ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HỒ THỊ THUẬN YẾN
QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CÁC HỢP TÁC XÃ
NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG
HỒNG (1988 - 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu, tôi đã hoàn thành xong luận văn
thạc sĩ lịch sử với đề tài Qúa trình chuyển đổi các hợp tác xã nông nghiệp
vùng đồng bằng sông Hồng (1988 - 2010). Tôi xin cam đoan luận văn này là
kết quả nghiên cứu nghiêm túc của tôi dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của
PGS.TS. Trương Thị Tiến. Kết quả này chưa hề được công bố trong bất cứ
công trình khoa học nào, mọi tài liệu tham khảo đều được trích dẫn rõ ràng.
Nếu lời cam đoan trên là không đúng, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2014
Học viên
Hồ Thị Thuận Yến
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 8
7. Cấu trúc của luận văn 8
Chƣơng 1. MÔ HÌNH HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG
BẰNG SÔNG HỒNG TRƢỚC NĂM 1988 10
1.1. Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp 10
1.1.1. Khái niệm hợp tác xã 10
1.1.2. Khái niệm và bản chất hợp tác xã nông nghiệp 11
1.2. Khái quát chung về đồng bằng sông Hồng 13
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 13
1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 17
1.3. Thực trạng mô hình hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng bằng sông
Hồng trƣớc năm 1988 21
1.3.1. Xây dựng mô hình tập thể hóa nông nghiệp (1958 - 1980) 21
1.3.2. Đổi mới cơ chế quản lý của các hợp tác xã nông nghiệp (1981-
1988) 29
* Tiểu kết chƣơng 1 32 Chƣơng 2. SỰ CHUYỂN ĐỔI CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG (1988 - 2010) 34
2.1. Mô hình hợp tác mới và sự chuyển đổi chức năng, phƣơng thức
hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp (1988 - 1996) 34
2.1.1. Nhận thức mới về mô hình hợp tác trong nông nghiệp 34
2.1.2. Hợp tác xã nông nghiệp chuyển đổi nội dung, phương thức hoạt
động 39
2.2. Hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng chuyển đổi
theo Luật hợp tác xã (1997 - 2010) 50
2.2.1. Luật hợp tác xã 50
2.2.2. Tình hình chuyển đổi của các hợp tác xã nông nghiệp theo Luật
18
Bảng 1.3: Tình hình biến động hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng bằng
sông Hồng (1960 - 1965)………………………………………………
25
Bảng 1.4: Số liệu thống kê hợp tác xã vùng đồng bằng sông Hồng (1970
- 1974)……………………………………………………………….……
28
Bảng 1.5: Hợp tác xã vùng đồng bằng sông Hồng phân theo tỉnh
(1984 - 1988)…………………………………………………………….
30
Bảng 2.1: Kết quả đổi mới hợp tác xã đến cuối năm 1992 ……………….
41
Bảng 2.2: Tình hình các HTXNN ở một số tình đồng bằng sông Hồng
đến cuối năm 1996……………………………………………………….
45
Bảng 2.3: Số lượng và cơ cấu hợp tác xã nông nghiệp chuyển đổi của
đồng bằng sông Hồng so với các vùng khác trong cả nước (1/10/2001)
58
Bảng 2.4: Số lượng và cơ cấu hợp tác xã nông nghiệp chuyển đổi của các
tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng năm 2006…………………………….
60
Bảng 2.5: Số hợp tác xã nông nghiệp thành lập mới vùng đồng bằng sông
Hồng từ 2001 - 2006 (tính đến 1/7/2006)……………………………….
Bảng 2.14: Nguồn vốn sản xuất kinh doanh có đến 31/12/2005 bình quân
một HTX………………………………………………………………
81
Bảng 2.15: Lao động, vốn sản xuất kinh doanh của hợp tác xã nông
nghiệp…………………………………………………………………….
82
Bảng 2.16: Số lượng và tỷ lệ các loại hình dịch vụ của đồng bằng sông
Hồng so với cả nước………………………………………………………
85
Bảng 3.1: Tình hình tổ chức đại hội xã viên……………………………
94
Bảng 3.2: Tình hình thành viên Ban quản trị…………………………….
95
Bảng 3.3: Tình hình tổ chức bộ máy chuyên môn của hợp tác xã……….
97
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt tiến trình xây dựng, phát triển từ cuối những năm 50, đầu
những năm 60 của thế kỷ XX đến năm 1975, HTXNN Việt Nam đã có những
đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Tuy nhiên, sau khi miền
Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, mô hình
HTX kiểu cũ đã dần tỏ ra không còn thích hợp, bộc lộ những yếu kém trong
hoạt động và quản lý dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Nguyên nhân cốt lõi là do
những nhận thức giản đơn về quá trình xây dựng mô hình HTX, về kinh tế
nông thôn nói chung, ĐBSH nói riêng đã trở thành nhiệm vụ của nhiều ngành
khoa học, trong đó có khoa học lịch sử, nhằm đánh giá, tổng kết quá trình đổi
mới đường lối phát triển nông nghiệp của Đảng. Nhìn nhận khách quan những
thành tựu đạt được cũng như những hạn chế cần kịp thời khắc phục của quá
trình đổi mới sẽ tạo thêm cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn để Đảng và Nhà
nước tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế
nông nghiệp, nông thôn nói chung và phát huy vai trò tích cực của HTXNN
nói riêng. Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài:
“Quá trình chuyển đổi các hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng bằng sông
Hồng (1988 - 2010)” làm luận văn thạc sĩ lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là việc xây dựng mô hình hợp tác trong
nông nghiệp là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam. Chính vì vậy, vấn đề mô hình hợp tác
trong nông nghiệp đã thu hút sự nghiên cứu của nhiều học giả, các nhà nghiên
3
cứu trong và ngoài nước ở mọi lĩnh vực: khoa học tự nhiên, kinh tế, triết học,
xã hội học, lịch sử… với các cấp độ khác nhau.
Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (1927) đã có
một chuyên mục viết về HTX, Người làm rõ lịch sử phát triển HTX trên thế
giới, các hình thức HTX, nguyên tắc tổ chức HTX, quản lý HTX… Với tác
phẩm “Về cách mạng xã hội chủ nghĩa” (1976), Hồ Chí Minh cũng bàn về
HTX, cách tổ chức HTX đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, đi từ thấp
đến cao. Nhiều tác phẩm khác của Người cũng đề cập đến vấn đề này ở nhiều
mức độ khác nhau.
Bước sang thời kỳ đổi mới, dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau tiêu
biểu có các công trình như sau:
-Báo cáo Tổng kết hợp tác hóa nông nghiệp 1958 - 1990 của Tiểu Ban
Hợp tác hóa Trung ương (Hà Nội, 5/1991) đánh giá quá trình hợp tác hóa ở
nghiệp ở nước ta, LAPTSKH kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội,
1994.
- Nguyễn Thái Nguyên, Phương hướng và giải pháp kinh tế chủ yếu để
phát triển các hợp tác xã kiểu mới trong nông nghiệp, LAPTS kinh tế, Đại
học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 1995.
- Nguyễn Đình Hợi, Xu hướng biến đổi của hợp tác xã nông nghiệp
trong quá trình đổi mới kinh tế nước ta, Học viện CTQGHCM, Hà Nội, 1995.
- Nguyễn Thanh Hà, Kinh tế hợp tác trong nền kinh tế thị trường Việt
Nam, LATS kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2000.
- Lưu Hoài Chuẩn, Sự hình thành và phát triển các hình thức kinh tế hợp
tác trong qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Việt Nam, LATS
kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2002.
5
Trong phạm vi đề tài nông nghiệp, nông thôn và chuyển đổi các HTXNN
vùng ĐBSH cũng có một số công trình nghiên cứu như:
- Bùi Hồng Vạn, Biến đổi kinh tế xã hội của một xã châu thổ sông Hồng
- xã Phụng Thượng (Hà Tây) từ 1945 đến 1995, LATS Lịch sử, Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
- Lâm Thị Hiền, Biến đổi về cơ cấu và sử dụng ruộng đất ở châu thổ
sông Hồng từ năm 1993 đến 2005, Khóa luận cử nhân Lịch sử Việt Nam, Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007.
- Hoàng Thị Hồng Nga, Quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong kinh tế
nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng (1988- 2006), Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp cơ sở, khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2011.
Như vậy, đổi mới mô hình HTXNN ở Việt Nam là một vấn đề có ý nghĩa
chiến lược đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng và kinh tế đất
nước nói chung, thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa
học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Đó là một lợi thế để tác giả luận văn có
nghiệp nói riêng và kinh tế đất nước nói chung. Tuy nhiên nó cũng đặt ra
nhiều vấn đề bức thiết đòi hỏi cần phải giải quyết kịp thời, triệt để nhằm phát
huy hơn nữa vai trò tích cực của mô hình hợp tác đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Luận văn trình bày và phân tích quá trình chuyển đổi các HTXNN vùng
ĐBSH từ năm 1988 đến năm 2010; làm rõ những chuyển biến tích cực cũng
7
như những mặt hạn chế tồn tại; nhằm tiếp tục phát triển, hoàn thiện các mô
hình hợp tác trong nông nghiệp Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tập hợp, hệ thống tư liệu về HTXNN vùng ĐBSH trong những năm
1988 - 2010.
- Phân tích những yếu tố tác động đến quá trình chuyển đổi các HTXNN
vùng ĐBSH như các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế
nông nghiệp, Luật Hợp tác xã.
- Luận văn phác dựng lại quá trình chuyển đổi của các HTXNN vùng
ĐBSH chủ yếu qua hai giai đoạn 1988 - 1996; 1997 - 2010 với những thành
tựu, hạn chế riêng của từng giai đoạn. Mặt khác, bước đầu có một vài nét so
sánh quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp ở miền Bắc và
miền Nam.
- Luận văn phân tích, đánh giá những tác động tích cực của quá trình
chuyển đổi các HTXNN đối với kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông thôn vùng
ĐBSH. Đồng thời cũng chỉ ra những bất cập, hạn chế, những vấn đề nảy sinh
đòi hỏi tiếp tục giải quyết cũng như một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế
hợp tác trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung
của luận văn được cấu tạo trong 3 chương:
Chương 1. Mô hình hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
trước năm 1988
9
Chương 2. Sự chuyển đổi của các hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng
bằng sông Hồng (1988 - 2010)
Chương 3. Một số nhận xét đánh giá
10
NỘI DUNG
Chƣơng 1. MÔ HÌNH HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG
BẰNG SÔNG HỒNG TRƢỚCNĂM 1988
1.1. Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm hợp tác xã
Hợp tác là đặc tính xã hội của lao động. Lao động của con người mang
tính xã hội và tạo nên các quan hệ lao động. Trao đổi lao động là kết quả của
các quan hệ lao động, đây là phương thức của bản thân hoạt động lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất là nhân tố quan trọng làm cho quan hệ
lao động phát triển và có những hình thức xã hội tương ứng. Việc chuyển từ
nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa là quá trình có tính chất
căn bản của quan hệ lao động. Chính quan hệ thị trường đã nảy sinh nhiều
hình thức hợp tác mới: theo cơ chế mới, theo hoạt động và theo các hợp tác
xã.
Tiếp thu có chọn lọc các khái niệm HTX trên thế giới và căn cứ vào điều
kiện thực tế của nước ta, Luật HTX năm 2003 của nước ta đã định nghĩa về
HTX tại Điều 1 như sau:
“HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân
bằng cách thực hiện mức giá và lãi nội bộ thấp hơn giá thị trường.
Bốn là, HTXNN phải hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và
cùng có lợi.
Năm là, HTXNN là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ liên kết những xã
viên thực sự có nhu cầu, có mong muốn không lệ thuộc vào nơi ở và cũng chỉ
liên kết những dịch vụ cần thiết và đủ khả năng quản lý kinh doanh. Như vậy,
trong mỗi thôn, mỗi xã có thể cùng tồn tại nhiều HTX có nội dung kinh doanh
12
khác nhau, có số lượng xã viên không như nhau, trong đó một số hộ gia đình,
cá nhân, pháp nhân đồng thời là xã viên của một số HTX.
Sáu là, hộ gia đình, cá nhân, pháp nhân vừa là đơn vị kinh tế tự chủ trong
HTX, vừa là đơn vị kinh tế cơ sở hoạt động kinh doanh và hạch toán độc lập.
Do vậy, quan hệ giữa HTX và xã viên vừa là quan hệ liên kết, giúp đỡ nội bộ
vừa là quan hệ giữa hai đơn vị kinh doanh độc lập. Cơ chế liên kết của HTX
cần phản ánh được mối quan hệ phức tạp đó, mang tính chất vừa tương trợ
giúp đỡ, vừa kinh doanh.
Bảy là, HTXNN là tổ chức kinh tế liên kết của các hộ gia đình, cá nhân,
pháp nhân, mang tính chất vừa tương trợ giúp đỡ, vừa kinh doanh.
Hợp tác xã nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trên các mặt kinh tế, xã
hội. Trước hết, HTXNN là hình thức kinh tế tập thể của nông dân, vì vậy hoạt
động của HTXNN có tác dụng to lớn, tích cực đến hoạt động sản xuất của hộ
nông dân. Nhờ có hoạt động của HTX, các yếu tố đầu vào và các khâu dịch
vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời, đầy đủ, đảm
bảo chất lượng, các khâu sản xuất tiếp theo được đảm bảo làm cho sản xuất
của hộ nông dân được nâng lên.
Thông qua hoạt động dịch vụ, vai trò điều tiết sản xuất của HTXNN
được thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập
trung, tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên
môn hóa. Ví dụ, dịch vụ làm đất, dịch vụ tưới tiêu, dịch vụ bảo vệ thực vật…
Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn (Hòa Bình). Ngày 1/8/2008,
Hà Tây và một số khu vực của các tỉnh nói trên được sáp nhập vào Hà Nội.
Giới hạn hành chính của ĐBSH còn lại 10 tỉnh và thành phố.
14
Bảng 1.1: Dân số, diện tích các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
(năm 2006)
Tên vùng, tình
Dân số (nghìn
ngƣời)
Diện tích
(km
2
)
Mật độ
(ngƣời/km
2
)
Cả nước
85.154,9
331.211,6
257
Đồng bằng sông Hồng
18.400,6
14.862,5
1.238
Hà Nội
6.232,9
3.325
1.991,2
1.650,8
1.206
Ninh Bình
928,5
1.392,4
667
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2007), Niên giám thống kê 2006. Nxb Thống kê,
Hà Nội.
(Riêng số liệu về Hà Nội cập nhật đến tháng 8 năm 2008, sau khi sáp
nhập với Hà Tây)
* Vị trí địa lý
Đồng bằng sông Hồng trải rộng từ vĩ độ 21°34´B (huyện Lập Thạch) tới
vùng bãi bồi khoảng 19°5´B (huyện Kim Sơn), từ 105°17´Đ (huyện Ba Vì)
đến 107°7´Đ (trên đảo Cát Bà). Toàn vùng có diện tích: 15.000 km², chiếm
4,5% diện tích của cả nước.
15
Phía Bắc và Đông Bắc giáp với Trung du và miền núi phía Bắc là một
vùng giàu tài nguyên khoáng sản, nguồn nguyên liệu cho hoạt động sản xuất
phong phú, thị trường tiêu thụ rộng lớn.
Tây và Tây Nam giáp với Tây Bắc và Bắc của Bắc Trung Bộ, đây cũng
là vùng giàu tiềm năng về thuỷ điện, vật liệu xây dựng và đồng thời cũng là
thị trường hấp dẫn.
Phía Đông và Đông Nam là Vịnh Bắc Bộ nơi có nhiều khả năng phát
triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản, phát triển du lịch, đặc biệt là hệ
thống các đảo Bạch Long Vĩ, Cát Bà. Mặt khác bờ biển có nhiều vịnh có thể
xây dựng các cảng biển nước sâu để phát triển giao thông vận tải biển thông
thương với các vùng trong cả nước và với các nước trên thế giới.
12, 1 dưới 18 độ C, thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ, đa dạng hoá các sản
phẩm nông sản, đặc biệt có nhiều khả năng đưa vụ đông thành vụ sản xuất
chính.
* Tài nguyên thiên nhiên
- Đất đai:
Đất là tài nguyên thiên nhiên có giá trị hàng đầu của ĐBSH. Đất nông
nghiệp do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp rất phù hợp với các
loại cây trồng của nền nông nghiệp nhiệt đới. Diện tích đất của ĐBSH vẫn
liên tục được bồi đắp mở rộng về phía biển như ở các huyện Tiền Hải (Thái
Bình), Kim Sơn (Ninh Bình), Nghĩa Hưng (Nam Định).
Với lợi thế đó, ĐBSH là nơi có điều kiện rất thuận lợi để sản xuất lương
thực, thực phẩm. Trên thực tế, ĐBSH là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước, sau
đồng bằng sông Cửu Long. Đất nông nghiệp trên 70 vạn ha, chiếm 56% tổng
diện tích tự nhiên của vùng, trong đó có 70% đất có độ phì trung bình trở lên
có khả năng sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên độ phì nhiêu của các loại đất