm.
‑ Người Kơho làm men ủ rượu cần sau đó treo men gác bếp lửa vì sợ
phơi nắng làm men không tốt.
‑ Người Mạ cũng có tri thức làm men ủ rượu cần và bọc men rượu
trong lớp vải để giữ hơi men.
‑ Người Mạ có kinh nghiệm từ việc trồng bông làm sợi, xe chỉ cho
đến việc lấy vỏ cây làm màu nhuộm sợi vải đều từ những loại cây trong
rừng. Những bí quyết về cách làm thuốc nhuộm cổ truyền cho sợi dệt
từ vỏ, lá cây rừng đều có trong truyện kể dân gian người Mạ. Một số
người Mạ lớn tuổi đều có kinh nghiệm truyền dạy lại nghề dệt thổ cẩm
truyền thống cho con cháu.
Nhìn chung, mỗi một dân tộc lại có những kho tàng tri thức dân gian
của riêng dân tộc mình. Trong tổng thể vùng, thì miền Đông Nam Bộ có
một kho tàng tri thức địa phương khá phong phú và đa dạng trên nhiều
mặt của đời sống xã hội. Trong đó, các tri thức về sản xuất phong phú
và nhiều hơn cả. Đối với các dân tộc ở Việt Nam, việc sản xuất chủ yếu
là trồng lúa, do đó những tri thức phong phú nhất cũng được hình thành
ở lĩnh vực này. Người Việt sống ở vùng đất thấp đã tích luỹ tất cả các tri
thức về nông nghiệp và thể hiện nó trong 4 khâu kỹ thuật “nước, phân,
cần, giống”…
Hệ thống tri thức của cộng đồng đóng một vai trò rất quan trọng,
nó đảm bảo sự ổn định và bền vững trong phát triển truyền thống
xã hội.
384
Nguyễn Thị Nguyệt
3. Phát triển vùng Đông Nam Bộ
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế phát triển và năng động nhất nước ta,
phát triển theo chiều sâu với cơ cấu công ‑ nông nghiệp. Do có những
nguồn lực phát triển về vị trí địa lý rất thuận lợi như tiếp giáp với những
385
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] />=view&id=74&Itemid=70
[2] />=119&sX_Menu_selectedID=18B2EC6
[3] />=view&id=1238&Itemid=74
[4] />=details#ixzz0KLdyBVMB&C
[5] Ngo Duc Thinh, local knowledged and development,
.
[6] Nguyễn Thị Nguyệt (2008), Văn hóa‑ văn vật cư dân Đồng Nai, tài liệu tổng
hợp điền dã sưu tầm.
[7] Sở Văn hóa Thông tin Đồng Nai, Bảo tàng Đồng Nai (12/2007), Thông tin
Khoa học.
386
Nguyễn Thị Nguyệt