Lời mở đầu
Công cuộc đổi mới toàn diện ở nớc ta diễn ra dới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng Sản Việt Nam đã đợc hơn mời năm, bớc đầu đem lại những thành tựu đáng
kể nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Nền kinh tế nớc ta đã có những bớc tăng trởng
cao, lạm phát đợc khống chế, sản xuất kinh doanh đợc mở rộng, thu nhập dân c
đợc nâng cao và bớc đầu có tích luỹ. Ngành ngân hàng đã có những đóng góp to
lớn vào thành tựu đó.
Hiện nay trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá chung của cả nớc
không thể không kể đến vai trò to lớn của các doanh nghiệp nhà nớc (DNNN).
Nghị quyết của Đảng ta đã khẳng định DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, là nòng cốt giúp Nhà nớc điều tiêts và hớng dẫn
nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN. Tốc độ tăng trởng kinh tế của
DNNN sẽ ảnh hởng trực tiếp và mạnh mẽ đối với sự tăng trởng kinh tế của đất n-
ớc. Tuy vậy, số vốn tự có của các DNNN không đáp ứng đợc nhu cầu của sản
xuất kinh doanh nên các DNNN phải sử dụng voón vay ngân hàng. Vốn vay ngân
hàng không những giúp các DNNN mở rộng đợc sản xuất kinh doanh mà còn
đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thơng mại. Song hiện nay, hiệu
quả sử dụng vốn vay ngân hàng đối với thành phần kinh tế này cha cao. Vì vậy
nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với các các DNNN là một vấn đề bức
xúc cần giải quyết và cũng chính là mối quan tâm hàng đầu của các DNNN, các
ngân hàng thơng mại nói chung và của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn Hà Nội (NHNo&PTNT HN) nói riêng. Việc nghiên cứu thực trạng
nhắm tìm ra nguyên nhân và cách tháo gỡ là hết sức cần thiết. Chính vì vậy, sau
một thời gian thực tập tại NHNo&PTNT HN với mong muốn áp dụng kiến thức
nghiên cứu khoa học vào thực tiễn góp phần giải quyết vấn đề nêu trên, tôi đi sâu
nghiên cứu đề tài:
Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với doanh
nghiệp Nhà nớc tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Hà
Nội
1
ngân hàng thơng mại đã ra đời trên cơ sở đó với 3 nghiệp vụ chính là: nhận tiền
gửi, cho vay và làm trung gian thanh toán.
Tín dụng ngân hàng chính là quan hệ vay mợn giữa ngân hàng và các tổ
chức kinh tế cũng nh các cá nhân khác theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Thông qua quan hệ tín dụng, ngân hàng có khả năng chuyển các nguồn
vốn từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi sử dụng có hiệu quả hơn trên giác độ
toàn bộ nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng ngày càng đợc mở rộng và phát triển
một cách đa dạng nhằm thoả mãn mọi nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế do đó
nhu cầu vốn của nền kinh tế đợc đáp ứng một cách linh hoạt, kịp thời và đầy đủ
nhất. Đây là điều kiện không thể thiếu để phát triển một nền kinh tế năng động.
1.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng
Các khoản cho vay đợc chia ra theo nhiều hình thức tín dụng khác nhau
căn cứ vào các tiêu thức khác nhau nh: thời hạn tín dụng, đối tợng tín dụng, mục
đích tín dụng, phơng pháp hoàn trả, hình thức đảm bảo... Sau đây ta sẽ xem xét
một số hình thức tín dụng chủ yếu:
1.2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Các khoản cho vay của ngân hàng có thể chia làm 3 loại sau:
3
Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn tối đa là 12 tháng, dùng để cho vay bổ
sung thiếu hụt tạm thời vốn lu động của các nhà sản xuất kinh doanh.
Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng. Tín dụng
này đợc cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, mở rộng và xây
dựng các công trình có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 60 tháng nhng không quá thời hạn
hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với
pháp nhân. Tín dụng dài hạn dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu t xây
dựng xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản
xuất có quy mô lớn ...
1.2.2 Căn cứ vào đối tợng tín dụng
nhà nhập khẩu hàng hoá phục vụ cho lợi ích của mình. Các ngân hàng thờng cấp
tín dụng cho nhà nhập khẩu dới hình thức: mở th tín dụng, chấp nhận hối phiếu,
kỳ phiếu của ngời nhập khẩu.
1.2.4 Căn cứ theo sự đảm bảo: tín dụng đợc chia làm 2 loại cho vay có đảm bảo
và không có đảm bảo.
Cho vay có đảm bảo: là việc cho vay thế chấp. Vật thế chấp những
khoản nợ có đảm bảo có thể bao gồm nhiều loại tích sản nh bất động sản, biên
nhận ký gửi hàng hoá, các khoản phải thu, nhà máy và trang thiết bị các biên
nhận tín thác, các vận đơn có thể chuyển hoán đợc các cổ phiếu công ty và các
trái khoán. Yêu cầu cơ bản của các tích sản này là có thể bán đợc. Khoản cho vay
phải đợc bảo đảm nhằm tạo điều kiện để ngời cho vay giảm bớt rủi ro mất vốn
trong trờng hợp ngời vay không muốn hoặc không thể trả nợ vay khi đáo hạn.
Cho vay không đảm bảo: là khoản cho vay đợc dựa cơ sở lòng tin giữa
ngân hàng với khách hàng. Những khách hàng đợc nhận khoản vay này thờng là
các doanh nghiệp quản lý có hiệu quả, sản phẩm và dịch vụ của họ đợc thị trờng
sẵn sàng chấp nhận, có lợi nhuận tơng đối ổn định và với một tình hình tài chính
vững mạnh. Tuy nhiên các doanh nghiệp không phải là những đơn vị duy nhất đ-
ợc vay trên cơ sở không cần đảm bảo, nhiều cá nhân cũng đợc hởng đặc quyền
này. Những ngời có nhà riêng, công ăn việc làm ổn định, trả nợ sòng phẳng thể
hiện trên sổ sách theo dõi thờng đợc vay trên cơ sở đảm bảo
Tại Việt Nam hình thức cho vay không cần đảm bảo đã bắt đầu đợc áp
dụng và phát triển theo xu hớng khả quan nhng những khách hàng cá nhân cha đ-
ợc ngân hàng chấp nhận cho vay theo hình thức này.
5
1.2.5 Căn cứ theo phơng pháp hoàn trả
Các khoản cho vay của ngân hàng có thể đợc hoàn trả một lần hoặc trả
góp.
Cho vay trả một lần: là khoản cho vay hoàn trả toàn bộ một lần vào thời
gian đáo hạn cuối cùng.
Trong nền kinh tế thị trờng, hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh
chủ yếu của ngân hàng thơng mại. Điều đó buộc các ngân hàng thơng mại càng
phải thực hiện đúng nguyên tắc đi vay để cho vay. Thông qua chức năng phân
phối lại vốn theo nguyên tắc có hoàn trả của tín dụng, các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi đợc đa vào luân chuyển và sử dụng hợp lý trong quá trình sản xuất, các
nguồn lực của nền kinh tế đợc đa vào vận động và di chuyển đến những nơi mà
chúng có thể sử dụng hiệu quả hơn. Khi khối lợng sản xuất tăng lên, nhu cầu về
vốn theo đó cũng tăng lên và nhu cầu đó đợc thoả mãn một phần qua các hình
thức tín dụng.
2.3 Tín dụng Ngân hàng là một công cụ để Nhà nớc tiến hành điều hoà, lu
thông tiền tệ và từ đó điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Ngân hàng bằng các nghiệp vụ của mình có thể huy động vốn hoặc cung
cấp vốn cho nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển kinh tế nên có thể điều hoà l-
ợng tiền tệ trong lu thông góp phần thực hiện chính sách tài chính quốc gia. Hơn
nữa ngân hàng với các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt cũng góp phần
ổn định lu thông tiền tệ. Nhà nớc cũng sử dụng chính sách tín dụng nh một đòn
bảy kinh tế quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển thực hiện kiểm soát và phân
công kinh tế, điều chỉnh sự phát triển và cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế quôc dân.
2.4 Tín dụng có tác dụng quan trọng trong việc tổ chức quản lý, sử dụng vốn
một cách có hiệu quả nhất.
Nhờ kênh tín dụng ngân hàng mà nhu cầu vốn khả năng tự có của chủ đầu
t đợc đáp ứng kịp thời. Do tín dụng là quan hệ vay mợn có lợi tức trả thêm nên nó
đòi hỏi ngời sử dụng vốn phải hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao nhất có thể.
Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp buộc phải chú ý đến việc tích
cực giảm chi phí sản suất, tăng năng suất lao động, tăng nhanh vòng quay vốn ...
để có doanh lợi cao, sau khi hoàn trả cho ngân hàng vốn đã vay cùng lãi vay vẫn
còn lợi nhuận của doanh nghiệp.
7
2.5 Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lu kinh
8
Tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất và lu thông hàng hoá góp phần giải
quyết việc làm, khai thác đợc khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá
trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt các quan hệ giữa tăng trởng tín
dụng và tăng trởng kinh tế. Do đó hiệu quả tín dụng ngân hàng đợc thể hiện
thông qua việc đầu t vốn đúng hớng, thúc đẩy đơn vị vay vốn làm ăn có lãi và
thực hiện đúng chính sách của Đảng và Nhà nớc góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
2. Các chỉ tiêu đo lờng hiệu quả tín dụng
2.1. Các chỉ tiêu địng lợng
2.1.1 Các chỉ tiêu về qui mô cho vay
Lợng d nợ tích luỹ tính đến thời điểm hết kỳ và cơ cấu d nợ: ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh quy mô và cơ cấu cho vay của ngân hàng. Thông
qua chỉ tiêu này ngân hàng có thể đánh giá mức độ phù hợp giữa cơ cấu nguồn
vốn huy động và cơ cấu cho vay của ngân hàng theo từng thời kỳ, qua đó có
những điều chỉnh hợp lý theo các mục tiêu đã định.
Tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy động
Tỷ lệ cho vay =
D nợ tích luỹ hết kỳ
Vốn huy động tích luỹ đến hết kỳ
Tỷ lệ này đánh giá khả năng tận dụng nguồn vốn của ngân hàng trong hoạt
động tín dụng. Tỉ lệ cho vay càng cao thì lợng vốn đợc đa vào sử dụng càng lớn.
Ngợc lại, nếu tỉ lệ cho vay thấp có nghĩa là ngân hàng bị ứ đọng vốn hoặc cha tận
dụng hết nguồn vốn trong hoatj động tín dụng tại ngân hàng mình.
Giá trị gia tăng đợc tạo ra từ việc sử dụng tín dụng của Ngân hàng trên
một đồng vốn đầu t. Tỷ lệ tạo ra giá trị gia tăng của đồng vốn cho vay đợc xác
định nh sau:
Tỷ lệ tạo giá trị gia tăng =
theo khả năng thu hồi cũng đợc xem xét:
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi
Nợ quá hạn khó đòi
Nợ quá hạn theo thời gian càng dài thì khả năng thu hồi khoản nợ của
ngân hàng càng thấp, nguy cơ mất vốn của ngân hàng đợc coi nh càng có thể xảy
10
ra. Vì vậy, ngân hàng phải luôn tìm cách giảm nợ quá hạn tới mức tối thiểu và
thu hồi các khoản nợ này càng sớm càng tốt.
Tỷ lệ thu hồi nợ quá hạn trong kỳ: tỷ lệ này cho ta biết mức độ quản lý
nội bộ của ngân hàng đối với nợ quá hạn. Nếu tỷ lệ thu hồi nợ quá hạn là nhỏ thì
thực tế ngân hàng có thể đang đứng trớc rủi ro mất một lợng lớn nguồn vốn cho
vay. Tỷ lệ này đợc xác định nh sau:
Tỷ lệ thu hồi nợ quá hạn =
Doanh số thu nợ quá hạn trong kỳ
D nợ quá hạn đầu kỳ+ DS chuyển nợ quá hạn trong kỳ
2.1.3 Chỉ tiêu về doanh lợi
Tổng doanh thu của ngân hàng từ hoạt động tín dụng
Cơ cấu thu nhập từ các hoạt động của ngân hàng và tỷ trọng thu nhập
từ hoạt động tín dụng
Các chỉ tiêu trên phản ánh thu nhập của ngân hàng từ hoạt động tín dụng
và tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng so với các hoạt động khác của ngân
hàng
Lợi nhuận trớc thuế và lợi nhuận sau thuế của ngân hàng
Lợi nhuận trớc thuế và lợi nhuận sau thuế phản ánh kết quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá một cách
tổng quan về hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Hiệu suất sinh lời
Hiệu suất sinh lời =
Thu lãi cho vay
kiện của ngân hàng trong hoàn cảnh nền kinh tế hiện tại và tơng lai.
3.1 Các nhân tố về phía ngân hàng: Các nhân tố này liên quan đến sự phấn đấu
của bản thân ngân hàng. Mọi sự đối ngoại linh hoạt, thích ứng với điều kiện đổi
mới của môi trờng bên ngoài đều phải xuất phát từ nội lực của ngân hàng. Chính
vì vậy, ngân hàng phải hết sức quan tâm đến các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả
tín dụng ngân hàng. Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động cơ bản
nhất, nó là guồng máy chính để vận hành hoạt động của ngân hàng. Hiệu quả
tín dụng ngân hàng đợc quyết định bởi rất nhiều nhân tố riêng lẻ kết hợp một
cách đồng bộ nh một nhân tố cơ bản sau:
Một là, chính sách tín dụng. Đây là kim chỉ nam đảm bảo cho hoạt động
tín dụng đi đúng hớng, có ý nghĩa quyết định đến thành công hay thất bại của
một ngân hàng. Chính sách tín dụng phải phù hợp với đờng lối phát triển của Nhà
nớc, đồng thời đảm bảo sự kết hợp hài hòa của ngân hàng và ngời sử dụng vốn
12
vay. Vì vậy, khi xây dựng chính sách tín dụng phải dựa trên cơ sở khoa học. Đối
với ngân hàng thơng mại, chính sách tín dụng đúng đắn phải đảm bảo khả năng
sinh lời của hoạt động tín dụng, trên cơ sở phân tán rủi ro tuân thủ pháp luật và đ-
ờng lối chính sách của Nhà nớc, đảm bảo công bằng xã hội. Chính sách tín dụng
thay đổi theo từng thời kỳ nhằm phù hợp với đặc điểm kinh tế từng thời kỳ đó.
Ngợc lại, một chính sách tín dụng bất hợp lý và cứng nhắc sẽ làm mất tính linh
hoạt trong hoạt động tín dụng, gây khó khăn cho ngân hàng trong trờng hợp môi
trờng kinh doanh bị biến động do đó hiệu quả tín dụng sẽ bị giảm sút.
Hai là, công tác tổ chức của ngân hàng đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ
nhịp nhàng giữa các phòng ban tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách
hàng, giúp ngân hàng theo dõi quản lý sát sao các khoản cho vay và huy động
vốn. Tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp lý do chính trong việc tạo
lập quan hệ tín dụng một cách có khoa học, có tính linh hoạt trên cơ sở tôn trọng
nguyên tắc tín dụng đã đợc quy định cả về huy động cũng nh cho vay, quản lý đ-
ợc cơ cấu tài sản, nguồn vốn của ngân hàng. Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp
giữa các tổ chức tín dụng, phân tích của cán bộ tín dụng) từ khách hàng (theo chế
độ báo cáo định kỳ hoặc quản lý trực tiếp) và từ các nguồn thông tin khác (các cơ
quan thông tin, báo chí, truyền thông...) các thông tin về tình hình các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế đầy đủ, chính xác tạo điều kiện thuận lợi cho việc
hoạch định chính sách tín dụng từ Trung ơng đến địa phơng, phù hợp với tình
hình kinh tế chính trị trong và ngoài nớc, đa ra quyết định đúng đắn, quản lý chặt
chẽ các khoản cho vay góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng. Ngợc lại, việc bị o
bế thông tin hay thông tin nhận đợc bị sai lệch với thực tế sẽ dẫn đến những
quyết định sai lầm ảnh hởng tới hiệu quả tín dụng ngân hàng.
Năm là, kiểm soát nội bộ. Đây là biện pháp giúp ban lãnh đạo ngân hàng
có đợc các thông tin về tình trạng kinh doanh của ngân hàng mình nhằm duy trì
hiệu quả các hoạt động kinh doanh đang đợc xúc tiến, phù hợp với các chính
sách, thực hiện các mục tiêu đã định. Đồng thời, việc kiểm soát nội bộ giúp cho
ngân hàng kịp thời điều chỉnh, sửa chữa, khắc phục những sai sót đảm bảo hiệu
quả kinh doanh của ngân hàng.
Sáu là, trang thiết bị phục vụ hoạt động tín dụng. Việc trang bị đầy đủ
các thiết bị kỹ thuật hiện đại, phù hợp với khả năng tài chính, phạm vi, qui mô
hoạt động giúp cho ngân hàng :
Có các dịch vụ phục vụ đa dạng chất lợng cao với chi phí hợp lý
Là phơng tiện trợ giúp các nhà quản lý ngân hàng có thể nắm bắt kịp
thời tình hình hoạt động tín dụng để có những điều chỉnh phù hợp với tình hình
thực tế.
14
Cán bộ tín dụng làm việc trong điều kiện thiếu thốn trang thiết bị sẽ làm
cho năng suất lao động không cao, chất lợng phục vụ thấp do đó ảnh hởng nhiều
đến hiệu quả tín dụng ngân hàng. Nh vậy trang thiết bị cũng là một nhân tố
không thể thiếu trong việc nâng cao hiệu quả tín dụng.
3.2 Các nhân tố về phía khách hàng:
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng có ảnh hởng không nhỏ đến
Khách hàng cố ý làm sai lệch, dấu diếm tình hình tài chính thực tế doanh
nghiệp mình khi xin vay hoặc trong quá trình vay.
Các doanh nghiệp chiếm dụng vốn lẫn nhau, chậm trả nợ ngân hàng.
3.3 Các nhân tố khách quan khác
15
Gồm 3 nhóm nhân tố: kinh tế, xã hội và pháp lý.
Nhân tố kinh tế: về phơng diện tổng thể nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, làm cho khả năng
vay và trả nợ không bị biến động lớn, hiệu quả tín dụng đợc đảm bảo. Ngoài ra,
chính sách kinh tế của Nhà nớc cũng ảnh hởng đến hiệu quả tín dụng .
Một là, chu kỳ phát triển kinh tế có tác động không nhỏ tới hiệu quả tín
dụng. Trong thời kỳ kinh tế đình trệ hoạt động tín dụng bị thu hẹp và khó sử
dụng có hiệu quả. Ngợc lại ở thời kỳ hng thịnh nhu cầu vốn tín dụng tăng và khả
năng sử dụng vốn có hiệu quả cao. Những thăng trầm của một chu kỳ kinh tế ảnh
hởng trực tiếp đến mậu dịch và công nghiệp, xuât nhập khẩu, mức công lao động
nên nó ảnh hởng tới nhu cầu tín dụng cho việc mở rộng sản xuất, tài trợ xuất
nhập khẩu, tài trợ tiêu dùng.
Hai là, chính sách kinh tế của Nhà nớc u tiên hay hạn chế một ngành nào
đó để đảm bảo cân đối trong nền kinh tế cũng ảnh hởng tới hiệu quả tín dụng.
Những doanh nghiệp nằm trong diện u tiên của Nhà nớc sẽ đợc tạo điều kiện
thuận lợi trong quá trình sản xuất kinh doanh nh u đãi về thuế, trợ giá sản
phẩm giúp cho doanh nghiệp kinh doanh ổn định đảm bảo hiệu quả tín dụng.
Ngợc lại, đối với những doanh nghiệp không nằm trong diện u tiên sẽ không
nhận đợc sự giúp đỡ nào từ phía Nhà nớc khi doanh nghiệp gặp khó khăn. Điều
này sẽ làm giảm hiệu quả tín dụng ngân hàng khi doanh nghiệp bị thua lỗ. Mặt
khác hiệu quả tín dụng cũng bị tác động bởi sự điều tiết của Chính phủ thông qua
các chính sách tiền tệ nh chính sách lãi suất, chính sách điều hành tỷ giá hối
đoái, điều chỉnh năng động tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thơng
mại, điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng...Tất cả
mình và dẫn đến phá sản ngân hàng là điều không thể tránh khỏi.
Nhân tố xã hội: Tín dụng là quan hệ vay mợn trên cơ sở lòng tin. Ngân
hàng có tín nhiệm càng cao thì thu hút khách hàng càng llớn và ngợc lại khách
hàng có tín nhiệm với ngân hàng sẽ đợc vay vốn dễ dàng với lãi suất u đãi hơn.
Tín nhiệm là tiền đề để không ngừng nâng cao hiệu quả tín dụng. Bên cạnh đó,
trình độ dân trí, biến động xã hội trong và ngoài nớc cũng ảnh hởng đến hiệu
quả tín dụng.
Nhân tố pháp lý: Pháp luật tạo lập môi trờng cho mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh tiến hành thuận tiện và đạt hiệu quả cao, là cơ sở pháp lý giải
quyết khiếu nại khi có tranh chấp xảy ra. Vì vậy nhân tố pháp lý có vị trí hết sức
quan trọng đối với hiệu quả tín dụng. Kinh doanh trong môi trờng pháp lý
nghiêm minh, chặt chẽ sẽ tạo cho các doanh nghiệp vay vốn một phong cách
kinh doanh đúng đắn, trung thực từ đó nâng cao đợc hiệu quả kinh doanh và
17
hiệu quả tín dụng ngân hàng. Trái lại, kinh doanh trong môi trờng pháp lý lỏng
lẻo dễ làm cho các doanh nghiệp vay vốn nảy sinh những ý tởng và hành vi tiêu
cực theo kiểu kinh doanh chụp giựt, lừa đảo. Điều này không những làm giảm
hiệu quả tín dụng ngân hàng mà còn ảnh hởng xấu đến sự phát triển kinh tế
chung của cả nớc.
Nhân tố bất khả kháng: Nhân tố này có thể gây ra thất thoát tín dụng
ngân hàng. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, có trờng hợp khách hàng bị tổn
thất do thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng hoảng kinh tế và kể cả do Nhà
nớc thay đổi cơ chế, chính sách. Do đó khách hàng không trả đợc nợ và ngân
hàng phải gánh chịu rủi ro này.
4. ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng
4.1. Đối với ngân hàng
Nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng sẽ làm tăng uy tín của ngân hàng
đối với khách hàng, từ đó thu hút đợc nhiều khách hàng, tăng nguồn vốn tín dụng
và tăng khả năng cung cấp dịch vụ của ngân hàng. Hơn thế nữa, nâng cao hiệu
Chơng II: hiệu quả tín dụng đối với doanh nghiệp nhà n-
ớc tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn thành phố hà nội
I. Một vài nét về Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn thành phố Hà Nội
1.Giới thiệu chung
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn thành phố Hà Nội đợc
thành lập vào ngày 27/ 07/ 1988. Tên viết tắt là NHNo&PTNT HN. Trụ sở đặt tại
số 77 phố Lạc Trung quận Hai Bà Trng, Hà Nội. NHNo&PTNT HN gồm có 7 chi
nhánh ngân hàng quận và một ngân hàng cấp 4. Trong cơ quan có 8 phòng ban,
mỗi phòng ban giữ một nhiệm vụ riêng nhng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
hợp thành bộ máy hoàn chỉnh và hoạt động ngày càng có hiệu quả trong
NHNN&PTNT HN.
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo&PTNT HN
Thực hiện Nghị định số 53/ HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng bộ tr-
ởng, hệ thống ngân hàng 1 cấp chuyển thành ngân hàng 2 cấp, Ngân hàng Nhà n-
ớc là cơ quan quản lý nhà nớc và các ngân hàng thơng mại chuyên doanh tiền tệ
tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Đây là bớc ngoặt quan trọng và đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ trong
hoạt động ngân hàng nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn nói riêng.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội đợc
thành lập ngày 27/07/1988 và chính thức đi vào hoạt động ngày 05/08/1988 với
chức năng nhiệm vụ là huy động vốn và cho vay các thành phần kinh tế sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, chế biến, công nghiệp thực phẩm và tất
cả các thành phần kinh tế khác trên địa bàn Hà Nội.
NHNo&PTNT HN đợc tách ra từ Ngân hàng Nhà nớc của thành phố Hà
Nội. Lúc này NHNo&PTNT HN gồm có 12 chi nhánh của các ngân hàng huyện
thuộc Hà Nội và một trung tâm giao dịch là NHNo&PTNT HN hiện nay, thực
20
Sơ đồ mô hình tổ chức của NHNo&PTNT HN:
1.3 Nhiệm vụ
NHNo&PTNT HN là một DNNN kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ
ngân hàng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nớc và
nớc ngoài, thực hiện uỷ thác các nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của
Chính phủ, các tổ chức kinh tế-xã hội, cá nhân trong nớc và nớc ngoài, thực hiện
tín dụng tài trợ chủ yếu cho nông nghiệp và nông thôn.
Tháng 9/1995 thực hiện chủ trơng của nhà nớc xoá bỏ cầu cấp
NHNo&PTNT HN bỏ phần chỉ đạo ngân hàng cấp huyện, tập trung vào kinh
doanh. Lúc này, NHNo&PTNT HN là một đơn vị kinh doanh thực sự phục vụ các
đơn vị kinh doanh nông nghiệp, vật t nông nghiệp và các đơn vị kinh doanh lơng
thực, các đơn vị chế biến thực phẩm.
Vốn của Ngân hàng Nông nghiệp đã thực sự góp phần thúc đẩy các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh phát triển và đứng vững trong cơ chế thị trờng, đầu t
cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông, lâm, ng, diêm nghiệp và chế
biến nông sản, NHNo&PTNT HN còn đẩy mạnh đầu t cho các hộ sản xuất nông
nghiệp ở các huyện ngoại thành nhằm giúp các hộ có vốn phát triển sản xuất
kinh doanh mở mang ngành nghề truyền thống, thay đổi giống cây trồng vật
nuôi, chuyển dịch giống cây trồng. Ngoài ra cùng với các tổ chức đoàn thể,
22
Ban Giám đốc
Phòng
hành
chính
nhân sự
Phòng
kế
hoạch
Phòng
thanh
2.1 Hoạt động huy động vốn
Nhận thức đợc huy động vốn là hoạt động quan trọng có tính chất mở đ-
ờng cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, NHNo&PTNT HN đã chú trọng
nhiều đến hoạt động huy động vốn và làm cho nó trở thành thế mạnh của mình.
NHNo&PTNT HN luôn là kênh huy động vốn lớn nhất, là chi nhánh dẫn đầu
trong hệ thống NHNo&PTNT tại Hà Nội về hoạt động huy động vốn với nguồn
vốn huy động dồi dào. Sau đây ta sẽ xem xét cơ cấu huy động vốn theo loại
khách hàng của NHNo&PTNT HN trong giai đoạn 2005-2007
23
Bảng 1- Thực trạng huy động vốn tại NHNo&PTNT Hà Nội
giai đoạn 2005-2007
Chỉ tiêu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số tiền
(tỷ.đ)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
(tỷ.đ)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
(tỷ.đ)
Tỷ trọng
(%)
1.Tiền gửi
của
KBNN,TCTD
trong nớc
2.2 Hoạt động cho vay
Căn cứ vào nội dung quyết định số 198/QĐ_Ngân hàng ngày 17/09/1996
của Thống đốc NHNN về việc ban hành thể lệ tín dụng ngắn hạn đối với các tổ
chức kinh tế, quyết định số 367/QĐ_NH ngày 21/12/1997 về việc phát hành thể
lệ tín dụng trung và dài hạn, văn bản số 1533/NHNo_KH ngày 16/12/1996 của
NHNo&PTNT VN quy định về kinh doanh dịch vụ cầm cố và văn bản mới nhất
là quyết định 324 của Thống đốc NHNN VN về việc ban hành qui chế cho vay
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và quyết định 180 của hội đồng quản trị
NHNo&PTNT VN ngày 15/12/2000 về việc ban hành qui định cho vay đối với
khách hàng đã kịp thời tháo gỡ những vớng mắc trong quá trình cho vay, tạo điều
kiện cho ngân hàng mở rộng tín dụng kích thích sản xuất kinh doanh.
Là một ngân hàng mới ra đời và hoạt động, có những bớc đi vững vàng,
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, NHNo&PTNT HN đã thể hiện
sự tiến bộ không ngừng của mình trong hoạt động tín dụng. Điều này đợc thể
hiện rõ trong bảng cơ cấu tín dụng của NHNo&PTNT HN giai đoạn 2005-2007
Bảng 2- Cơ cấu d nợ tín dụng của NHNo&PTNT HN
giai đoạn 2005-2007
Chỉ tiêu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số tiền
(t.đ)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
(t.đ)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
6924
20,815
0,3%
29,3
70.7
100
(Nguồn: Bảng CĐTK tổng hợp năm 2005 2006 2007 của NHNo&PTNT
HN )
Qua số liệu trên ta thấy, cho vay ngắn hạn giảm dần cả về giá trị tuyệt đối
lẫn tơng đối. Năm 2007 cho vay ngắn hạn là 2025 t đồng, tng 689 t đồng,
25