Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
MỤC LỤC
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang cùng nhân loại bước vào kỉ nguyên mới. Trong mục tiêu
chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước ta nêu rõ: “Phát huy mọi nguồn lực để
phát triển nhanh và có hiệu quả những sản phẩm, ngành, lĩnh vực mà nước ta có lợi
thế; đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; không ngừng nâng cao sức cạnh
tranh trên thị trường trong và ngoài nước; tăng năng suất lao động xã hội và nâng
cao chất lượng tăng trưởng. Triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng tích lũy cho đầu
tư phát triển”.
Cùng với phát triển ngày càng sâu rộng của các nước trên thế giới, thị trường
Việt Nam cũng là một mảnh đất đầu tư đầy tiềm năng cho nhiều nhà đầu tư. Trong
nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, các doanh nghiệp được tự chủ trong mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng đồng thời cũng đòi hỏi các doanh nghiệp này
phải năng động, sáng tạo trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy thì mới
có thể tồn tại và phát triển được trong một môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện
nay, đặc biệt khi Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới.
Công ty cổ phần khai thác, chế biến khoáng sản Hải Dương tiền thân là Công
ty khai thác, chế biến đá và khoáng sản Hải Dương. Sau khi cổ phần hóa các doanh
nghiệp nhà nước, công ty đổi tên thành Công ty cổ phần khai thác, chế biến khoáng
sản Hải Dương. Nằm trên khu công nghiệp phát triển khá sôi động với nhiều nhà
máy,xí nghiệp, Công ty cổ phần khai thác chế biến khoáng sản Hải Dương đã góp
một phần lớn cung cấp nguyên liệu cho các Nhà máy xi măng. Đây là nơi tiêu thụ
nhiều sản phẩm nhất mang lại lợi nhuận lớn cho Công ty. Trong những năm qua,
Công ty luôn chú trọng mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao đáng kể năng lực cạnh tranh và củng cố uy
tín trên thị trường. Nhờ vậy mà Công ty đã đạt được một số kết quả kinh doanh tích
cực và dần khẳng định vị thế của mình trong ngành khai thác khoáng sản.
Muốn chiến thắng trong cạnh tranh và đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Hồng Minh đã tận tình giúp đỡ em
trong quá trình lựa chọn và hoàn thiện chuyên đề này. Đồng thời em cũng xin gửi
lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ, nhân viên trong Công ty cổ phần khai thác, chế biến
khoáng sản Hải Dương đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại đơn vị.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP KHAI KHOÁNG
1.1. Khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
khai khoáng:
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và các loại hình cạnh tranh:
1.1.1.1. Cạnh tranh:
Thuật ngữ "cạnh tranh" được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực
như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao; thường xuyên được
nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông
tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng từ nhiều góc độ khác
nhau. Chính vì vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ thể như sau:
- Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là hành động
ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành
được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, phần thưởng hay những thứ
khác.
- Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa
những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận
lợi trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản
xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau
Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi
nhuận trên cơ sở cạnh tranh Quốc gia hay Quốc tế, thì đối với một Quốc gia mục
tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân.
Qua những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy: cạnh tranh
không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động
lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của
khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội
và lợi thế mà mình có được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước. Thông
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
qua cạnh tranh, các chủ thể xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng
với những cơ hội và thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những
hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh. Mục đích cuối
cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, với
người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận và với người tiêu dùng là tiện ích tiêu dùng.
1.1.1.2. Các loại hình cạnh tranh:
Có nhiều hình thức được dùng để phân loại các loại hình cạnh tranh như: căn
cứ vào chủ thể tham gia, phạm vi ngành kinh tế và tính chất của cạnh tranh.
Căn cứ chủ thể tham gia:
Cạnh tranh giữa người mua và người bán: do sự đối lập nhau của hai chủ
thể tham gia giao dịch để xác định giá cả của hàng hóa cần giao dịch, sự cạnh tranh
này diễn ra theo qui luật “mua rẻ, bán đắt” và giá cả của hàng hóa được hình thành.
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: sự cạnh tranh này hình thành
trên quan hệ cung - cầu. Tuy nhiên, sự cạnh tranh này chỉ xảy ra trong điều kiện
cung của một hàng hóa dịch vụ có chất lượng ít hơn nhu cầu của thị trường.
Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Đây có lẽ là hình thức tồn tại nhiều
nhất trên thị trường với tính chất gây go và khốc liệt. Cạnh tranh này có ý nghĩa
sống còn đối với doanh nghiệp nhằm chiếm lĩnh thị phần và thu hút khách hàng.
Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế:
cạnh tranh không hoàn hảo do những người bán hoặc người mua thiếu các thông tin
về giá cả các loại hàng hóa được trao đổi.
1.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được
lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh
tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số
kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng sản phẩm
để khai thác các cơ hội trên thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của
khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Như vậy, năng lực canh tranh của
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đấy là các
yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về
công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt
mà còn phải đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh
vực, cùng một thị trường.
Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với
ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.
Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần
mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh,…
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong
điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Thực
tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên
trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như
hiện nay.
lượng sản phẩm dẫn tới tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, kéo dài chu kì sống của sản
phẩm, tăng uy tín và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm phụ
thuộc vào các yếu tố: Kĩ thuật, công nghệ, trình độ tay nghề lao động, nguyên vật
liệu, trình độ quản lý, tâm huyết của con người.
1.1.3.2. Giá:
Giá cả sản phẩm quyết định tới khả năng sinh lời và thị phần của doanh
nghiệp khai khoáng. Cạnh tranh bằng giá thường thể hiện thông qua: Kinh doanh
với mức chi phí thấp, bán với mức giá hạ. Muốn kinh doanh với chi phí thấp, doanh
nghiệp phải có những biện pháp hữu hiệu trong việc giảm chi phí đầu vào, tăng khả
năng sinh lời của vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu đầu vào.
Cách khác là bán với mức giá hạ, đây là phương thức cuối cùng mà doanh nghiệp sẽ
thực hiện trong cạnh tranh bởi giá hạ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh
nghiệp, khi thu nhập của đại đa số người dân tăng lên thì việc sử dụng mức giá
giảm chưa phải là biện pháp hữu hiệu, đôi khi còn bị đánh đồng giá rẻ đồng nghĩa
với chất lượng kém. Vì vậy khi sử dụng biện pháp này cần kết hợp linh hoạt với chu
kì sống của sản phẩm.
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
1.1.3.3. Cạnh tranh về phân phối và bán hàng:
Thể hiện qua các nội dung chủ yếu như: Đa dạng hóa kênh phân phối và
chọn được kênh chủ lực, hệ thống bán hàng phong phú, dịch vụ bán hàng và hậu
mãi hợp lý; kết hợp hợp lý giữa phương thức bán với phương thức thanh toán.
Mạng lưới chi nhánh và kho là công cụ cạnh tranh về kênh phân phối của
doanh nghiệp. Mạng lưới chi nhánh cho phép doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc
tiếp cận với khách hàng, mở rộng khách hàng và giảm bớt chi phí vận chuyển lưu
kho. Việc xem xét mở rộng hay thu hẹp mạng lưới chi nhánh, kho bãi, cửa hàng tùy
thuộc vào chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở nghiên cứu về cầu thị
trường và triển vọng phát triển tại khu vực.
Bên cạnh đó, để bán hàng có hiệu quả, doanh nghiệp cần phát triển quảng
lĩnh vực hoạt động và đầu tư được công nghệ tiên tiến góp phần nâng cao chất
lượng sản phẩm. Khi một công ty tham gia vào một thị trường nào đó với quy mô
nhỏ thì phải chấp nhận bất lợi về khả năng tài chính, do vậy rất khó có thể cạnh
tranh với các đối thủ khác.
Một số chỉ tiêu năng lực tài chính:
- Lượng vốn điều lệ
- Lượng vốn chủ sở hữu
- Tổng tài sản ngắn hạn, dài hạn
- Tổng thuế phí nộp ngân sách nhà nước
- Tổng sản lượng
- Tổng doanh thu,…
1.1.4.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Cơ sở vật chất kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của
công ty. Một công ty có trang thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại có thể đảm bảo
đáp ứng yêu cầu tốt nhất cho khách hàng và bên cạnh đó nâng cao năng suất sản
xuất thành phẩm do đó nâng cao khả năng cạnh tranh với các công ty đối thủ.
Một số chỉ tiêu đánh giá cơ sở vật chất kỹ thuật:
- Nguồn gốc công nghệ, thiết bị
- Năng suất máy
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
- Mức khấu hao máy,…
- Ngoài ra, còn có một số chỉ tiêu về tổ chức quản lý sản xuất liên quan
đến vận hành máy móc thiết bị như: Trình độ vận hành, trình độ tổ chức chuyên
môn hóa,…
1.1.4.4. Nguồn nhân lực:
Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển, con người cũng
chính là chủ thể của mọi quá trình lao động sản xuất. Vì thế mà con người chính là
nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty. Một công
Hoạt động đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của một doanh
nghiệp. Đối với doanh nghiệp sản xuất thì những khoản đầu tư này thể hiện:
- Đầu tư vào tài sản cố định, mua sắm máy móc, thiết bị hiện đại.
- Đầu tư cho đào tạo, tuyển dụng nhân viên có trình độ.
- Đầu tư cho hoạt động marketing, phát triển thương hiệu.
- Đầu tư cho công tác quản lý.
Doanh nghiệp có hoạt động đầu tư hợp lý sẽ làm tăng năng lực của doanh
nghiệp, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Đồng
thời năng lực cạnh tranh cũng có tác động trở lại hoạt động đầu tư. Khi sức cạnh
tranh của doanh nghiệp tăng lên, thị phần tăng kéo theo doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp tăng, như vậy doanh nghiệp sẽ có nhiều tiền hơn để tái đầu tư.
Có thể nói đầu tư và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ
qua lại mật thiết với nhau. Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp cần có chiến lược đầu tư
hợp lý để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các đối thủ cạnh tranh. Như
vậy, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh là một bộ phận của đầu tư phát triển.
1.2.2. Mối quan hệ giữa đầu tư với việc nâng cao năng lực cạnh tranh:
Như phân tích ở trên cho thấy đầu tư và năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
1.2.2.1. Đầu tư có tác động quyết định làm biến đổi năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp:
Trên cơ sở nguồn vốn đầu tư vào một số lĩnh vực còn yếu kém sẽ giúp doanh
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
nghiệp khắc phục được các khuyết điểm, đồng thời quá trình đầu tư sẽ tạo ra những
năng lực cạnh tranh mới còn đang ở dạng tiềm ẩn.
Sự đầu tư vốn có trọng tâm, trọng điểm dựa trên năng lực thực tế và thế
mạnh sẵn có sẽ giúp doanh nghiệp có phương hướng đầu tư đúng đắn, cắt giảm
gánh nặng về chi phí của việc đầu tư dàn trải trên tất cả các lĩnh vực hoạt động. Từ
đó, doanh nghiệp phát huy được những lợi thế trong cạnh tranh.
1.3.1. Nhóm nhân tố chủ quan:
- Khả năng tài chính và tình hình huy động vốn là một trong những nhân tố
then chốt quyết định khối lượng đầu tư. Khả năng tài chính mạnh sẽ giúp doanh
nghiệp tăng cường hoạt động đầu tư hợp lý từ đó nâng cao sức cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường. Năng lực tài chính lớn, ổn định cho phép doanh
nghiệp đối phó với các rủi ro của môi trường tốt hơn, cũng như giúp doanh nghiệp
có khả năng tiếp cận với nguồn vốn vay tốt hơn các doanh nghiệp có năng lực tài
chính không ổn định.
- Năng lực kỹ thuật, máy móc thiết bị cũng như mức độ hiện đại của nó là yếu
tố quyết định đến chủng loại, chất lượng sản phẩm, chất lượng công trình, năng suất
lao động và hiệu quả đầu tư. Một công nghệ tiên tiến sẽ là một lợi thế cạnh tranh
lớn của doanh nghiệp, nó quyết định đến chi phí và chất lượng sản phẩm. Công
nghệ càng tiên tiến, hiện đại thì càng tạo ra sức cạnh tranh lớn. Ngày nay, do nhu
cầu của người tiêu dùng thay đổi rất nhanh, các tiến bộ khoa học công nghệ không
ngừng được cải tiến vì vậy nếu doanh nghiệp không có khả năng đổi mới công nghệ
thì không thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường dẫn tới sức cạnh tranh giảm,
thậm chí không thể tồn tại. Vì vậy, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh cũng bao
hàm đầu tư để nâng cao năng lực máy móc thiết bị.
- Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất. Con người
với khả năng sáng tạo vô tận là nguồn lực duy nhất có thể điều khiển mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh, mọi giai đoạn của hoạt động đầu tư. Nhân tố con người cũng
ảnh hưởng đến khả năng khai thác và vận hành các loại máy móc thiết bị phục vụ
cho sản xuất, do đó ảnh hưởng tới khâu sản xuất sản phẩm và ảnh hưởng đến uy tín
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hay có thể nói, nhân sự ảnh hưởng đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả đầu tư nói riêng. Đầu tư nâng cao
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
năng lực con người là một nội dung quan trọng trong đầu tư nâng cao năng lực cạnh
tranh. Chính vì thế, công ty cổ phần khai thác, chế biến khoáng sản Hải Dương rất
tế thì đó là cơ hội thuận lợi cho hoạt động đầu tư nhằm mở rộng quy mô sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Trái lại khi chính phủ thực hiện các chính sách kiềm
chế lạm phát và ổn định môi trường vĩ mô thì việc thu hẹp sản xuất kinh doanh là
cần thiết. Doanh nghiệp phải nắm bắt được các chính sách kinh tế vĩ mô của chính
phủ để xây dựng cho mình một kế hoạch phát triển phù hợp và bền vững.
- Khách hàng là yếu tố quan trọng có tác động rất lớn tới chiến lược đầu tư
nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vì khách hàng chính là nguồn thu
của doanh nghiệp. Khách hàng còn là nhân tố quyết định sự sống còn của doanh
nghiệp. Một trong những mục tiêu then chốt của doanh nghiệp trong quá trình phát
triển là mở rộng thị phần. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải
không ngừng nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu của khách hàng. Nhu cầu
thị hiếu của khách hàng là yếu tố cần tính đến trong quá trình hoạch định kinh
doanh và chiến lược đầu tư. Nếu xây dựng chiến lược đầu tư mà không xem xét đến
thị hiếu, nhu cầu của khách hàng, thị trường thì chiến lược đầu tư đó sẽ không hiệu
quả, rất có thể doanh nghiệp sẽ làm ăn thua lỗ.
- Các nhà cung cấp, nguồn cung: Hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với yếu
tố đầu vào cho quá trình sản xuất, kinh doanh. Đó là nguyên vật liệu, thiết bị, nhân
công, vốn. Các nhà cung cấp có thể gây áp lực cho doanh nghiệp như: ép giá, giao
hàng không đúng hạn, không đúng số lượng chủng loại, ảnh hưởng đến kế hoạch
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, mối quan hệ của công ty với các nhà
cung cấp cũng là yếu tố rất quan trọng. Nếu doanh nghiệp tạo dựng được lòng tin
với các nhà cung cấp, có mối quan hệ làm ăn tốt với họ thì có thể mua nợ được
hàng, giảm bớt gánh nặng tài chính trong ngắn hạn của công ty.
- Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp: Bên cạnh việc nghiên cứu thị trường
công ty cũng cần quan tâm đến yếu tố đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Yếu tố này
đòi hỏi công ty phải xem xét đến tình hình thực tế năng lực cạnh tranh của cả mình
và các đối thủ cạnh tranh, xác định thị phần và dự đoán tình hình kinh doanh trong
tương lai để chọn phương thức đầu tư hợp lý, tạo ra lợi thế riêng cho doanh nghiệp
mình so với doanh nghiệp khác, có như thế mới giành ưu thế về mình trong cuộc
cạnh tranh khốc liệt trên thị trường.
theo quyết định số 707/QĐ-UB của UBND tỉnh Hải Hưng cho đến ngay15/08/1997
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
theo quyết định 1973 của UBND tỉnh Hải Dương Mỏ đá vôi Thống Nhất được đổi
tên thành công ty khai thác, chế biến đá và khoáng sản Hải Dương.
Đến ngày 01/08/2003 để thích ứng với hoàn cảnh thực tế của nền kinh tế thị
trường, căn cứ Quyết định số 8682003/QĐ-UB ngày 02/04/2003 của UBND tỉnh
Hải Dương về việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, Công ty khai thác, chế
biến đá và khoáng sản Hải Dương chính thức chuyển sang cổ phần hoá và đổi tên
thành Công ty cổ phần khai thác, chế biến khoáng sản Hải Dương.
Những năm đầu thành lập Mỏ đá đã gặp rất nhiều khó khăn, lực lượng lao
động khá đông, trên 2 nghìn lao động nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, trang
thiêt bị lạc hậu, làm bằng thủ công là chính. Trong cơ chế hành chính bao cấp, hoạt
động sản xuất kinh doanh đều thực hiện theo kế hoạch Nhà nước. Tuy vậy với khí
thế thi đua lao động sản xuất theo tinh thần làm chủ tập thể, hàng năm Mỏ đá đều
vượt các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của hậu
phương lớn đối với tiền tuyến lớn, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng miền
Bắc XHCN và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Hiện nay công ty đã đầu tư, lắp đặt dây chuyền sản xuất mới, mua sắm
nhiều trang thiết bị phục vụ sản xuất, chú trọng nâng cao trình độ, năng lực cho đội
ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật đáp ứng nhu cầu chất lượng nhân lực ngày càng
cao.
Đến nay, trải qua 49 năm phấn đấu bền bỉ, không mệt mỏi, Công ty ngày một
trưởng thành, vững vàng trong cơ chế thị trường, được Đảng và Nhà nước tặng
thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (1973), 2 Huân chương Lao động hạng Nhì
(1977 và 1997) , Huân chương Lao động hạng Nhất (2003) và nhiều giải thưởng
cao quý khác do Nhà nước trao tặng. Công ty quyết tâm giữ vững vai trò nhiệm vụ
then chốt, là con chim đầu đàn trong ngành khai thác khoáng sản, không chỉ phấn
đấu cho mục tiêu lợi nhuận mà còn tạo công ăn việc làm cho người lao động và thúc
Công ty vì công nhân lao động chủ yếu là thủ công, sự biến đổi thời tiết (mưa, bão,
…) cũng ảnh hưởng tới năng suất lao động của công nhân.
Thị trường đầu ra cũng là vấn đề được Công ty quan tâm: Sức ép từ khách
hàng khi mà có ngày càng nhiều Công ty cũng như hộ cá thể hoạt động trong lĩnh
vực khai thác khoáng sản trong khu vực cung cấp sản phẩm cùng loại với giá cả hợp
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
lý. Khách hàng mua hàng trả chậm, quay vòng vốn kinh doanh chậm, ảnh hưởng tới
kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
2.1.3. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty:
Loại hình sản xuất của Công ty là khai thác mỏ lộ thiên, chế biến sản phẩm,
khai thác với trữ lượng lớn. Công ty tổ chức sản xuất trên phạm vi lớn về không
gian theo vị trí địa hình của từng mỏ đá vôi và điểm quặng, đất sét; ở mỗi mỏ đá tổ
chức thành một khai trường sản xuất, đội sản xuất.
2.1.3.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty :
Công ty cổ phần khai thác, chế biến khoáng sản Hải Dương có các phòng
ban chức năng và các phân xưởng sản xuất, giúp việc cho ban lãnh đạo công ty
trong việc quản lý điều hành mọi hoạt động.
Mỗi phòng ban phân xưởng khi thành lập đều được giao nhiệm vụ nhất định,
nhưng trong quá trình quản lý kinh doanh các chức năng nhiệm vụ được bổ sung
cho nhau và ngày càng hoàn thiện nhằm phát huy tối đa chức năng tham mưu cho
lãnh đạo trong công tác quản lý cũng như trong chuyên môn nghiệp vụ của các
phòng ban.
Công ty cổ phần khai thác, chế biến khoáng sản Hải Dương đã ban hành các
quy định về chức năng nhiệm vụ tổ chức bộ máy hoạt động và mối quan hệ của các
phòng ban, phân xưởng để phát huy tính chủ động linh hoạt sáng tạo trong công
việc, đảm bảo hiệu quả trong điều hành bộ máy quản lý của Công ty.
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
21
chính
Phòng tổ
chức lao
động
Phòng
kế hoạch
kỹ thuật
Phòng an
toàn
Phòng
kế toán
tài vụ
PGĐ phụ trách hành chính
tổ chức
PGĐ phụ trách kỹ thuật
Chủ tịch HĐQT
Ban Giám đốc
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
Là người chịu trách nhiệm trước Công ty về các kế hoạch, chiến lược kinh
doanh. Có trách nhiệm giám sát, điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty, chức năng định hướng là quan trọng nhất và thực hiện mọi nghĩa vụ với
nhà nước.
• Ban giám đốc
Làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc và phụ trách chung toàn
Công ty về các hoạt động sản xuất kinh doanh.
• Phòng kế toán tài vụ
Chịu trách nhiệm về quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh của Công ty, thực hiện đầy đủ các chế độ báo cáo tài chính và hạch toán kế
toán theo Luật của Nhà nước.
• Phòng kế hoạch kỹ thuật
Công ty, các đội sản xuất này sẽ hoạt động và cung cấp số liệu cho công ty.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty đã có nhiều thay đổi và
cải tiến bộ máy quản lý phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty và
phù hợp với yêu cầu khách quan của cơ chế sản xuất kinh doanh. Với sơ đồ quản lý
bộ máy hiện nay Công ty đã đảm bảo được tính gọn nhẹ tập trung, các phòng ban
được phân công nghiệp vụ rõ ràng, không chồng chéo đảm bảo được tính chủ động
trong sản xuất kinh doanh của Công ty.
2.1.3.2. Các chủng loại sản phẩm:
Từ việc khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có của tự nhiên, chế biến thành các
loại sản phẩm như sau:
- Đá 300 x 350mm
- Đá 40 x 60mm
- Đá 20 x 40mm
- Đá 10 x 20mm
- Đá 5 x 10mm
- Đá Base
- Mạt
Hoàng Thị Nhung Lớp: Đầu tư 49B
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
- Đá Subbase
Ngoài ra doanh nghiệp còn có sản phẩm là đất cộn và đá liệu sản xuất xi
măng.
Một số sản phẩm khác cũng do Công ty sản xuất và kinh doanh, bao gồm các
loại đất sét đỏ, sét trắng từ loại chất lượng tốt cho đến loại có chất lượng trung bình
tuỳ thuộc vào nhu cầu và mục đích, thị hiếu của khách hàng mà Công ty phục vụ.
2.1.3.3. Tình hình trang thiết bị kỹ thuật của Công ty :
Ngay từ năm đầu thành lập, Công ty đã rất quan tâm đến trang thiết bị kỹ
thuật, để đảm bảo an toàn sản xuất cho công nhân. Trang thiết bị sản xuất và công
nghệ sản xuất được kết hợp vừa thủ công vừa cơ giới, vừa thô sơ vừa hiện đại.