Nâng cao hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP công thương VN – chi nhánh Bắc Nghệ An - Pdf 25

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
LỜI CẢM ƠN
Đối với sinh viên kì thực tập là một điều kiện quan trọng để hoàn thành quá
trình học tập và tốt nghiệp, nhưng quan trọng hơn đây là cơ hội tốt để sinh viên
làm quen với thực tế sau khi đã được trang bị đầy đủ kiến thức trên giảng đường
đại học. Đây là thời điểm để sinh viên vận dụng các kiến thức đã được học vào
những công việc cụ thể, phù hợp với chuyên ngành đã được đào tạo.
Nhận thức được tầm quan trọng này, trong thời gian về thực tâp tại Ngân
hàng TMCP công thương chi nhánh Bắc Nghệ An, sinh viên đã tích cực tham gia
vào các công việc tại cơ quan, nghiêm cứu tìm hiểu số liệu, kết hợp với sự phân tích
tình hình thực tại ở địa phương. Đó là những cơ sở để sinh viên hoàn thành được
chuyên đề tốt nghiệp này.
Có được những kết quả mong đợi như trên là sự cố gắng nỗ lực của sinh
viên, bên cạnh là sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của tập thể cán bộ công nhân viên
của Ngân hàng TMCP công thương chi nhánh Bắc Nghệ An, sự chỉ đạo kịp thời
của giáo viên hướng dẫn về những việc sinh viên cần hoàn thành. Qua đây em xin
gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Ngân hàng TMCP công thương chi nhánh Bắc Nghệ An, đặc biệt là trưởng
phòng và toàn bộ nhân viên của phòng khách hàng đã tạo điều kiện để sinh viên
trực tiếp tham gia các công việc của phòng, cung cấp tài liệu và định hướng cho
sinh viên viết chuyên đề.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn là Tiến sỹ Lê Quang
Cảnh đã tận tình giúp đỡ để em hoàn thành chuyên đề này.
Sinh viên: Phạm Thị Kiều Hoài
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
MỤC LỤC
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT:
1. NHTM: Ngân hàng thương mại

đầu của mỗi ngân hàng. Đối với ngân hàng TMCP công thương VN nói chung và
chi nhánh Bắc Nghệ An nói riêng, hiện nay hoạt động tín dụng còn gặp nhiều khó
khăn, còn nhiều vấn đề phát sinh xung quanh chất lượng tín dụng. Do vậy, nâng cao
chất lượng tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu của đơn vị. Mặt khác, hiện nay
tại ngân hàng TMCP công thương chi nhánh Bắc Nghệ An việc nghiên cứu hoạt
động tín dụng vẫn chưa được thực hiện nên vấn đề nghiên cứu sẽ phản ánh thực
trạng công tác tín dụng ở hiện tại và góp phần thúc đẩy thêm quá trình nâng cao
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
chất lượng tín dụng trong thời gian tới.
Qua quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế quốc dân và thời gian thực tế
tại chi nhánh, xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên, tôi xin chọn đề tài: “Nâng
cao hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP công thương VN – chi nhánh Bắc
Nghệ An”
II. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Việc nghiên đề tài có ý nghĩa rất lớn đối với sinh viên, giúp sinh viêc có thể
gắn kết giữa cơ sở lý thuyết được đào tạo và cơ sở thực tiễn ở địa điểm thực tập, đó
là những nghiên cứu ban đầu của sinh viên về các vấn đề kinh tế.
Đề tài nghiên cứu góp phần hoàn thiện cơ sở lý luân thực tiễn về tình hình
kinh tế địa phương với hoạt động tín dụng của chi nhánh.
Phân tích thực trạng và từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP công thương chi nhánh Bắc Nghệ An:
- Làm rõ cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng thương
mại
- Phân tích chất lượng tín dụng cho vay tại Ngân hàng TMCP công thương chi
nhánh Bắc Nghệ An
- Phân tích những thành tựu và tồn tại trong việc nâng cao chất lượng tín dụng
taị chi nhánh
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÍN
DỤNG NGÂN HÀNG
1.1 Lý luận về ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm cùng
với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển
mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì ngân hàng thương mại
cũng ngày một hoàn thiện và trở thành định chế tài chính không thể thiếu được.
Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho
những những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho
người cầm giữ hộ một khoản tiền công. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển,
nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng sẽ là nơi giữ tiền cho những người có
tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền. Ngân hàng là một định chế tài chính
trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá
nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng tất cả các chủ tiền gửi đến đòi
nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo hoạt động cho ngân hàng.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của
ngân hàng, đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối
giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm sang nơi khan hiếm.
Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc
biệt, đó là “vốn – tiền”, trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và
phần chênh lệch lãi suất đó và nguồn thu từ một số hoạt động khác như đầu tư, bảo
lãnh, thanh toán…là phần lợi nhuận của ngân hàng thương mại. Hoạt động của ngân
hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân cư, loại
hình doanh nghiệp và các tổ chức trong xã hội.
Trong ngân hàng thương mại, tiền huy động được từ người gửi gọi là tài sản
“nợ”, tiền cho công ty và các cá nhân vay cũng như tiền gửi ở các ngân hàng khác,

nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
tối đa nhu cầu của khách hàng.
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại thực sự có
một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của
nền kinh tế được lưu thông và vậy mới góp phần bôi trơn hoạt động cho nền kinh tế
thị trường còn non yếu.
1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế hiện nay
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được coi là chức năng quan trọng nhất của ngân
hàng thương mại. Ngân hàng là chiếc cầu nối trung gian giữa những chủ thể có tiền
nhưng chưa đem sử dụng và những chủ thể có nhu cầu tiền tệ thông qua việc đứng
ra tập trung những tiền tệ chưa sử dụng của các chủ thể trong nền kinh tế, trên cơ sở
đó cung cấp vốn cho những chủ thể có nhu cầu cần bổ sung tạm thời. Nói một cách
khái quát hơn, ngân hàng vừa là người đi vay và cũng đồng thời là người cho vay,
có nghĩa là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng là đi vay để cho vay.
1.1.2.1 Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng
thương mại. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự
tồn tại và phát triển của mình, ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh đặc
thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức
năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng
tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân
hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách
hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản
tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch.
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong

 Đồng tài trợ và cho vay hợp vốn đối với những dự án lớn, thời gian hoàn
vốn dài
 Cho vay tài trợ, uỷ thác theo chương trình và các hiệp định tín dụng
khung
 Thấu chi, cho vay tiêu dùng.
 Hùn vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức tín dụng và các định chế tài
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
chính trong nước và quốc tế
 Đầu tư trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế
1.1.3.3 Bảo lãnh
 Bảo lãnh, tái bảo lãnh (trong nước và quốc tế): Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh
thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán
1.1.3.4 Thanh toán và tài trợ thương mại
 Phát hành, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu; thông báo, xác nhận, thanh
toán thư tín dụng nhập khẩu.
 Nhờ thu xuất, nhập khẩu (Collection); Nhờ thu hối phiếu trả ngay (D/P)
và nhờ thu chấp nhận hối phiếu (D/A).
 Chuyển tiền trong nước và quốc tế
 Thanh toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc.
 Chi trả lương cho doanh nghiệp qua tài khoản, qua ATM
 Chi trả Kiều hối…
1.1.3.5 Ngân quỹ
 Mua, bán ngoại tệ
 Mua, bán các chứng từ có giá (trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc,
thương phiếu…)
 Thu, chi hộ tiền mặt VNĐ và ngoại tệ
 Cho thuê két sắt; cất giữ bảo quản vàng, bạc, đá quý, giấy tờ có giá, bằng
phát minh sáng chế

kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này, ngân hàng đã thực hiện chức năng phân
phối lại vốn, tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội.
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp
ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời.
Có ba loại quan hệ chủ yếu trong quan hệ tín dụng, bao gồm:
- Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp
- Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với dân cư
- Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các ngân hàng khác trong và ngoài
nước.
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
- Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin và phải có tài sản đảm
bảo khoản vay. Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín
dụng, là điều kiện cho quan hệ tín dụng phát sinh. Nó được thể hiện ở phía người
cho vay với người đi vay. Bên cạnh đó, khi một khách hàng đề nghị vay vốn tại
ngân hàng, cán bộ tín dụng sẽ phải tìm hiểu rõ thông tin khách hàng và nhu cầu vay
vốn của khách hàng. Để có cơ sở bảo đảm an toàn khoản vay, ngân hàng sẽ yêu cầu
khách hàng phải có tài sản đảm bảo có giá trị tương đương với khoản vay. Các tài
sản đảm bảo là một tiêu chuẩn quan trọng để ngân hàng quyết định là chấp thuận
cho vay vốn hay không, nhằm phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi của môi
trường kinh doanh. Những tài sản có thể đem thế chấp như: quyền sử dung đất và
tài sản trên đất, phương tiện vận tải, tài sản cố định của doanh nghiệp, thẻ tiết kiệm
và lòng tin của ngân hàng đối với khách hàng lâu năm Gía trị đảm bảo là cơ sở cho
khả năng trả nợ của khách hàng, cơ sở để hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng, và
là điều kiện để thực hiện nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi của khách hàng vay vốn.
- Tín dụng là quan hệ vay mượn có thời hạn và có thỏa thuận trước: mỗi khoản
tín dụng cho vay đều phải có thời hạn vay cụ thể, có thể là vay ngắn hạn, trung hạn,
dài hạn điều này phụ thuộc vào thời hạn vay và tính chất khoản vay. Tín dụng cho

 Tín dụng dài hạn: Thời hạn tín dụng từ trên 5 năm, tối đa có thể lên đến 20,
30 thậm chí 40 năm. Loại tín dụng này dùng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn
như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các
xí nghiệp mới.
1.2.2.2 Phân theo mục đích sử dụng vốn
 Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại, dịch vụ.
 Cho vay công nghiệp, thương mại, dịch vụ: là loại vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại và dịch vụ
 Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu…
 Cho các định chế tài chính khác vay: bao gồm cho vay ngân hàng thương
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
mại, quỹ tín dụng, công ty tài chính và các tổ chức định chế khác.
 Cho vay cá nhân
 Cho thuê
1.2.2.3 Phân theo đối tượng đầu tư
 Tín dụng vốn cố định: là khoản cho vay hình thành vốn cố định
 Tín dụng vốn lưu động: là các khoản cho vay hình thành vốn lưu động
1.2.2.4 Phân theo hình thức đảm bảo
 Cho vay có tài sản đảm bảo: là loại cho vay có tài sản thế chấp, cầm cố,
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
 Cho vay không có tài sản đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của
khách hàng
1.2.2.5 Phân theo phương thức cho vay

1.2.3.1 Đối với nền kinh tế
 Thứ nhất, tín dụng ngân hàng huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa
sử dụng trong tất cả các thành phần kinh tế để cho các doanh nghiệp, cá nhân vay,
góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Sự có
mặt của tín dụng ngân hàng được coi như một công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa
người thừa vốn và người thiếu vốn. Lợi tức đi vay và cho vay của ngân hàng luôn là
công cụ điều chỉnh các quan hệ cung cầu vốn tín dụng. Nhờ có ngân hàng mà vốn
tiền tệ ngân hàng được vận động một cách liên tục, điều đó vừa làm tăng khả năng
tích lũy tư bản (bao gồm cả lợi nhuận) của các ngân hàng, vừa thúc đẩy quá trình
tăng trưởng kinh tế nhờ vào nguồn thu từ việc cấp tín dụng ngân hàng.
 Thứ hai, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém
phát triển với các ngành kinh tế mũi nhọn. Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ.
Ngân hàng cung cấp cho các ngành thực hiện đầu tư theo cả chiều rộng lẫn chiều
sâu, hình thành các ngành sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và
khai thác triệt để các nguồn lực, điều này thể hiện qua việc cấp tín dụng cho các dự
án có hiệu quả, chương trình phát triển để khuyến khích đẩy nhanh tốc độ chuyển
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
dịch cơ cấy nền kinh tế.
 Thứ ba, tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến sản xuất, thúc đẩy
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
hóa dịch vụ, doanh nghiệp cần vốn đầu tư máy móc thiết bị và luôn phải đổi mới
công nghệ…tín dụng ngân hàng đáp ứng đước nhu cầu đó với điều kiện phải hoàn
trả cả vốn lẫn lãi; nếu vi phạm hợp đồng tín dụng, doanh nghiệp phải chịu phạt như
lãi suất nợ quá hạn cao, mất quyền sử hữu, sử dụng tài sản thế chấp…Do vậy,
doanh nghiệp luôn phải nâng cao hiệu quả sản xuất, cạnh tranh trên thị trường để
kinh doanh có lãi, thu hồi vốn đầu tư trả cho ngân hàng
 Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần tích cực vào sự phát triển của các công

chiếm 70% tổng tài sản có và tỷ trọng huy động tiền gửi thường chiếm trên
60% tổng tài sản nợ của các ngân hàng thương mại. Lợi nhuận thu được từ
hoạt động tín dụng thường chiếm tỉ lệ cao, ở các nước phát triển khoảng trên
60% lợi nhuận của ngân hàng, ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 90% lợi
nhuận của ngân hàng. Điều này thể hiện rõ hoạt động tín dụng là hoạt động
đi vay để cho vay và là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương
mại.
 Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày
càng được phát triển một cách đa dạng với sự tham gia của nhiều chủ thể
kinh tế, theo đó hoạt động tín dụng cũng được mở rộng cả về đối tượng và
quy mô làm cho chất lượng tín dụng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn. Để
ngân hàng có thể đứng vững trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh
tế thị trường và phục vụ nền kinh tế ngày một tốt hơn, đòi hỏi các ngân hàng
phải đa dạng háo các hoạt động kinh doanh của mình và nâng cao chất lượng
tín dụng ngân hàng.
1.2.3.3 Đối với khách hàng
 Dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn khi có nhu cầu, thủ tục nhanh gọn, đáp ứng
nhiều nhu cầu như: kinh doanh, tiêu dùng, đầu tư bất động sản Một doanh
nghiệp khi mới thành lập luôn có vốn tự có của mình, nhưng số vốn tự có ấy
sẽ không thể đáp ứng đủ nhu cầu vốn đề xây dựng cơ sở hạ tầng, thuê lao
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
động, thu mua nguyên liệu hay dây chuyền sản xuất và tất nhiên, doanh
nghiệp ấy sẽ cần đến sự hỗ trợ vốn của ngân hàng. Không chỉ đối với doanh
nghiệp mới thành lập, đối với các doanh nghiệp lâu năm, việc mở rộng thị
trường hay mở rộng sản xuất đều cần đến một khối lượng vốn nhất định,
nguồn vốn vay ngân hàng sẽ là một phương án được ưu tiên hàng đầu cho
lãnh đạo doanh nghiệp. Nguồn vốn ngân hàng phục vụ cho mọi nhu cầu của
các doanh nghiệp hay tư nhân, những chủ thể có đủ điều kiện để vay vốn.

Khoản tín dụng có chất lượng tốt phải hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh, tiêu
dùng hợp pháp, góp phần phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá, giải quyết công ăn
việc làm, xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, khai thác khả năng tiềm tàng
trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất, giải
quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế. Tín dụng
ngân hàng phải huy động tối đa mức vốn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế để cung
ứng cho các doanh nghiệp, cá nhân vay vốn phát triển.
Chất lượng tín dụng là một khái niệm tương đối, tùy thuộc vào mỗi chủ thể
kinh tế. Trong đề tài nghiên cứu này, chất lượng tín dụng được nghiên cứu trên góc
độ ngân hàng.
Hơn nữa chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh sự thích
nghi của ngân hàng đối với sự thay đổi môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh
của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại, là sản phẩm của một quy trình
kết hợp giữa đội ngũ cán bộ trong ngân hàng với nhau, giữa ngân hàng với khách
hàng vì một mục đích chung. Do vậy, việc đánh giá đúng chất lượng tín dụng là cực
kỳ quan trọng, và từ những thực trạng đó đưa ra được những giải pháp kịp thời và
đúng đắn để nâng cao chất lượng tín dụng.
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
1.2.5.1 Môi trường kinh tế và các yếu tố đầu vào
Khi nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng phát
triển. nền kinh tê ổn định, lạm phát thấp không có khủng hoảng, hoạt động sản xuất
kinh doanh tiến hành tốt, sản xuất có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao, doanh
nghiệp có thể hoàn trả vốn vay ngân hàng cả vốn và lãi, nên hoạt động tín dụng
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
ngân hàng càng phát triển, chất lượng tín dụng được nâng cao. Ngược lại, trong thời
kỳ nền kinh tế bị suy thoái, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm
sút, lạm phát cao, nhu cầu tín dụng giảm, vốn tín dụng đã sử dụng cũng khó sử dụng
có hiệu quả hoặc trả nợ đúng thời hạn cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng cũng sẽ bị

động tín dụng. những qui định của pháp luật về hoạt động tín dụng phải phù hợp với
sự phát triển của nền kinh tế xã hội, trên cơ sở kích thích hoạt động tín dụng có hiệu
quả hơn.
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ, gây khó khăn cho ngân
hàng khi kí kết hợp đồng tín dụng. Luật ngân hàng còn nhiều sơ hở, chưa đồng bộ
với nhiều văn bản luật khác. Điều này ảnh hưởng đến quản lí chất lượng tín dụng
ngân hàng
Sự thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến khả
năng trả nợ của các doanh nghiệp. Cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu, vì
thay đổi đột ngột, gây xáo trộn trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không tiêu
thụ được sản phẩm, hay chưa có phương án sản xuất kinh doanh mới dẫn đến nợ
quá hạn, khó đòi, chất lượng tín dụng giảm sút.
1.2.5.3 Ngân hàng
Đây là những nhân tố thuộc về bản thân, nội tại ngân hàng liên quan đến sự
phát triển của ngân hàng trên tất cả các mặt ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng,
gồm: chính sách, công tác tổ chức, trình độ lao động, quy trình nghiệp vụ, kiểm tra,
kiểm soát trang thiết bị
- Chính sách tín dụng: Là chủ trương, đường lối đảm bảo cho hoạt động tín
dụng đi đúng quĩ đạo liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, định hướng
tín dụng theo ngành nghề…Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một ngân
hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo
khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng. bất cứ một ngân hàng nào muốn có chất
lượng tín dụng cao đều phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện của ngân
hàng và thị trường.
- Công tác tổ chức của ngân hàng: Ngân hàng có một cơ cấu tổ chức khoa học
sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa cán bộ, nhân viên, các
phòng ban trong ngân hàng, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn bộ hệ thống
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh

23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Lê Quang Cảnh
quyết định cho vay hay không cho vay và theo dõi các khoản vay, quản lý các
khoản vay với mục đích đảm bảo an toàn và hiệu quả đối với các khoản vay. Thông
tin tín dụng có thể thu được từ nhiều nguồn: hồ sơ vay vốn, thông tin giữa các tổ
chức tín dụng, thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, thông tin càng đầy đủ,
chính xác và kịp thời thì khả năng ngăn ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng tín dụng
càng cao
- Kiểm soát nội bộ: Thông tin kiểm soát giúp lãnh đạo ngân hàng nắm được
tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra, những thuận lợi, khó khăn việc chấp
hành những quy định pháp luật, nội dung, quy chế, chính sách kinh doanh, thủ tục
tín dụng từ đó giúp lãnh đạo ngân hàng có đường lối, chủ trương, chính sách nhằm
giải quyết khó khăn, vướng mắc, phát huy những nhân tố thuận lợi, nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định,
thể lệ, chính sách và mức độ kịp thời phát hiện những sai sót cũng như những
nguyên nhân dẫn đến những sai sót ấy trong quá trình thực hiện hoạt động tín dụng.
- Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng: Trang thiết bị tuy không phải
yếu tố cơ bản nhưng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng tín dụng
của ngân hàng. Nó là công cụ, phương tiện thực hiện tổ chức, quản lý ngân hàng
kiểm soát nội bộ, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay, thực hiện các giao dịch với
khách hàng. Đặc biệt, với sự phát triển như vũ bão về công nghệ thông tin như hiện
nay, các trang thiết bị tin học đã giúp ngân hàng có được thông tin và xử lý thông
tin nhanh chóng kịp thời, chính xác, trên cơ sở đó có quyết định tín dụng đúng đắn,
không bỏ lỡ thời cơ kinh doanh, giúp cho quá trình quản lý tiền vay và thanh toán
được thuận tiện, nhanh chóng và chính xác.
1.2.5.4 Khách hàng
Để đảm bảo khoản tín dụng sử dụng có hiệu quả, mang lại lợi ích cho ngân
hàng, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế - xã hội thì khách hàng có vai trò hết sức
quan trọng. Một khách hàng có tư chất đạo đức tốt, có tình hình tài chính vững
vàng, có thu nhập sẽ hoàn trả đầy đủ những khoản vay và lãi cho ngân hàng khi đến

sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
- Tư cách đạo đức người đi vay: tư cách đạo đức xét trên phương diện ý thức
hoàn trả vốn vay, trong nhiều trường hợp người đi vay có ý định chiếm đoạt vốn,
SVTH: Phạm Thị Kiều Hoài – Kế Hoạch 49B
25

Trích đoạn Nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng,tài sản đảm bảo Kiểm soát chặt chẽ quá trình giải ngân, tăng cường công tác quản lý tín dụng Thực hiện tốt công tác thu hồi nợ xấu. Tích cực nâng cao chất lượng trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tín dụng Mở rộng các chiến dịch marketing, chăm sóc khách hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status