Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam - Pdf 25

Lời nói đầu
Cũng nh các nớc đang phát triển khác, Việt Nam đang rất cần vốn cho
quá trình tăng trởng và phát triển kinh tế. Xuất phát từ một nớc nông nghiệp
lạc hậu, lại phải trải qua 2 cuộc kháng chiến cứu nớc khốc liệt, nền kinh tế
Việt Nam đã bị vốn yếu kém nay lại càng trở nên kiệt quệ. Đứng trớc tình hình
nh vậy, tại ĐHĐVI (12/ 1986) Đảng và Nhà nớc đã quyết định đổi mới toàn
diện về mặt kinh tế xã hội ngoại giao , chúng ta chuyển đổi từ cơ chế bao
cấp, kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc
theo định hớng XHCN. Cùng với nó luật đầu t trực tiếp nớc ngoài đã đợc ban
hành vào năm 1987 nhằm thu hút vốn đầu t trong nớc, chuyển sang những
công nghệ tiên tiến hiện đại từ bên ngoài vào nhằm nâng cao trình độ, năng
lực công nghệ trong nớc, phát triển nguồn nhân lực qua đó góp phần giúp
Việt Nam đẩy nhanh sự nghiệp CNH HĐH đất nớc. Hoa kỳ với t cách là
nhà đầu t ra nớc ngoài lớn nhất trên thế giới đã bớc đầu tiếp cận thị trờng Việt
Nam và đặc biệt sau khi hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ đợc ký kết các nhà đầu
t Hoa Kỳ đã quan tâm đầu t vào thị trờng Việt Nam, nếu tăng cờng đợc FDI
Hoa kỳ vào Việt Nam, ta sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận và học hỏi những công
nghệ tiên tiến hiện đại và tranh thủ vốn xây dựng những công trình lớn u
thế nổi bật của các nhà đầu t Hoa Kỳ tuy nhiên đầu t của Hoa Kỳ vào Việt
Nam vẫn còn rất khiêm tốn về số vốn so với tiềm lực kinh tế của Hoa Kỳ cũng
nh chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ bé trong tổng đầu t ra nớc ngoài của Hoa Kỳ,
đứng trớc tình hình trên, với mong muốn đẩy mạnh đợc luồng vốn đầu t trực
tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, ngời viết đã chọn đề tài: Đầu t trực tiếp của
Hoa Kỳ vào Việt Nam thực trạng và giải pháp
Về mặt bố cục đề tài đ ợc chia làm 3 phần:
Chơng I: Lý luận chung về đầu t trực tiếp nớc ngoài
Chơng II: Thực trạng về đầu t trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam thời
gian qua.
Chơng III: Giải pháp đẩy mạnh thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt
Nam.
Chơng 1 Lý luận chung về đầu t

- Hầu hết FDI đợc thực hiện trong những khu vực có tơng đối nhiều
vốn của thế giới. Nh vậy FDI không phải chủ yếu chảy từ nơi nhiều vốn sang
nơi hiếm vốn mà lại đợc thực hiện chủ yếu trong khu vực các nớc công nghiệp
phát triển. Nếu ở đàu thế kỉ 20 , trên 70% vốn đầu t đổ vào các nớc chậm phát
triển và đang phát triển thì từ sau chiến tranh thế giới thứ hai dòng vốn đầu t
quốc tế lại chủ yếu chảy vào các nớc t bản phát triển, các vớc này chiếm tới
80% tổng vốn đầu t quốc tế.
- FDI đợc thực hiện trong nội bộ khu vực. Do những u thế về khoảng
cách địa lý và các điều kiện đặc điểm tơng đồng mà có xu hớng đầu t trong nội
bộ khu vực.
- Có sự thay đổi lớn trong tơng quan lực lợng giữa các chủ đầu t quốc
tế. Trong những năm gần đây , ngoài những chủ đầu t lớn trớc đây nh Anh ,
Pháp, Đức, Mỹ, Hà Lan còn xuất hiện những chủ đầu t mới đó là các nớc đang
phát tiển có tốc độ đầu t ra nớc ngoài khá cao, đặc biệt là các nớc NICs Châu
á.
- Đông á và Đông Nam á ngày càng trở thành khu vực hấp dẫn đầu t
nớc ngoài nhất trong các khu vực đang phát triển, chiếm 2/3 tổng FDI vào các
nớc đang phát triển ( giai đoạn trớc khủng hoảng tài chính khu vực). Đây là
vùng phát triển kinh tế năng động nhất trong những năm gần đây. Khu vực này
trở nên năng động đối với nhà đầu t nớc ngoài vì giá nhân công rẻ, môi trờng
đầu t ngày càng đợc cải thiện tốt và so với các nớc t bản phát triển thì có mức
đoọ cạnh tranh thấp hơn.
- Các nhân tố ảnh hởng mạnh nhất đến sự di chuyển FDI trên thế giới
là sự ổn định về tình hình chính trị, hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế ,
triển vọng mở rộng thị trờng, các điều kiện thuận lợi để thực hiện hoạt động
đầu t, cũng nh chịu ảnh hởng mạnh của các quan hệ ngoại giao v...v
Về thực chất, FDI là sự đầu t của các công ty đa quốc gia nhằm xây
dựng các cơ sở , chi nhánh ở nớc ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ
sở đó. Đây là hình thức đầu t mà chủ đầu t đóng góp một số vốn đủ lớn vào
lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ cho phép họ trực tiếp tham gia đối tợng mà họ

điều hành quản lý trực tiếp đối tợng mà họ bỏ vốn vì thế họ có quuyền đa ra
các quyết định liên quan đến hoạt độn sản xuất kinh doanh theo hơngs có lợi
nhất cho mình. Điều này đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn là tơng đối cao. Bên
cạnh đó FDI giúp các chủ đầu t chánh đợc hàng rào bảo hộ mậu dịch của nớc
sở tại khi muốn chiếm lĩnh thị trờng của những nớc này. Thông qua FDI , chủ
đầu t nớc ngoài có thể xây dựng đợc những doanh nghiệp ngay tại chính các n-
ớc thi hành chính sách bảo hộ mà thờng thì một trong những rào cản lớn nhất
khi các công ty muốn xâm nhập thị trờng tiêu thụ sản phẩm của một nớc chính
là hàng rào bảo hộ.
1.2.2 Đối với nớc tiếp nhận vốn đầu t
Đối với các nớc tiếp nhận vốn đầu t, FDI có một vai trò rất lớn. FDI góp
phần đẩy nhanh quá trình công nhgiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đặc biệt đối
với những nớc đang phát triển thì FDI ngày càng trỏ nên quan trọng trong
chiến lợc phát triển của đất nớc. FDI là yếu tố quan trọng trong việc tăng cờng
và bổ sung nguồn vốn đầu t trong nớc, bù đắp sự thiếu hụt về nguồn vốn để
thực hiện thành công các mục tiêu tăng trởng và phát triển đát nớc. Một trong
những đặc điểm cơ bản có tính phổ biến ở các nớc đang phát triển đó là tỷ lệ
tiết kiệm tháp và thiếu ngoại tệ, hơn nữa quá trình tích luỹ từ nội bộ nền kinh
tế rất chậm và không đáng kể cho yêu cầu của công nghiệp hoá. Các nớc đang
phát triển muốn đẩy nhanh quá trình ccông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc
trong khi họ lại phải đối mặt với sự khan hiếm về vốn, sự thiếu vắng những
công nghệ tiên tiến để phục vụ cho giai đoạn đầu công nghiệp hoá, cho đén
những hạn chế về kiến thức kinh doanh. Những yếu tố này sẽ góp phần hạn
chế các nớc đang phát triển đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại
hoá và phát tiển đất nớc.
Qua thực tế ở một số nớc đang phát triển trong nhiều năm qua, FDI
chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số vốn đầu t trong nớc. Ngoài ý nghĩa tăng c-
ờng vốn đầu t nội địa , FDI còn bổ sung nguồn thu ngân sách của chính phủ
các nớc đang phát triển thông qua thuế từ các xí nghiệp có vốn đầu t của nớc
ngoài. Đây lànguồn ngoại tệ rất quan trọng để đầu t vào các dự án công cộng ,

óc phát triển và đang phát triển. Mặt khác nhờ các hoạt động cung ứng dịch vụ
và gia công cho các dự án đầu t nớc ngoài đã tạo ra nhiều việc làm cho ngời
lao động , trong đó nhất là lao động phụ nữ và trẻ em.
Bên cạnh đó FDI còn góp phần thúc đẩy xuất nhập khẩu của nớc chủ
nhà. Nhờ có đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh của các yếu tố sản
xuất ở nớc chủ nhà đợc khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao động
quốc tế. Bởi thế, khuyến khích đầu t nớc ngoài hớng vào xuất khẩu luôn là u
dãi đặc biệt trong chính sách thu hút đầu t nớc ngoài của nớc chủ nhà . Đối với
các nhà đầu t nớc ngoài xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích cho họ thông qua
sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ , khai đợc hiệu quả theo qui mô ( không bị hạn
chế bởi qui mô thị trờng của nớc chủ nhà ) và thực hiện chuyên môn hoá sâu
từng chi tiết sản phẩm ở những nơi (quốc gia) có điều kiện lợi thế nhất, sau đó
lắp ráp thành thành phẩm . Do những lợi ích trên , định hớng xuất khẩu ngày
càng đợc chú trọng đối với nớc chủ nhà. Trong hơn ba thập kỷ gần đây, đầu t
nớc ngoài ngày càng gia tăng và nó đã đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy
xuất khẩu nóc chủ nhà. Tầm quan trọng này đợc hiện ở các tỷ trọng xuất khẩu
khá cao của các dự án đầu t nớc ngoài trong tổng giá trị thơng mại của chúng
và tổng giá trị xuất khẩu của nớc chủ nhà, đặc biệt là các nớc đang phát triển.
Bên cạnh một số tác động chính mà FDI mang lại cho nớc nhận đầu t
nh đẫ nêu ở trên, đầu t nớc ngoài sẽ góp phần tăng khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp trong nớc . Các dự án 100% vốn nớc ngoài hay các dự án
liên doanh đều tạo ra động lực để buộc các doanh nghiệp nớc chủ nhà cải tiến
kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lợng sản phẩm , giảm chi
phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm qua đó tăng khả năng cạnh tranh của
mình. Đây cũng là một trong những yếu tố tích cực giúp các doanh nghiệp
trong nớc tự tin hơn trên thị trờng trong nớc cũng nh khi xâm nhập thị trờng
thế giới . Đồng thời do việc thêm các đối thủ cạnh tranh sẽ làm cho môi trờng
cạnh tranh của nớc chủ nhà trở nên khốc liệt hơn, điều này làm cho nền kinh tế
của nớc sở tại hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên nếu khả năng cạnh tranh của các
công ty nội địa thấp và nớc chủ nhà thiếu các chính sách cần thiết thì tình

triển đang muốn đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phát
triển đất nớc. Vì vậy những nớc này đã không ngừng cải thiện môi trờng đầu t
của mình để thu hút FDI phục vụ công nghiệp hoá và phát triển đất nớc.
1.3 Nhân tố tác động đến việc thu hút FDI
Bất kì một quyết định đầu t nào của nhà đầu t cũng sẽ bị ảnh hởng của
môi trờng đầu t nớc ngoài, nó không chỉ bị ảnh hởng của môi trờng đầu t mà
còn bị ảnh hởng của môi trờng đầu t ở chính nớc họ và môi trờng đâù t quốc
tế. Tuy nhiên môi trờng đầu t nớc ngoài có vị trí đặc biệt quan trọng và có vai
trò quyết định đối với dòng đầu t quốc tế vào nớc chủ nhà. Môi trờng này gồm
các nhân tố sau:
1.3.1 Tình hình chính trị
Có thể nói, sự ổn định về chính trị là nhân tố vô cùng quan trọng ảnh h-
ởng đến việc thu hút FDI của nớc chủ nhà ảnh hởng đếnviệc thu hút FDI của
nớc chủ nhà. Các nhà đầu t khi quyết định đem vốn ra đầu t nớc ngoài, họ luôn
luôn đặt vấn đề ổn định chính trị của nớc nhận đầu t lên hàng đầu. Bởi vì FDI
thờng là dòng vốn đầu t lớn và dài hạn, nó hoạt động trong một môi trờng xa lạ
vì vậy các chủ đầu t rất sợ rủi ro đối với đồng vốn của mình. Họ luôn đặt sự an
toàn vốn lên hàng đầu. Nếu tình hình chính trị của nớc chủ nhà bất ổn, thờng
xuyên xảy ra đảo chính sẽ làm cho các nhà đầu t lo ngại do các cam kết của
chính phủ tróc đối với hoạt động đầu t nớc ngoài có thể không đợc chính phủ
su thực hiện ví dụ nh các cam kết không quốc hữu hoá tài sản của ngời nớc
ngoài hoặc do sự thay đổi chính phủ mà đờng lối phát triển không nhất quán
gây khó khăn cho các nhà đầu t trong việc xây dựng kế hoạch đầug t của mình.
Bên cạnh đó nếu có sự bất ổn định chính trị, có sự thay đổi chính phủ thì các
khuyến khích đối vơí các nhà đầu t có thể cũng sẽ không đợc duy trì, điều này
cũng sẽ gây cản trở cho các nhà đầu t khi thực hiện hoạt động sản xuất kinh
doanh ở nóc sở tại và rủi ro đối với đồng vốn của họ là hoàn toàn lớn. Các định
hớng đầu t của nớc chủ nhà cũng có thể bị thay đổi vì các nhà đầu t FDI thờng
có chiến lợc kinh doanh dài hạn nên họ rất cần sự ổn định và nhất quán trong
định hớng đầu t, nếu định hớng đầu t có sự thay đổi chắc chắn sẽ làm cho các

giả rẻ thì càng hấp dẫn đối với các nhà đầu t, giúp các nhà đầu t có một nguồn
cung cấp nguyên liệu ổn định với giá thấp. Đây là yếu tố rất hấp dẫn đối với
nhà đầu t.
1.3.4 Trình độ phát triển nền kinh tế
Ngoài các yếu tố nh trên thì trình độ phát triển nền kinh tế cũng có ảnh
hởng lớn trong việc thu hút dòng vốn FDI. Trong đó trình độ quản lý kinh tế vĩ
mô có ảnh hởng lớn đến sự ổn định nền kinh tế, các thủ tục hành chính...
Những nớc có trình độ quản lý kinh tế vĩ mô kém sẽ dẫn tới tốc độ tăng trởng
kinh tế thấp, thủ tục hành chính rờm rà, chồng chéo, nạn tham nhũng gia
tăng... Các nhà đầu t sẽ không muốn bỏ vốn của mình vào những nơi nh vậy.
Mặt khác sự phát triển của cơ sở hạ tầng và các dịch vụ cung ứng cũng đóng
vai trò quan trọng trong việc thu hút FDI. Nếu nớc sở tại có một hệ thống cơ
sở hạ tầng cũng nh các dịch vụ cung ứng tốt và thuận lợi sẽ giúp các nhà đầu t
giảm chi phí phát sinh cho hoạt động đầu t. Vì vậy trình độ phát triển nền kinh
tế là một nhân tố ảnh hởng đến quyết định đầu t của các nhà đầu t nớc ngoài.
1.3.5 Đặc điểm phát triển văn hoá xã hội.
Nhân tố cuối cùng cũng ảnh hởng rất lớn đến hoạt động đầu t nớc
ngoài đó chính là đặc điểm văn hoá, xã hội. Nó bao gồm các yếu tố nh ngôn
ngữ, phong tục tập quán, giáo dục... một trong những nhân tố gây khó khăn
cho các nhà đầu t nớc ngoài đó chính là sự bất đồng về ngôn ngữ. Sự bất đồng
này có thể gây ra sự hiểu lầm trong kinh doanh cũng nh gây khó khăn trong
sinh hoạt, ngoại giao của các nhà đầu t. Phong tục tập quán, thị hiếu thẩm mỹ
cũng sẽ quyết định tới sở thích, thói quen tiêu dùng, mua sắm của ngời dân n-
ớc sở tại, điều này ảnh hởng tới thị trờng tiêu thụ nớc nhận đầu t nếu nhà đầu t
muốn hớng sản phẩm vào thị trờng nội địa. Bên cạnh đó là trình độ phát triển
giáo dục một động lực để các nhà đầu t bỏ vốn của mình vào đây. Trình độ
giáo dục tốt, cơ cấu đào tạo hợp lý sẽ cung cấp đợc nguồn lao động có trình
độ, kỹ năng giúp các nhà đầu t nớc ngoài giảm chi phí đào tạo và đáp ứng yêu
cầu sản xuất.
Trên đây là những nhân tố đóng vai trò rất tích cực trong việc thu hút

trong năm 1998 và 1999. Thêm vào đó, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 4,5% vào
cuối năm 1998 và cả năm 1999, lạm phát giá cả tiêu dùng xuống 1,6% - mức
thấp nhất kể từ những năm 1960. Trong cả năm tài khóa 1998 1999, kết
thúc vào ngày 30 9, Mỹ đạt thặng d ngân sách là 122 tỷ USD, mức thặng d
ngân sách lớn nhất kể từ 1951 đến nay. Hoạt động kinh tế vĩ mô này đã đợc
thuận lợi rất nhiều do mức thâm hụt tài khoản vãng lai ngày càng tăng. Mức
thâm hụt này ví dụ nh trong năm 1998 đạt kỷ lục là 233 tỷ USD ( chiếm 2,7%
GDP ). Thâm hụt thơng mại đã cho phép nền kinh tế Mỹ duy trì mức tăng tr-
ởng mạnh mẽ dù phải đối mặt với những hạn chế trong nớc về khả năng sản
xuất và thị trờng lao động khan hiếm nhất kể từ 30 năm nay. Các mặt hàng
nhập khẩu, thờng với giá rẻ hơn, đã đóng vai trò là một cái van an toàn, giúp
thoả mãn nhu cầu nội địa, đồng thời góp phần làm hạ giá thành trong nớc và
mở rộng sự lựa chọn cho ngời tiêu dùng Mỹ. Các nhà sản xuất cũng đợc lợi
nhờ chi phí đầu vào thấp hơn và có nhiều lựa chọn hơn. đIều này làm tăng tính
cạnh tranh của họ, dẫn đến việc đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều việc làm với
mức lơng cao hơn. Sức ép cạnh tranh của hàng nhập khẩu cũng thúc đẩy năng
suất lao động. Trên thực tế, năng suất lao động tăng trung bình hàng năm là
2,4% trong giai đoạn từ 1996 đến 1999, hơn gấp đôi tỷ lệ tăng năng suất trong
giại đoạn 1990-1995. Nói chung, nhập khẩu đã làm dịu sức ép lạm phát do hậu
quả của cầu trong nớc tăng và mức thất nghiệp thấp, nhờ đó đã hỗ trợ đợc tỷ lệ
lãi xuất thấp của thị trờng. Thâm hụt tài khoản vãng lai phản ánh khoảng cách
giữa tiết kiệm quốc gia và đầu t trong nớc. Khoảng cách này đã lớn thêm kể từ
năm 1995 do mức tiết kiệm quốc gia ( chỉ tăng khi mức tiết kiệm quốc gia )
không theo kịp mức đầu t. trong khi mức tiết kiệm quốc gia chỉ tăng từ 16,3%
năm 1995 lên 17,2% năm 1998, thì mức đầu t trong nớc tăng từ 17,4% lên
18,9%. Một nguồn bổ sung cho đầu t trong nớc là nguồn vốn nớc ngoài. Trên
thực tế, thâm hụt trong tiết kiệm quốc gia liên quan tới đầu t trong nớc đã đợc
các nhà đầu t nớc ngoài bù đắp. họ vẫn tiếp tục bị thu hút tới nớc Mỹ bởi cơ
chế đầu t của nớc này, hơn nữa đây là một thị trờng có sức hấp dẫn lớn với các
cơ hội đầu t sinh lời. đầu t nớc ngoài cho phép kinh tế Mỹ phát triển nhanh

Mỹ sẽ tăng trởng từ 3 3,4% trong năm 2003. Tuy nhiên tốc độ tăng thực tế
sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng nh: chiến tranh Iraq, chơng trình
kích thích kinh tế, đầu t của các doanh nghiệp và chính sách lãi suất. Nhng
một điều có thể thấy là khả năng phục hồi kinh tế Mỹ trong 2 quý đầu năm
2003 là rất khó khăn bởi cuộc chiến tranh Iraq dù có kết thúc sớm thì cũng sẽ
để lại hậu quả gây tác động xấu đối với nền kinh tế Mỹ ít nhất là trong 2 quý
đầu năm nay. Cùng với tình hình tăng trởng kinh tế Mỹ còn bấp bênh sẽ làm
cho Việt Nam gặp nhiều trở ngại trong việc thu hút FDI của Hoa Kỳ. Năm
2001 số vốn trung bình của một dự án chỉ là 4,5 triệu USD và 2002 là 4,3 triệu
USD so với số vốn trung bình trong giai đoạn tăng trởng liên tục của nền kinh
tế Mỹ giai đoạn 1994 1999 là 9,56 triệu USD. Nh vậy, sự suy thoái kinh tế
Hoa Kỳ đã làm dòng FDI vào Việt Nam suy giảm. đặc biệt sự suy giảm trong
GDP của Mỹ quý IV/2002 bởi những nỗi lo về chiến tranh và những bất ổn
trên thị trờng tài chính làm các công ty cắt giảm mạnh đầu t và nhân công
( trong tháng 1/2002: số việc làm bị cắt giảm là 132.222 tăng 42% so với
tháng 12/2002 ). Sự suy giảm tăng trởng trong nền kinh tế Mỹ đã làm giảm
dòng FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Nếu chúng ta xét trên khía cạnh số dự án
của Mỹ vào Việt Nam đợc cấp phép thì con số này tăng liên tục qua các năm .
Trong năm 1996 có 12 dự án, năm 1997 có 16 dự án, năm 1999 có 17 dự án,
năm 2001 là 26 dự án, và 2002 là 32 dự án. Nh vậy dờng nh sự suy thoái trong
nền kinh tế Mỹ không ảnh hởng đến số dự án đầu t của Mỹ vào Việt Nam nh-
ng khi xét đến quy mô dự án một chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá quy
mô đầu t, thì rõ ràng đã có một sự giảm sút đáng kể. Dòng vốn đầu t không có
xu hớng ổn định lúc tăng, lúc giảm ngay cả trong thời kỳ tăng trởng của nền
kinh tế Hoa Kỳ. Năm 1996 số vốn đầu t vào Việt Nam đạt 413,2 triệu USD -
đây là số vốn đầu t lớn nhất qua các năm kể từ khi chúng ta ban hành luật đầu
t nớc ngoài đến nay, năm 1996 giảm còn 92,8 triệu USD, năm 1997 lại tăng
lên 227 triệu USD, năm 1999 giảm xuống còn 119,2 triệu USD. Và vào năm
2001 là năm bắt đầu suy thoái của nền kinh tế Mỹ thì số vốn đầu t tiếp tục
giảm còn 118 triệu USD. Tuy nhiên đến 2002 đã có dấu hiệu đáng mừng khi

chiếm 47%; Châu Mỹ La Tinh thu hút 18,7 tỷ USD, chiếm 14%; Châu á - Thái
Bình Dơng thu hút 17,7 tỷ USD chiếm 13,6%. Trong các nớc và khu vực nói
trên, Vơng quốc Anh luôn là nớc thu hút đầu t lớn nhất của Hoa Kỳ ( 233,4 tỷ
USD, chiếm tới 19% ).
Phần lớn dòng đầu t của Hoa Kỳ ở các nớc đang phát triển đổ vào khu
vực Châu Mỹ La Tinh, Đông á và các nớc công nghiệp mới Châu á (ANIEs).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status