LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - Pdf 30

LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG
TRONG PHÁT TRIỂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Bùi Văn Tuấn
Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐHQG Hà Nội
Đặt vấn đề
Liên kết kinh tế là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển, đặc
biệt đối với phát triển vùng. Ở nước ta trong những năm gần đây liên
kế kinh tế giữa các địa phương, các vùng đã và đang nhận được nhiều
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học cùng các cấp lãnh
đạo trong quy hoạch phát triển vùng. Nói cách khác, liên kết kinh tế
phải được đặt lên hàng đầu và làm rõ đối với sự phát triển chung của
mỗi vùng ở nước ta hiện nay.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, quan hệ hợp tác ngày càng
phát triển đã dẫn đến liên kết giữa các chủ thể (địa phương, vùng,
quốc gia ) khác nhau được mở rộng và đa dạng, đặc biệt trong lĩnh
vực kinh tế. Có thể nói trong bối cảnh toàn cầu hóa, liên kết kinh tế là
một trong những nhân tố quan trọng tạo sự thành công đối với phát
triển vùng.
Đồng bằng sông Hồng
1
là vùng có ý nghĩa then chốt trong sự nghiệp
phát triển kinh tế ‑ xã hội của cả nước. Dựa trên cơ sở nguồn lực, tiềm
năng, vị trí địa lý và lợi thế so sánh của các địa phương, từng bước phát
triển đồng bằng sông Hồng thành một vùng kinh tế phát triển năng
động, có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững, bảo đảm vai trò hạt
nhân, thúc đẩy phát triển đối với khu vực phía Bắc nói riêng và cả nước
1. Vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng, là một trong 8 vùng kinh tế của cả nước, bao
gồm 12 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tây, Hải Dương,
Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, có
tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao, đạt 10,5%, gấp 1,4 lần mức bình quân chung
cả nước. Năm 2005, vùng kinh tế này đã đóng góp 21,5% GDP, 15,4% giá trị xuất

các địa phương.
Vào giữa thế kỷ XX, P.Samuelson với thuyết về “lợi thế so sánh” đã
nhấn mạnh đến tư tưởng, nội dung của liên kết kinh tế, ông ví dụ: có
hai vùng, trong đó một vùng xét theo con số tuyệt đối là hữu hiệu hơn,
có lợi hơn hoặc không có lợi bằng vùng kia. Nếu mỗi vùng tự sản xuất
ra của cải, hay từng vùng chuyển sang chuyên môn hoá để tạo ra sản
Liên kết kinh tế giữa các địa phương trong phát triển vùng đồng bằng sông Hồng
421
phẩm có lợi thế so sánh, tức là hiệu quả tương đối cao hơn thì việc trao
đổi giữa hai vùng sẽ có lợi cho cả hai bên. Qua đó chúng ta hiểu liên
kết kinh tế là sự liên minh, kết hợp các quan hệ vật chất, tài chính giữa
các chủ thể với nhau theo những thỏa thuận nhất định nhằm thực hiện
các chương trình, mục tiêu nào đó để mang lại lợi ích chung của khối,
trong đó có lợi ích của các bên.
Vậy khái niệm liên kết kinh tế là gì? Theo các tác giả ở Việt Nam:
Liên kết kinh tế là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh
doanh, có thể giữa các doanh nghiệp thuộc cùng lĩnh vực hoạt động, giữa các
đối tác cạnh tranh hoặc giữa các doanh nghiệp có các hoạt động mang tính chất
bổ sung, nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong
sản xuất ‑ kinh doanh, tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả
năng, mở ra những thị trường mới
1
.
Ở bài viế́t này, liên kết kinh tế giữa các địa phương trong phát triển
vùng đồng bằng sông Hồng được hiểu là những hoạt động liên kết về̀
các vấn đề của kinh tế giữa các địa phương trong vùng nhằm tranh thủ
những lợi thế của đối tác, đem lại hiệu quả tố́t nhất trong phát triển kinh
tế của địa phương. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng thúc đẩy sự phát
triển chung của vùng đồng bằng sông Hồ̀ng.
Mục tiêu của liên kết kinh tế giữa các đị̣a phương là tìm cách bù đắp

Đồng bằng sông Hồng ngày càng phát triển, trình độ hợp tác giữa
các địa phương trong vùng vì thế cũng ngày được chuyển hóa thành các
hình thức liên kết phong phú, đa ngành và đa lĩnh vực. Chính các mối
quan hệ liên kết đã đưa đến cho các địa phương trong vùng cơ hội để
nhận được những lợi ích to lớn trong chiến lược phát triển kinh tế ‑ xã
hội. Bởi vậy, liên kết kinh tế của các địa phương trong vùng hiện nay
nhận được sự quan tâm của người dân.
Hình 1: Liên kết trong lao động sản suất giữa các địa phương

Liên kết kinh tế giữa các địa phương trong phát triển vùng đồng bằng sông Hồng
423
Điều này được thể hiện rõ qua liên kết kinh tế trong lao động sản
xuất của người dân giữa các địa phương trong vùng để làm ăn, phát
triển kinh tế, qua khảo sát có tới 77.9% tỷ lệ người dân trả lời có liên kết
với người dân khác ở các địa phương trong vùng, chỉ có 22.1% chọn
phương án không. Kết quả này cho thấy hiện nay, người dân ở các địa
phương thuộc vùng đồng bằng sông Hồng đã liên kết, hợp tác trong lao
động sản xuất và phát triển kinh tế.
Hình 2: Tương quan liên kết giữa các địa phương trong vùng
Như đã phân tích về thực trạng liên kết kinh tế của người dân
giữa các địa phương trong vùng hiện nay diễn ra ở hầu hết các địa
phương. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát định lượng mức độ liên
kết giữa các địa phương trong vùng có sự khác nhau, đáng chú ý là
ở hai tỉnh/thành Hưng Yên và Hải Phòng có tỷ lệ liên kết trong phát
triển kinh tế chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 94.0% và 83.7%, Hà Nội
có tỷ lệ liên kết không cao, với 66.8%. Qua biểu đồ trên, chúng ta có
thể thấy hiện nay đại đa số người dân ở các tỉnh/thành trong vùng
đã ý thức được vai trò về vấn đề liên kết trong phát triển kinh tế ‑ xã
hội. Do vậy hầu hết ở các tỉnh đều có tỷ lệ trên 65% người dân thực
hiện liên kết kinh tế với người dân ở các tỉnh, thành khác để phát

Trao đổi kinh nghiệm phát triển kinh tế, 43,1%; (3) Trao đổi khoa học
1. Xem PGS.TS. Phạm Thanh Khiết, Học viện Chính trị ‑ Hành chính khu vực III: Liên
kết kinh tế và vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế ‑ xã hội.
Lĩnh vực liên kết Tần suất (%)
Tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực 53,5
Tạo nguyên liệu và sản phẩm nông nghiệp 32,3
Liên kết phát triển công nghiệp chế biến 22,2
Liên kết phát triển du lịch 25,0
Trao đổi kinh nghiệm phát triển kinh tế 43,1
Trao đổi khoa học kỹ thuật 33,8
Liên kết kinh tế giữa các địa phương trong phát triển vùng đồng bằng sông Hồng
425
kỹ thuật 33,8%; (4) Tạo nguyên liệu và sản phẩm nông nghiệp 32,3%;
(5) Liên kết phát triển du lịch là 25.0%. Trên đây là 5 lĩnh vực theo đánh
giá của người dân địa phương có liên kết với các địa phương khác có
hiệu quả.
Bảng 2: Mục đích khi thực hiện liên kết kinh tế
Có nhiều mục đích khi thực hiện liên kết kinh tế giữa các địa phương
trong vùng, tuỳ vào từng lĩnh vực liên kết và nhu cầu của các địa
phương cần liên kết. Kết quả khảo sát cho thấy nhiều người liên kết kinh
tế với người dân ở các địa phương khác nhằm mục đích trao đổi kinh
nghiệm về sản xuất kinh doanh (24,3%), một số khác liên kết với mục
đích nâng cao sản lượng, hiệu quả kinh tế (22,9%), đồng thời cũng có ý
kiến cho rằng liên kết để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm (21,8%).
Bên cạnh đó cũng không ít ý kiến đưa ra mục đích liên kết là để giúp đỡ
đào tạo, bồi dưỡng trình độ, kỹ thuật (21,6%). Có thể nói, mục đích liên
kết giữa các địa phương là rất đa dạng và phong phú. Nhưng tựu chung
lại thì đều nhằm mục đích mang lại hiệu quả và phát triển kinh tế khi
thực hiện liên kết.
Thực trạng liên kết kinh tế theo ngành hiện nay ở các địa phương

Về liên kết kinh tế theo thành phần ở các địa phương hiện nay cho
thấy thành phần kinh tế tư nhân được đánh giá cao với 45,0% cho rằng
thực trạng liên kết hiện nay là tốt, cao nhất trong các thành phần kinh tế
nêu; 10,8% đánh giá rất tốt, chỉ có 2,6% đánh giá không tốt khi được hỏi
về vấn đề này. Thứ hai, là thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và thành
phần kinh tế nhà nước trên 40,0% và 32% lựa chọn hai thành phần kinh
Liên kết kinh tế giữa các địa phương trong phát triển vùng đồng bằng sông Hồng
427
Hình 3: Đánh giá thực trạng liên kết kinh tế theo ngành hiện nay
giữa các địa phương
tế này đã có sự liên kết giữa địa phương trong vùng. Thành phần kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài chưa được sự đánh giá cao vì chỉ có 21,1%
đánh giá tốt, trong khi đó có tới 21,1% đánh giá hoạt động liên kết trong
thành phần kinh tế này không tốt, cao hơn rất nhiều lần so với các thành
phần kinh tế khác. Qua đánh giá về thực trạng liên kết kinh tế theo thành
phần ở các địa phương, đa phần người dân (58,4%) đánh giá liên kết
kinh tế theo thành phần kinh tế tập thể giữa các địa phương trong vùng
ở mức độ bình thường.
Đánh giá về thực trạng liên kết theo lĩnh vực ở các địa phương, đa
phần người dân đánh giá thực trạng liên kết theo lĩnh vực giữa các địa
phương trong vùng ở mức độ bình thường, trên 54,9% đánh giá liên
kết nhằm tạo giá trị gia tăng hàng hoá, liên kết tiếp nhận ‑ chuyển giao
công nghệ và liên kết giải quyết vấn đề lao động ‑ việc làm ở mức độ
bình thường.
Ở mức độ tốt, lĩnh vực liên kết mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm được đánh giá cao, với 36,2%; thấp nhất là liên kết tiếp nhận‑
chuyển giao công nghệ 6,7%, Tỷ lệ đánh giá rất tốt chỉ chiếm rất thấp
và tương đương nhau, không có sự chênh lệch nhiều giữa các
phương án.
Ở mức độ không tốt, lĩnh vực liên kết để giải quyết vấn đề lao động

do đó cần thúc đẩy liên kết trong quá trình phát triển giữa các địa
phương để mang lại những lợi ích trong phát triển vùng kinh tế đồng
bằng sông Hồng.
Những lợi thế đem lại cho các địa phương trong quá trình thực hiện
liên kết kinh tế là rất lớn. Tuy nhiên giữa các địa phương cũng có sự
khác nhau rất lớn về các lợi thế này, Ở lợi thế mở rộng thị trường, Hà
Nam có tỷ lệ người chọn phương án này cao nhất chiếm 77,7%, tiếp theo
là Hưng Yên và Hà Nội lần lượt là 76,7% và 75,1%, Bắc Ninh là địa
phương có tỷ lệ người chọn phương án này thấp nhất 45,1%. Lợi thế
đem lại nguồn cung ứng nguyên liệu Hưng Yên và Hà Nam là hai địa
phương có tỷ lệ người dân chọn cao nhất với 54,0% và 43,6%, Hải Phòng
là tỉnh có tỷ lệ thấp nhất 22,6%. Từ kết quả trên chúng ta có thể nhận ra
ở mỗi địa phương đều có một thế mạnh riêng trong quá trình phát triển
kinh tế ‑ xã hội, và để cho sự phát triển này có quy mô lớn, chất lượng
cao và mang tính đồng bộ thì các địa phương trong vùng cần hợp tác,
liên kết với nhau để phát triển, tận dụng những lợi thế của đối tác để
thúc đẩy sự phát triển chung của cả vùng và nền kinh tế riêng của mỗi
địa phương.
430
Bùi Văn Tuấn
Hình 6: Liên kết kinh tế mang lại những lợi thế gì cho địa phương
Bảng 3: Cơ cấu lợi ích mang lại cho các địa phương nhờ liên kết
phát triển kinh tế vùng (Tỷ lệ:%)
Chính những lợi ích khi liên kết đem lại đã có tác động không nhỏ
đến sự phát triển kinh tế của các địa phương và đời sống của nhân dân.
Điều này đã dẫn đến sự thay đổi lớn trong đời sống của người dân hiện
nay, địa phương phát triển có nghĩa đời sống của người dân sẽ có sự
tiến bộ. Do đó, khi đánh giá về đời sống kinh tế của các gia đình so với
trước khi chưa có liên kết kinh tế giữa các địa phương, kết quả có 89,4%
đánh giá khá hơn, đây là một tỷ lệ khá cao. Chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ người

là Hà Nam 90,1%. Thấp nhất là Bắc Ninh với 85,7%. Tuy có sự khác
nhau, nhưng hầu hết ở các tỉnh người dân đều đánh giá đời sống của
họ hiện nay khá hơn và khá hơn nhiều so với trước đây chiếm tỷ lệ rất
cao, trên 90%.
Hình 8: Tương quan đánh giá về kinh tế hộ gia đình giữa các
địa phương so với trước khi chưa có liên kết
Sự đánh giá của người dân ở các tỉnh, thành trong vùng có sự khác
nhau ở tiêu chí “như cũ”, cao nhất ở Bắc Ninh là với 13.1%, thấp nhất là
Hưng Yên 1.3%. Ở mức độ kém hơn rất ít người dân lựa chọn và có địa
phương hầu như không có ai lựa chọn phương án này.
Tóm lại, liên kết kinh tế trong những năm qua đã đem lại nhiều lợi
thế và thuận lợi không nhỏ cho các địa phương vùng đồng bằng sông
Hồng, tạo điều kiện cho vùng đồng bằng sông Hồng phát triển ngày
432
Bùi Văn Tuấn
Hình 7: Kinh tế hộ gia đình so với trước khi chưa có liên kết
giữa các địa phương trong vùng
càng lớn mạnh, ổn định, có thế và lực mạnh hơn để cạnh tranh và hợp
tác với các vùng khác, một khu vực phát triển năng động, ngày càng
vững mạnh và trở thành đối tác quan trọng với các vùng khác trong cả
nước giúp các địa phương trong vùng khai thác được tiềm năng, lợi thế
cho sự phát triển. Chẳng hạn Hà Nội khai thác được công nghệ, chất
xám và mở rộng thị trường để thu hút lao động và tiêu thụ sản phẩm
của các địa phương khác trong vùng. Với Hải Phòng cảng biển là một
trong những lợi thế để liên kết với các vùng khác phát triển công nghiệp,
thương mại, dịch vụ đường biển. Quảng Ninh có tiềm năng du lịch (Hạ
Long) có thể liên kết để đầu tư, phát triển dịch vụ du lịch Đồng bằng
sông Hồng có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp, du lịch nên
có thể liên kết với các vùng khác để thu hút vốn đầu tư, khai thác các lợi
thế phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa của vùng nói

bên ngoài, đồng thời tạo môi trường thu hút đầu tư có hiệu quả tăng
thêm sức mạnh nội sinh, có sức đề kháng để chống lại tác động tiêu cực
của cơ chế thị trường. Đồng thời với môi trường ổn định, lành mạnh, ở
đó hoạt động sản xuất kinh doanh năng động, doanh nghiệp làm ăn có
hiệu quả sẽ tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư cả trong và ngoài
vùng. Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc cần
phải tạo sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp, các ngành, các địa
phương, xây dựng các hiệp hội ngành nghề trong sản xuất, phân phối
sản phẩm để tăng thêm sức mạnh, đứng vững được tại thị trường trong
nước, khu vực và trên thế giới. Để làm được điều đó, đòi hỏ̉i các địa
phương trong vùng cần thực hiện tốt liên kết kinh tế.
Liên kết kinh tế giúp các địa phương của vùng tăng thêm sự phát
triển kinh tế tổng hợp, xoá bỏ sự phát triển đơn cực, cục bộ, khép kín,
mở rộng sự hợp tác, mở rộng thị trường. Liên kết kinh tế vừa hợp tác
vừa xâu chuỗi các ngành, gắn kết các địa phương, các vùng tạo nên một
chuỗi các giá trị tổng hợp trong quá trình phát triển kinh tế. Trong đó,
sự phát triển đơn cực, khép kín nhường chỗ cho sự kết nối liên thông
giữa ngành này với ngành khác, địa phương này địa phương khác, vùng
này với vùng khác. Liên kết kinh tế có thể kéo văn minh thế giới về tới
những vùng hoang sơ, nghèo khổ, đồng thời sản phẩm tiểu thủ công
nghiệp, hàng nông sản có thể vào được thị trường thế giới. Sự hợp tác
phân công giữa các địa phương, vùng được mở rộng tạo điều kiện cho
các địa phương đang và kém phát triển khai thác các nguồn lực, đẩy
nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
3. Một số hạn chế trong liên kết kinh tế giữa các địa phương vùng
đồng bằng sông Hồng
Vấn đề liên kết vùng luôn được đặt ra trong chiến lược phát triển
ở các lĩnh vực để mang lại hiệu quả kinh tế cho các địa phương của
434
Bùi Văn Tuấn

đều nằm trong vùng đã được quy hoạch song mỗi địa phương là một
chủ thể kinh tế độc lập, không có cơ cấu điều hành nào cho vùng vì
vậy sẽ chẳng ai nghe ai, chẳng ai quan tâm đến ai khi hoạch định các
chính sách phát triển kinh tế của mình. Cũng phải kể thêm rằng, trong
những năm qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách nhằm phát triển
vùng, tuy nhiên khi triển khai lại chưa có cơ chế để điều phối và quản
Liên kết kinh tế giữa các địa phương trong phát triển vùng đồng bằng sông Hồng
435
lý nên chính sách thường chỉ nằm trên giấy, không có nhiều giá trị
trong thực hiện hoặc có cũng chỉ ở mức độ vừa phải. Việc tạo ra sự
“vượt trội” so với các địa phương khác đang được xem là tiêu chí
quan trọng để đánh giá “năng lực” lãnh đạo. Vì vậy, điều quan tâm
của lãnh đạo các địa phương là tìm mọi cách để lôi kéo được nhiều
dự án đầu tư về địa phương mình, bất kể hiệu quả cũng như hậu quả
lâu dài; Bản tính cục bộ địa phương, động cơ phải cạnh tranh để vượt
trội đã phần nào làm cản trở tư duy hợp tác, liên kết với các địa
phương khác trong khu vực.
4. Một số giải pháp nhằm phát huy liên kết trong phát triển vùng
kinh tế đồng bằng sông Hồng
Từ những phân tích trên ta thấy, hiện nay liên kết kinh tế giữa các
địa phương trong vùng còn một số vấn đề chưa phát huy hết tiềm năng
và lợi thế vốn có của vùng. Do đó để liên kết vùng phát triển ngày càng
tốt hơn cần phải thực hiện tốt một số vấn đề: trước hết, cần có chính
sách hợp lý trong quan hệ kinh tế giữa các địa phương (66,7%), thứ hai
cần xây dựng cơ chế liên kết giữa các ngành, các thành phần và vùng
kinh tế (65,8%). Trên 50,0% người dân lựa chọn một số yếu tố cần thực
hiện tốt như: Xây dựng cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu liên kết (57,1%),
bởi lẽ theo đánh giá đây là một trong những nguyên nhân gây ảnh
hưởng đến việc thúc đẩy liên kết phát triển kinh tế giữa các địa
phương; Nhận thức rõ ràng, có liên kết mới có thể phát triển (54,8%);

triển khai các biện pháp sau đây:
+ Nghiên cứu và ban hành chính sách thống nhất cho vùng kinh tế
đồng bằng sông Hồng, không để tình trạng mỗi địa phương mỗi chính
sách, kể cả chính sách do TW và địa phương ban hành.
+ Thành lập các đoàn kiểm tra của Chính phủ để kiểm tra tình hình
ban hành chính sách tại các địa phương nhằm phát hiện và loại bỏ
những văn bản đã ban hành trước đây nhưng trái với quy định chung.
Đối với các chính sách đã áp dụng tại các địa phương, tùy từng trường
hợp cụ thể mà quy định thời gian được phép tiếp tục áp dụng hoặc phải
loại bỏ ngay.
+ Khi ban hành chính sách phát triển cho vùng, Chính phủ cần phải
tham vấn từ tất cả các địa phương trong vùng, tránh trường hợp các
chính sách tạo ra lợi thế cho địa phương này nhưng gây bất lợi cho địa
phương khác.
+ Có chính sách ưu đãi cho các ngành công nghiệp mũi nhọn cần ưu
tiên phát triển trong vùng trên cơ sở quy hoạch phát triển chung đã phê
duyệt, trong đó cần chỉ rõ địa phương nào được ưu tiên phát triển lĩnh
vực gì, sản phẩm gì.
Liên kết kinh tế giữa các địa phương trong phát triển vùng đồng bằng sông Hồng
437
438
Bùi Văn Tuấn
+ Cần xóa bỏ tình trạng các địa phương tranh thủ “xin xỏ” trung
ương để được hỗ trợ cho các chính sách ưu đãi riêng.
Xúc tiến thành lập “Hội đồng vùng”
Mặc dù Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển vùng kinh tế
đồng bằng sông Hồng nhưng về mặt quản lý lại không có một cơ cấu
nào để điều hành nó. Để giải quyết vấn đề này, một cơ chế chính sách
tạo sự nối kết toàn vùng là cần thiết hiện nay để thực hiện các vấn đề
như: liên kết thế nào, làm cái gì, địa phương làm gì, trung ương làm

tác cán bộ cũng cần phải được cải tiến theo hướng đa dạng hoá nguồn
sử dụng. Nên dành một tỷ lệ nhất định người từ địa phương khác tham
gia vào các chức vụ lãnh đạo và cán bộ chủ chốt tại mỗi địa phương,
tránh chỉ sử dụng người địa phương trong các chức vụ trọng yếu tại địa
phương mình.
Giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các địa phương: Có nhiều phương án
nếu muốn xử lý tốt các mối quan hệ liên quan đến liên kết phát triển
cần phải thực hiện. Theo đánh giá của người dân tỷ lệ cao nhất cho rằng
cần xXử lý tốt quan hệ giữa các địa phương trên phạm vi toàn vùng
thành một mạng lưới chỉnh thể thống nhất (52,0%). Đồng thời xử lý tốt
quan hệ giữa đô thị và nông thôn trong quá trình đô thị hoá (49,6%).
Đây là hai vấn đề trọng điểm cần ưu tiên thực hiện để xử lý tốt các mối
quan hệ liên quan đến liên kết phát triển, ngoài ra còn một số phương
án khác cũng cần quan tâm.
Kết luận
Kết quả nghiên cứu thực trạng liên kết giữa các địa phương trong
phát triển vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng cho thấy, sự hợp tác, liên
kết kinh tế này là một yêu cầu tất yếu khách quan. Mối quan hệ hợp tác
và liên kết nêu trên đã hình thành và phát triển, được xem như là điều
kiện mang tính cấp bách trong bối cảnh nền kinh tế Vùng đồng bằng
sông Hồng nói riêng và cả nước nói chung đang vận hành rất năng động
và đa dạng, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang
và sẽ diễn ra với tốc độ nhanh chóng và mạnh mẽ hiện nay cũng như
tương lai.
Chính mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các địa phương trong
phát triển vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng đã góp phần tăng
trưởng kinh tế cao và ổn định của toàn Vùng trong những năm qua.
Tuy nhiên, liên kết kinh tế của toàn vùng vẫn còn nhiều bất cập dẫn
tới hiệu quả của sự liên kết chưa cao, nhiều ý kiến cho rằng liên kết
kinh tế trong vùng chưa cao, có nhưng chỉ là số ít, hơn nữa những

các tỉnh, thành trong công tác phối hợp, liên kết; (14) Tổ chức thực
hiện, kiểm tra và điều chỉnh quá trình liên kết vùng; (15) Tạo lập môi
trường văn hoá ‑ tâm lý thuận lợi cho quá trình liên kết, hợp tác.
Ngoài ra cần xử lý tốt các mối quan hệ giữa các địa phương trên
phạm vi toàn vùng thành một mạng lưới chỉnh thể thống nhất; xử lý tốt
mối quan hệ giữa vùng trọng điểm và vùng lân cận trong quá trình phát
triển toàn vùng; xử lý tốt mối quan hệ giữa đô thị và nông thôn trong
quá trình đô thị hoá.
Liên kết kinh tế giữa các địa phương trong phát triển vùng đồng bằng sông Hồng
441
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Dương Đình Giám (07/2003), Về vấn đề liên kết kinh tế ở Việt Nam hiện
nay, Thời báo Kinh tế Việt Nam.
[2] Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
(2008), Khoa học phát triển, lý luận và thực tiễn ở VN, Nxb Thế Giới.
[3] Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển (2006), Khu vực học: cơ sở
lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu, Hội thảo về nghiên cứu
và đào tạo về khu vực học, 2005.
[4] Phương Thảo (06/2005), Vai trò của công nghệ thông tin trong việc liên kết
phát triển KT‑XH vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Báo Đầu tư.
[5] Ngô Đình Lập (05/2006), Gia nhập WTO doanh nghiệp cần sự liên kết,
Vietnamnet.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status