Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
A.MỞ ĐẦU
Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu
hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, phân công lao động ngày càng phát triển sâu rộng
trên pham vi quốc tế; đặc biệt là quá trình tham gia vào các tổ chức thương mại khu
vực và thế giới như AFTA, WTO và hiệp định thương mại Việt – Mỹ đã báo trước
một sự thay đổi lớn của môi trường kinh doanh đối với các doanh nghiệp Việt nam.
Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho sự phát triển kinh tế với nhiều cơ hội và
thách thức cho các doanh nghiệp Việt nam tham gia vào thị trường này và khẳng
định vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là những doanh nghiệp
có tỷ trọng xuất khẩu cao như trong ngành dệt may. Đối với một doanh nghiệp bất
kỳ thì hoạt động lập kế hoạch là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý , có vai
trò rất quan trọng . Lập kế hoạch gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương
trình hành động trong tương lai , là cơ sở để xác định và triển khai các chức năng
còn lại là tổ chức , lãnh đạo , kiểm tra .Bởi vậy chất lượng của công tác lập kế
hoạch sản xuất kinh doang được nâng cao sẽ là điều kiện cần thiết để đảm bảo quá
trinh kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của việc lập kế hoạch và trên cơ sở nghiên cứu
thực trạng hoạt động lập kế hoạch tại công ty TNHH một thành viên Dệt Kim Đông
Xuân nên em đã chọn đề tài : “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất sản
phầm tại Công ty TNHH một thành viên Dệt Kim Đông Xuân “ làm chuyên đề
tốt nghiệp của mình .
Ngoài phần mở đầu , kết luận và danh mục tài liệu tham khảo , nội dung của
chuyên đề gồm 2 chương sau :
Chương 1 : Thực trạng lập kế hoạch tại Công ty cổ TNHH một thành viên
Dệt Kim Đông Xuân.
Chương 2 : Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng lập kế hoạch tại công
ty .
1
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
B.NỘI DUNG
Xuân trước đây), được thành lập từ năm 1959 theo quyết định phê duyệt số
1083/QĐ cấp ngày 13 tháng 4 năm 1959 của Bộ Công Nghiệp nhẹ (Nay là Bộ Công
Nghiệp
Ngày 31/12/1992 Bộ công nghiệp nhẹ (nay là bộ công thương) có quyết định số
704/CNN - TCLĐ chuyển đổi tổ chức và hoạt động của nhà máy Dệt Kim Đông
Xuân Hà Nội thành công ty Dệt Kim Đông Xuân Hà Nội với tên giao dịch là
DOXIMEX.
Qua nhiều năm đầu tư, mở rộng đến nay công ty đã có một dây chuyền sản xuất từ
dệt, xử lý hoàn tất, cắt, may,in, thêu bằng các thiết bị hiện đại và công nghệ tiên tiến
của Nhật Bản, Italia, Đứcbộ máy điều hành có nhiều kinh nghiệm.
Hiện nay công ty Dệt Kim Đông Xuân Hà Nội gồm 3 cơ sở chính:
+ Cơ sở 1: 67 Ngô Thì Nhậm - Hai Bà Trưng - Hà Nội.
+ Cơ sở 2: 250B Minh Khai - Hai Bà Trưng - Hà Nội.
+ Cơ sở 3: 524 Minh Khai - Hai Bà Trưng - Hà Nội.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của công ty
1.1.2.1. Đặc điểm cơ cấu tổ chức
Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được chia làm 3 cấp: Công ty, xưởng,
phân xưởng. Hệ thống lãnh đạo của công ty gồm: Ban giám đốc và các phòng, ban
nghiệp vụ giúp cho giám đốc trong việc tiến hành chỉ đạo quản lý.
* Ban giám đốc gồm:
+ Tổng giám đốc.
+ Phó tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật - thương mại.
+ Phó tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật sản xuất.
* Hệ thống phòng ban gồm:
+ Phòng nghiệp vụ.
+ Phòng kỹ thuật.
+ Phòng tài chính kế toán.
3
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
+ Phòng quản lý chất lượng.
giơi thiệu SP
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
Chú thích:
: Mối quan hệ quản lý chỉ đạo.
: Mối quan hệ phối hợp công tác và hỗ trợ nghiệp vụ
: Mối quan hệ hỗ trợ công tác và chỉ đạo nghiệp vụ.
: Mối quan hệ công tác và phối hợp hoạt động
* Chức năng nhiệm vụ
a. Tổng giám đốc:
Trách nhiệm:
- Chịu trách nhiệm trước cấp trên (Nhà Nước) và tập thể người lao động và hiệu
quả sản xuất kinh doanh và chấp hành pháp luật của công ty, phụ trách chung và
trực tiếp các lĩnh vực:
+ Tổ chức bộ máy công tác cán bộ.
+ Chiến lược phát triển và quy hoạch đầu tư, thị trường, bảo toàn và phát triển vốn.
+ Kế hoạch sản xuât kinh doanh - tài chính hàng năm.
+ Công tác quan hệ hợp tác sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước, quan hệ với
các ngành chức năng, tổ chức tín dụng, đôn đốc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ.
+ Công tác tuyển dụng, hội đồng cán bộ chuyên viên.
+ Công tác khen thưởng, kỷ luật cánbộ, chuyên viên.
+ Công tác bảo vệ thanh tra.
Quyền hạn:
+ Chỉ đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Phó tổng giám đốc, kế toán
trưởng, các thủ trưởng đơn vị thành viên, các trợ lý và các hội đồng tư vấn.
+ Thành lập, giải thể các đơn vị thành viên, bộ phận, hội đồng tư vấn, đề bạt, điều
chuyển, tiếp nhận, khen thưởng, kỷ luật cán bộ chuyên viên, ( kỹ thuật - nghiệp vụ )
thuộc hệ thống điều hành trong công ty và đề xuất, kiến nghị thay thế, xử lý vốn đối
với những đối tượng thuộc cấp trên quản lý.
+Quyết định chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh tài chính hàng năm, mục tiêu,
quy mô lĩnh vực đầu tư, chọn lựa đối tác hợp tác sản xuât kinh doanh .
6
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
+ Đảm bảo sự tương thích giữa quy trình sản xuât lắp đặt kỹ thuật, thủ tục kiể tra
thử nghiệm và hệ thống văn bản áp dụng.
+ Cập nhật các kỹ thuật kiểm soát chất lượng, kiểm tra chất lượng, thủ tục kiểm tra
và thử nghiệm bao gồm cả triển khai áp dụng thiết bị, dụng cụ mới.
+ Xác định mọi yêu cầu về đo lường đòi hỏi năng lực vượt qua khó khăn hiện tại
nhưng sau một thời gian quy định sẽ đạt được.
+ Xác định và xây dựng hồ sơ chất lượng.
Nhiệm vụ:
+ Kiểm tra các loại sợi, chỉ từ nghoài nhập vào công ty, kiểm tra các sản phẩm khi
nhận, kiểm tra để đảm bảo đúng địa chỉ giao hàng, ký mã hiệu, chất lượng, số lượng
và dán tem dò kim loại.
+ Theo giõi, bố trí, sắp xếp các kho sợi chỉ vận chuyển nguyên phụ liệu, giám sát
các quy trình công nghệ, quy định kỹ thuật.
+ Tổng kết chất lượng tháng để thực hiện thưởng phạt, phát về chất lượng cho công
nhân.
+ Cùng xí nghiệp may kiểm tra phụliệu, nhãn mác… nhập kho và trước khi đưa vào
sử dụng. Kết hợp với xí nghiệp xem xét và giải quyết sản phẩn không phù hợp.
+ Đảm bảo tất cả các loại vải đưa vào sản xuât đều đạt cá chỉ tiêu về chất lượng.
d. Phòng tài chính kế toán:
Nhiệm vụ:
+ Xác định hiệu quả nguồn từ sản xuất kinh doanh đạt được trong tháng và phối
hợp cùng phòng nghiệp vụ xác định tổng quỹ thu nhập của công ty trong tháng,
năm.
+ Đôn đốc kiểm tra các đơn vị thực hiện báo cáo và kiểm tra báo cáo để phân phối
thu nhập đúng quy chế, kịp tời.
+ Kiểm tra việc thực hiện quy chế phân phối thu nhập của các đơn vị và chi trả
lương, thưởng tại các đơn vị trong công ty ( cung cấp, hướng dẫn lập biểu, số, lưu
trữ chứng từ đúng quy định).
phòng sẽ thực hiện hoạt động giao dich, xúc tiến bán hàng làm cơ sở cho việc phát
8
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
triển và tìm kiếm bạn hàng, liên kết với nhân viên các phòng ban hữu quan để xác
định tính khả thi của các hợp động tạo tiền đề cho việc ký kết hợp đồng.
+ Lên kế hoạch sản xuất và cung ứng vật tư: song song với những yêu cầu biến
động của thị trường và khách hàng là những thay đổi của vấn đề sản xuất. Xây dựng
và thay đổi kế hoạch sản xuất cùng với việc cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị phục
vụ cho sản xuất là chức năng quan trọng của phòng nghiệp vụ.
+ Xuất nhập khẩu: chuẩn bị các điều kiện thuận lợi cho việc xuất nhập khẩu như:
mở và đôn đốc mở L/C, lập và chuẩn bị các thủ tục xuất nhập khẩu, theo giõi tiến
độ giao và nhận hàng.
+ Đào tạo chuyên dụng và đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập: sử dụng
biện pháp khuyến khich lợi ích kinh tế để đảm bảo cả về lượng và chất cho lực
lượng lao động.
+ Nghiệp vụ kho: dự trữ va bảo quản nguyên vât liệu cũng như hàng hoá đảm bảo
cho sản xuất kinh doanh diễn ra theo đúng tiến độ kế hoạch, giữ nguyên vẹn về chất
và lượng cho hàng hoá trong kho là yêu cầu mang tính kinh tế và kỹ thuật đồng bộ.
f. Phòng kỹ thuật.
Nhiệm vụ và chức năng:
+ Trên cơ sở kế hoạch sản xuất của các đơn vị, cân đối xây dựng kế hoạch sử dụng,
huy động và sửa chữa thiết bị theo công suất thực tế.
+ Ban hành mới, kiểm tra và sửa đổi để hoàn chỉnh hệ thống tiêu chuẩn chất lượng,
định mức sử dụng vật tư, thiết bị cho phù hợp để có cơ sở ra kế hoạch và khoán quỹ
lương đến các xí nghiệp thành viên.
+ Xây dựng hệ thống định mức, giờ công, giờ ngừng, dạng sửa chữa của từng loại
thiết bị và khối lượng công việc cần giải quyết theo chức năng để giao khoán quỹ
tiền lương cho xí nghiệp CKSC và công nhân bảo dưỡng tại các xí nghiệp. đồng
thời xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ về mặt khôi lượng và chất lượng của xí
nghiệp CKSC và công nhân sửa chữa tại các xí nghiệp hàng tháng.
10
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
* Vốn ngân sách cấp: 77.600.996.158 đồng.
* Vốn vay: 120.928.246.711 đồng.
*Vốn tự bổ sung: 57.108.960.500 đồng.
Công ty Dệt Kim Đông Xuân Hà Nội mặc dù là một đơn vị nhà nước 100%
vốn của ngành Dệt may Viêt Nam nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty không hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp mà chủ yếu là
dựa vào nguồn vốn tự có, huy động từ cán bộ công nhân viên, từ nguồn vốn tự bổ
sung ( trích từ lợi nhuận) ,Trong 2 năm 2009 và 2010 công ty hàng năm bổ sung
vào nguồn vốn kinh doanh khoảng 40 tỉ đồng và từ nguồn vốn đi vay. Nguồn vốn
kinh doanh của công ty luôn được bổ sung qua các thời kì. Nếu như năm 2009 Tổng
số vốn kinh doanh là 234 tỉ đồng thì cuối năm 2010 đã tăng lên 9%, khoảng đạt 258
tỉ đồng . Còn về tài sản lưu động: Nếu như năm 2009, tài sản lưu động của công ty
vào khoảng 92 tỉ đồng thì đến cuối năm 2010 con số này là 106 tỉ đồng.
b.Nguồn nhân lực:
Nhân tố con người đóng vai trò quyết định và sáng tạo trong mọi quá trình
sản xuất kinh doanh do đó công ty đã xác định rõ ràng: lao động là yếu tố hàng đầu,
quan trọng không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì nếu như đảm bảo
số lượng và chất lượng lao động sẽ mang lại hiệu quả cao cho công ty bởi đây là
nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động và hiệu quả sử dụng của máy
móc thiết bị. Do đó, trong những năm qua lực lượng lao động của công ty không
ngừng được nâng cao về chất lượng, đây cũng là nguyên nhân của việc giảm đi của
số lượng lao động.
Lực lượng lao động ở công ty Dệt Kim Đông Xuân Hà Nội có sự thay đổi lớn
trước và sau năm 1986. Trước đây( trong thời kỡ bao cấp) số lượng CBCNV của công
ty trên 3000 nguời thì hiện nay trong công cuộc nâng cao hiệu quả kinh doanh, cùng với
tự động hoá quá trình sản xuất bằng máy móc thiết bị, lực lượng lao động chỉ còn 1139
người, giảm hơn 50%. Tuy vài năm trở lại đây, nền kinh tế trong nước cũng như thế
giới có nhiều biến động nhưng lao động ở công ty vẫn ổn định, biến đổi trong khoảng
tiên.
Về cơ cấu tuổi: Tỉ lệ người trong độ tuổi trẻ (26-35) là khá cao, gần 50%
(428/1139). Hàng năm công ty tổ chức các khoá đào tạo tay nghề, đào tạo lại, đào tạo
mới ở các trường dạy nghề của ngành dệt may, cử người đi học ở nước ngoài, tổ chức
thi sáng kiến, thi nõng cao tay nghề…
Lao động trực tiếp là 896 người chiếm 82,42% tổng số lao động. Hầu hết
công nhân của công ty đã được qua lớp đào tạo dài hạn hoặc ngắn hạn. Số công
nhân có trình độ tay nghề bậc 6/7 là 110 người chiếm 10,12%, trình độ bậc 5/7 là
136 người chiếm 12,5%, trình độ tay nghề bậc 3/7 là266 người chiếm 24,5%. Số
còn lại là lao động thủ công đã qua lớp đào tạo tay nghề từ 6 đến 9 tháng do công ty
tổ chức. Số lao động gián tiếp là 191 người chiếm 17,58% tổng số lao động trong
toàn công ty trong đó có 120 người đã tốt nghiệp đại học, 71 người đã tốt nghiệp
trung cấp hoặc sơ cấp
Bảng 2: Đặc điểm lao động của công ty.
12
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
Năm Lương bình quân (đồng) Tuổi bình quân
2008 1.650.125 42
2009 2.025.746 39
2010 2.458.679 37
2011 2.586.784 36
(Nguồn : phòng nghiệp vụ)
Thu nhập của công nhân không ngừng tăng lên, điều này đã giúp cải thiện
được đời sống cho công nhân trong toàn công ty. Nếu trước kia, năm 2008 lương
bình quân của người lao độnglà 1.650.679 đồng, mức lương tương đối cao so với
công nhân trong các ngành giầy da, thuỷ sản. nhưng sang các năm 2009, đặc biệt là
năm 2009 và 2010 thì mức lương bình quân này đã vượt qua con số 2.000.000
đồng, thậm chí theo sô liệu thống kê mới nhất trong công ty thì mức lương này đã
tăng lên mức 2.875.247 đồng. đây là điều đáng mừng và không phải công ty nào
cũng đạt được. Kết quả này có được là do công ty đã chú trọng đến chất lượng của
21
23
23
25
2
Máy hai kim
Nhật
11
15
15
18
3
May vắt sổ
Tiệp
50
50
56
68
4
Máy cuốn ống
Việt Nam
5
5
7
7
5
Máy đinh cúc
Hàn Quốc
3
6
10
Máy xén
Nhật
54
67
67
67
Nguyên
vật liệu
(vải)
Cắt
- Trải vải
- Cắt pha
- Cắt gọt
- Đánh số
May
- May cổ
- May tay
- Ghép thành SP
Thêu,
giặt,
mài
Nhập kho
thành phẩm
Đóng gói,
đóng kiện
Là,KCS, hoàn thiện
sản phẩm
Vật liệu
ảnh, tiếp cận nhiều đối tượng khách hàng, nhiều vùng miền trên cả nước. Trong
năm 2009, doanh thu từ thị trường nội địa của các đơn vị thành viên Tập đoàn Dệt
may Việt Nam tăng 26% so với năm trước.Nhiều công ty cũng đã xây dựng các
phòng nghiên cứu thông số chuẩn về vóc dáng người Việt Nam, từ đó sản xuất ra
sản phẩm phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng. Đây là cách làm được nhiều nước
có nền dệt may tiên tiến áp dụng và rất thành công. Bên cạnh đó, ngành dệt may
cũng đã tổ chức các cuộc thi thiết kế thời trang trong sinh viên nhằm phát hiện tài
năng trẻ thiết kế thời trang, tạo động lực khuyến khích các nhà thiết kế thời trang
Việt sáng tạo, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng, từ đó động viên
các tầng lớp người tiêu dùng hướng về hàng nội.
1.1.2.5. Thị trường hoạt động
Thị trường xuất khẩu : Tỷ trọng hàng xuất khẩu FOB/ tổng số (%): 81% Thị phần
chính của doanh nghiệp: Thị trường xuất khẩu chủ yếu: Nhật, Mỹ, EU.
a.Thị trường xuất khẩu
Tỷ trọng hàng xuất khẩu FOB/ tổng số (%): 81%
Thị phần chính của doanh nghiệp: Thị trường xuất khẩu chủ yếu: Nhật, Mỹ, EU.
Các khách hàng chủ lực bao gồm:
+ Tại thị trường Nhật: Katakura (AEON, Family Joy ) Itochu, Kafulas
+ Tại thị trường Mỹ: The children’ place, Oktava (Tommy Hilfigher)
+ Tại thị trường châu Âu: Eminence, Aulak
b. Các khách hàng lớn trong nước :
+ Liên hiệp hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh - Saigon coop
+ Công ty kinh doanh hàng thời trang Việt Nam - Vinatex Fashion
Công ty đã thành lập nhiều trung tâm kinh doanh và tiêu thụ hoàng hoá , mở rộng
hệ thống bán buôn , bán lẻ tại Hà Nội và các tỉnh thành phố , địa phương trong cả
nước.Công ty đã đa dạng hoá các hình thức tìm kiếm khách hàng: Tiếp khách hàng
16
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
tại Công ty , chào hàng giao dịch qua Internet , tham gia các triển lãm trong nước và
quốc tế , quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, biểu diễn thời trang…
nhằm đáp ứng yêu cầu khách hàng với định mức tiêu hao vật tư thấp hơn, góp phần
giảm giá thành sản phẩm.
Về vấn đề tiêu thụ, Công ty cần xúc tiến các hoạt động quảng cáo, marketing,
… nhằm giới thiệu và thu hút khách hàng, tăng khả năng mở rộng thị trường xuất
khẩu.
Xây dựng hệ thống kênh phân phối và xử lý thông tin nhanh, đẩy mạnh công tác
nghiên cứu thị trường: nghiên cứu nhu cầu và xu hướng tiêu dùng của khách hàng,
nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh,… để đưa ra những chính sách tiêu thụ hiệu quả.
Xây dựng quy chế bán hàng và dịch vụ sau bán phù hợp với từng đối tượng
khách hàng nhằm thu hút, duy trì, củng cố mối quan hệ với khách hàng, mở rộng
hoạt động tiêu thụ cũng như thị trường của doanh nghiệp.
Về vấn đề lao động cần tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo
đội ngũ lao động có trình độ tay nghề, có kiến thức, năng động và có tinh thần trách
nhiệm, nhiệt tình trong công việc. Tuyển dụng lao động có tay nghề, trình độ
chuyên môn cao.
Hoàn thiện hệ thống lưu giữ thời gian ở nơi làm việc đảm bảo chính xác cho việc
tính lương, tìm cách nâng cao thu nhâp, cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân
viên. Đổi mới công tác đơn giá tiền đáp ứng yêu cầu kích thích và nâng cao hiệu
quả sản xuất.
1.2. Thực trạng công tác lập kế hoạch tại công ty
2.2.1 Hệ thống kế hoạch hiện nay của công ty
2.2.1.1. Kế hoạch tổng hợp
18
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
a. Kế hoạch sản lượng
Lập kế hoạch sản lượng của một năm là một việc nhất thiết phải làm trước khi lập
các kế hoạch khác. Tuy còn thuộc vào nhiều yếu tố như số lượng đơn đặt hàng của
công ty trong năm, hạn ngạch…Kế hoạch sản lượng năm chủ yếu dựa vào sản
lượng của năm trước và trên cơ sở tính toán phân tích theo phương pháp định tính,
từ đó đưa ra kế hoạch của năm.
• Bước 1: Xác định tổng số ngày – người, giờ – người cần thiết để hoàn
thành kế hoạch khối lượng công việc.
Ta có công thức. T = Σ t
i
q
i
Trong đó :
T : Tổng số giờ- người ( ngày – người) cần thiết trong kỳ kế hoạch
t
i
: Định mức thời gian lao động cho 1 đơn vị công việc, sản phẩm ( giờ, ngày)
q
i
: số lượng công việc ( sản phẩm )
• Bước 2 : Xác định số công nhân cần thiết để hoàn thành công việc
T Trong đó : t
n
: tổng thời gian làm việc bình quân của 1
công nhân
CN = trong kỳ kế hoạch ( tính bằng giờ – người, ngày – người )
t
n
CN : Số công nhân
T : Tổng số giờ để hoàn thành khối lượng sản phẩm
trong kỳ kế hoạch ( phút )
Quỹ thời gian làm việc bình quân của một lao động phụ thuộc vào số ngày làm
việc trong tháng, có tháng nhiều tháng ít. Không thể tháng nào cũng giống nhau
được
Ví Dụ. Ta tính số lượng lao động cần thiêt trong tháng 1 là bao nhiêu.
(q
i
)
1 910.644 10 9.106.440 10.520 866
2 930.075 10 9.300.750 10.040 926
3 930.075 10 9.300.750 11.040 842
4 900.932 10 9.009.320 11.520 782
5 880.850 10 8.808.500 10.560 834
6 920.803 10 9.208.030 11.400 808
7 940.321 10 9.403.210 10.040 937
8 910.452 10 9.104.520 11.800 772
9 910.981 10 9.109.810 11.520 791
10 930.825 10 9.308.250 10.280 905
11 930.935 10 9.309.350 11.760 792
12 950.031 10 9.500.310 10.520 903
Tổng 11.046.924 110.469.240 131.000 10.157
Nguồn : Phòng nghiệp vụ
Nhìn vào Bảng 4 ta thấy, tổng số lao động cần trong năm là 10.157 người. Do sản
lượng sản xuất sản phẩm ở mỗi tháng khác nhau nên lao động cần thiết cũng khác
nhau. Có tháng cần nhiều lao động (Ví dụ. Như tháng 2 cần 926 lao động ),có tháng
cần ít lao động như tháng 8 là 772 lao động. Từ việc tính lượng lao động cần thiết
để thành sản phẩm cần sản xuất trong từng tháng, công ty cần có kế hoạch tăng
21
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
thêm hoặc giảm bớt lao động cho phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp.
c. Tính tương thích giữa kế hoạch sản lượng và kế hoạch lao động.
Mục đích của việc xem xét tính tương thích : Có nghĩa là với một kế hoạch đặt ra
như thế so với việc thực hiện kế hoạch đó như thế nào.
đạt 100,54% so với kế hoạch. Tuy nhiên, vẫn còn những tháng sản lượng không
hoàn thành theo đúng kế hoạch ( ví dụ : như tháng 7 chỉ đạt 97,85% so với thực tế,
nhưng nhìn chung các tháng đều vượt kế hoạch đã đặt ra. Qua đó ta cũng thấy tình
hình sử dụng lao động thực tế so với kế hoạch của cả năm đều tăng lên ( ví dụ:
tháng 5 sử dụng lao động đạt 105,64% so với kế hoạch).
Bảng 5. Còn cho ta thấy, cách tính lao động để hoàn thành sản lượng sản phẩm
là chung chung chứ không tính riêng cho từng loại sản phẩm. Do vậy, xảy ra tình
trạng một số tháng sản lượng không hoàn thành và có tháng lao động thiếu hoặc
thừa so với kế hoạch. Vậy con số sản lượng và lao động thực tế mới là con số thực
tương ứng. Do đó, muốn thực hiện kế hoạch được tốt hơn, tận dụng lao động tốt
hơn hoặc không xảy ra tình trạng thiếu lao động thì công ty phải lập kế hoạch tỉ mỉ
hơn cho từng loại sản phẩm, cho từng bộ phận.
d. Kế hoạch tiền lương
Có nhiệm vụ :Bảo đảm đủ tiền lương để trả người lao động theo chế độ trong năm
kế hoạch. Đề ra những biện pháp sử dụng hợp lý, tiết kiệm quỹ tiền lương
• Xác định tổng quỹ tiền lương kỳ kế hoạch: Là toàn bộ số tiền lương cần
thiết trong kỳ kế hoạch của doanh nghiệp, trên cơ sở sử dụng hợp lý lực lượng lao
động và tiết kiệm chi phí tiền lương.
Quỹ tiền lương tính theo công thức.
V
t l
= Σ CNV x V
Trong đó : V
tl
: Quỹ tiền lương của doanh nghiệp
ΣCNV : Tổng số công nhân viên kỳ kế hoạch
V : Tiền lương bình quân 1 công nhân viên kỳ kế hoạch theo tháng
Ví dụ : Ta tính tổng quỹ lương kỳ kế hoạch của năm 2011. Như sau
23
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
32.280.400
37.504.472
2 Tiền thưởng Ngìn đồng 112.981
131.26585
3 Số lao động bình quân Người 1070 1087
4 Tiền lương bình quân
1000đ/ Người
2.586 2.875
5 Thu nhập bình quân 1000đ/ 2.706 2.900
6
Thu nhập khác có tính chất
lương
Nghìn đồng
1.590.121
1.763.936
7 Tổng thu nhập
Nghìn đồng
13.919.706
16.299.121
Đỗ Cao Công – QTDNB_K10
Nhìn vào sơ đồ bố trí trên ta thấy được mối quan hệ giữa các bộ phận xưởng là rất
chặt chẽ với nhau, mỗi phân xưởng là một giai đoạn công nghệ khác nhau. Việc
phân công công việc cho từng phân xưởng chính là việc cân đối dây chuyền. Dây
chuyền hoạt động tốt sẽ tạo ra sự đồng đều giữa các phân xưởng và đạt mức năng
lực sản xuất và lao động tốt hơn. Để hiểu rõ việc bố trí đó đã phù hợp với phân
xưởng hay chưa ta đi vào phân tích kế hoạch tác nghiệp ở từng phân xưởng. Dưới
đây là bảng kế hoạch tác nghiệp ở các bộ phận theo tuần.
Qua bảng 6 ta thấy:
o Thứ nhất: Xác định số giờ công tác nghiệp để sản xuất ra 1 loại sản phẩm.
Số CN thực hiện