Tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hưng Yên - Pdf 25

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản chuyên đề là công trình
nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ ĐỀ TÀI
Ngô Phạm Thiện
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
MỤC LỤC
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBTD Cán bộ tín dụng
CSTD Chính sách tín dụng
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
BIDV Hưng Yên Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hưng Yên
CLTD Chất lượng tín dụng
DPRR Dự phòng rủi ro
ĐBTV Đảm bảo tiền vay
KH Khách hàng
KTTT Kinh tế thị trường
HĐKD Hoạt động kinh doanh
HĐTD Hợp đồng tín dụng
HĐNH Hoạt động ngân hàng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NH Ngân hàng
NN Nhà nước
QLRRTD Quản lý RRTD
QTTD Quy trình tín dụng

Góp phần đáp ứng những yêu cầu và tính cấp thiết nêu trên, đề tài "Tăng
cường công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển tỉnh Hưng Yên" được lựa chọn nghiên cứu.
2. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn gồm 3 chương cơ bản như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác quản lý rủi ro tín dụng của ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Giải pháp quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển tỉnh Hưng Yên
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vì hệ thống kiến thức và kinh nghiệm thực
tiễn của em còn nhiều hạn chế nên chuyên đề này chắc chắn còn nhiều thiếu xót. Do
vậy em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của cô giáo Tiến sĩ Lê Thanh
Tâm và qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Tâm và toàn thể các
anh chị em tại chi nhánh Ngân hang Đầu Tư và Phát triển Hưng Yên đã giúp đỡ chỉ
bảo tận tình để em hoàn thành bài chuyên đề thực tập một cách tốt nhất.
Hưng Yên, tháng 12 năm 2010
Sv. Ngô Phạm Thiện
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
2
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI
RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Tín dụng của Ngân hàng thương mại

trường hợp nguồn từ nợ thứ nhất gặp rủi ro. Thông thường, theo tiêu thức này
TD được chia thành 2 hình thức: TD có đảm bảo bằng tài sản và TD có đảm bảo
không phải bằng tài sản.
- Các hình thức TD phân theo mục đích TD:
+ TD bất động sản: TD ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai, TD dài
hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, trang trại và bất động sản ở nước ngoài.
+ TD công thương nghiệp: Là các khoản TD cấp cho các doanh nghiệp để
trang trải các chi phí như mua hàng hoá, nguyên vật liệu, chi trả lương
+ TD nông nghiệp: Đây là khoản TD cấp cho các hoạt động nông nghiệp,
nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng, chăn nuôi
+ TD cá nhân: Đây là các khoản TD cấp cho cá nhân để mua sắm hàng hoá
tiêu dung đắt tiền như xe hơi, nhà, trang thiết bị trong nhà…
+ TD cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản TD cấp cho các NH, công
ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
+ Cho thuê tài chính: Là việc NH mua các trang thiết bị, máy móc và cho
KH thuê lại các trang thiết bị, máy móc trên.
+ TD khác: Bao gồm các khoản TD khác chưa được phân loại ở trên (ví dụ:
cho vay mua cổ phiếu, góp vốn, )
Ngoài các tiêu thức trên, TD còn có thể phân loại theo đối tượng TD: TD tài
trợ cho tài sản lưu động, tài trợ cho tài sản cố định; theo xuất xứ TD như: TD trực
tiếp, TD gián tiếp… tuỳ theo mục đích nghiên cứu.
1.1.2 Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng
Những lĩnh vực HĐKD có khả năng mang lại càng nhiều lợi nhuận thì ẩn
chứa nhiều rủi ro. NH là loại hình kinh doanh đặc biệt, và những rủi ro đối với
HĐNH cũng vì thế mà mang tính đặc thù. Là doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
4
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
vực tiền tệ, NHTM thường gặp các loại rủi ro chủ yếu sau: rủi ro về lãi suất, rủi ro

5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
+ RRTD được hiểu là những tổn thất do KH không trả được nợ hoặc giảm
sút CLTD của khoản vay.
+ RRTD phát sinh trong trường hợp NH không thu được đầy đủ gốc và lãi
của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn.
+ RRTD được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền
lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời gian đã ấn định trong HĐTD. RRTD tức là
việc chi trả bị trì hoãn, hoặc không trả được (gốc + lãi) toàn bộ. Điều này gây ra sự
cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, và ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của NH.
Từ những định nghĩa và những nội dung cơ bản rút ra về RRTD, có thể đưa
ra khái niệm tổng quát về RRTD NHTM như sau:
RRTD là một trong các loại rủi ro trong hoạt động của NHTM, phản ánh
khả năng có thể xảy ra tổn thất cho NH khi KH vay không thực hiện trả nợ gốc và
lãi đúng hạn đã cam kết trong HĐTD.
RRTD gắn liền với hoạt động quan trọng nhất của NHTM đó là hoạt động TD.
Các khoản vay thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có của NHTM,
mang lại phần lớn thu nhập cho NH, song cũng mang lại thiệt hại nặng nề, có khi dẫn
đến phá sản. Trước khi cấp TD, NH cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao
cho độ an toàn cao nhất. Nhìn chung NH chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng RRTD
sẽ không xảy ra. Các NH luôn tìm cực đại lợi nhuận qua việc tìm kiếm những lợi tức
cao nhất, quên đi vấn đề an toàn do đó rủi ro xảy ra là điều không tránh khỏi. Song
một NH phải cố gắng hạn chế RRTD đến mức thấp nhất, QLRRTD ở mức đã chấp
nhận. Có thể bằng cách: sàng lọc và giám sát KH vay, thiết lập mối quan hệ với KH
lâu dài, quy định các mức TD, tài sản thế chấp và hạn chế TD…
RRTD là một tất yếu trong HĐKD của NH, chỉ có thể tìm ra phương pháp
quản lý, hạn chế nó mà thôi. Để làm được điều đó không những phải hiểu đầy đủ về
RRTD mà còn hiểu thật sâu sắc tình hình kinh doanh thực tế của NH.
1.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Có rất nhiều cách thức để phân loại RRTD, sau đây có thể đưa ra một số

tính chất riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Rủi ro tập trung là
mức dư nợ cho vay được dồn cho một (một số) KH, một (một số) ngành kinh tế,
một (một số) loại cho vay hoặc một (một số) khu vực địa lý,
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
1.1.2.3. Các chỉ tiêu đo lường RDTD.
a. Các chỉ tiêu xác định rủi ro tín dụng
 Tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ tín dụng
Nợ quá hạn phản ánh chất lượng tín dụng, nó đo độ an toàn và đánh giá rủi
ro tín dụng của ngân hàng. Ở Việt Nam, tỷ lệ nợ quá hạn dưới 5% là chấp nhận
được.
 Tỷ lệ lãi treo
Lãi treo phát sinh
Tỷ lệ lãi treo =
Tổng thu nhập từ hợp đồng tín dụng
Lãi treo là tiền lãi của khoản cho vay mà ngân hàng chưa thu hồi được. Chỉ
tiêu này phản ánh mức độ thiệt hại trong thu nhập dự tính của ngân hàng do rủi ro
tín dụng.
 Tỷ lệ nợ khó đòi
Nợ khó đòi
Tỷ lệ nợ khó đòi =
Tổng doanh số cho vay
Nợ khó đòi là nợ quá hạn không hoặc rất ít có khả năng thu hồi. Tỷ lệ này
phản ánh tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
 Tỷ lệ nợ khoanh, xoá nợ
Nợ khoanh, xoá nợ

+ Yêu cầu về vốn an toàn rủi ro: được tính toán dựa trên cách xếp hạng tín
dụng do tổ chức chuyên nghiệp thực hiện hoặc đánh giá tín dụng nội bộ do hệ thống
các ngân hàng cùng lập ra.
+ Kiểm tra đánh giá: cần thực hiện tốt công tác này để hoạt động của ngân
hàng luôn tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn tín dụng, phát triển và hoàn thiện quá
trình đánh giá nội bộ.
+ Nguyên lý thị trường: khuyến cáo các ngân hàng công bố rộng rãi thông tin
về tình hình hoạt động, vốn và mức độ rủi ro cho cổ đông.
Tại Việt Nam, NHNN đã ban hành hai văn bản quan trọng liên quan tới vấn
đề này:
Quyết định số 297/1999 QĐ- NHNN5 ngày 25/8/1999 quy định về các tỷ lệ
đảm bảo an toàn trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng, theo đó, các TCTD tại
Việt Nam phải thường xuyên duy trì các tỷ lệ an toàn gồm:
+ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: TCTD (trừ chi nhánh các ngân hàng nước
ngoài) phải duy trì tỷ lệ tối thiểu là 8% giữa vốn tự có so với tài sản kể cả cam kết
ngoài bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro.
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
+ Tỷ lệ thanh khoản: kết thúc ngày làm việc các TCTD phải duy trì cho ngày
làm việc tiếp theo tỷ lệ thanh khoản tối thiểu bằng 1 giữa tài sản có thể thanh toán
ngay và nguồn vốn phải thanh toán ngay.
+ Tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn: các TCTD chỉ
được phép sử dụng tối đa 25% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn.
Riêng đối với các đối tượng vay là TCTD cổ phần của Nhà nước, nhân dân và tín
dụng của HTX thì tỷ lệ quy định tối đa là 20% và 10%.
Quyết định số 296/1999/QĐ- NHNN5 về giới hạn cho vay đối với một khách
hàng của TCTD. Tổng dư nợ cho vay của một TCTD đối với một khách hàng không
được vượt quá 15% vốn tự có của TCTD đó.
1.2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN

trường như rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro giá cả hàng hóa, rủi ro chính sách, rủi
ro tự nhiên (thiên tai, dịch bệnh, ), khi các rủi ro này xảy ra đối với các chủ thể
kinh tế thì đều có thể dẫn đến RRTD vì phần lớn hoạt động của các chủ thể kinh tế
này là sử dụng vốn vay NH.
- Vốn thực bỏ ra hện tại, kết quả thu về chỉ là dự tính trong tương lai: Căn
cứ cơ bản và quan trọng nhất để NH quyết định cho vay là dựa vào dự án (hay
phương án) của KH vay. Trong khi đó, các dự án hay phương án của KH vay lúc
này đang ở trên giấy tờ, mới ở mức tính toán ở thời điểm hiện tại và những kết quả
của nó thì đang ở tương lai, trong dự tính. Có vô số những tình huống, những khả
năng xảy ra mà người vay không thể dự tính được trong dự án của mình, nguy cơ
xảy ra rủi ro đối với nó là hoàn toàn có thể, dẫn đến nguy cơ RRTD xảy ra, NH
không thể thu hồi được nợ gốc và lãi.
(2) Ảnh hưởng xấu (tiêu cực) của RRTD đến HĐKD của NH
- RRTD làm giảm uy tín của NH: RRTD ở mức độ cao phản ánh năng lực
HĐKD của NH không tốt, làm suy giảm uy tín của NH trên thị trường, suy giảm
lòng tin của công chúng gửi tiền, của bạn hàng, của đối tác, của các cơ quan quản lý
Nhà nước. Từ đó, gây cản trở cho mọi HĐKD nói chung của NH.
- RRTD làm cho khả năng thanh toán của NH giảm sút: Các khoản TD có rủi
ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, không đúng kế hoạch của NH để có các
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
nguồn tiền đáp ứng nhu cầu chi trả như rút tiền gửi, thanh toán, hay giải ngân các
khoản cho vay khác.
- RRTD làm giảm lợi nhuận của NH: Khi RRTD xảy ra, NH không thu hồi
được nợ gốc sẽ phải sử dụng quỹ dự phòng để xử lý, quỹ dự phòng được trích từ chi
phí NH; không thu được lãi, NH không có khoản thu nhập; ngoài ra phát sinh thêm
nhiều loại chi phí để xử lý nợ; NH thiếu vốn để tiếp tục cho vay hay mở rộng các
HĐKD khác. Do đó, làm giảm thu nhập và tăng chi phí của NH, dẫn đến giảm lợi
nhuận, thậm chí là thua lỗ

TCTD. Tổng mức cho vay và bảo lãnh đối với một KH không được vượt quá 25%
vốn tự có của TCTD.
+ Tổng dư nợ cho vay đối với một nhóm KH có liên quan không được vượt
quá 50% vốn tự có của TCTD. Tổng mức cho vay và bảo lãnh đối với một nhóm
KH có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của TCTD.
- Xác định danh mục các khoản cho vay theo các mức rủi ro khác nhau: Các
nhóm KH, đối tượng KH khác nhau, các ngành lĩnh vực khác nhau, các loại hình
cho vay khác nhau, sẽ có mức độ rủi ro và tính chất rủi ro khác nhau. Do đó, cần
có sự phân tích, nhận định đúng đắn về mức độ cũng như tính chất rủi ro theo các
đối tượng KH, theo các hình thức TD, hay theo các ngành nghề cho vay để có định
hướng cho vay và xác định cơ cấu TD phù hợp nhằm hạn chế thấp nhất RRTD có
thể xảy ra. Có thể nhận định, đánh giá mức độ và tính chất rủi ro đối với một số loại
hình cho vay như sau:
+ TD thương mại: Rủi ro liên quan đến khả năng đánh giá tình trạng kinh
doanh và tài chính của người vay. NH cần thu thập thông tin của KH cả trong quá
khứ lẫn tương lai. Tuy nhiên, khía cạnh tương lai của KH quan trọng hơn so với
quá khứ. Những KH truyền thống, có mối liên hệ tốt với NH thường có mức rủi ro
thấp hơn hoặc khả năng nhận biết những dấu hiệu rủi ro của NH sẽ nhanh hơn.
Rủi ro trong cho vay thương mại chủ yếu là do những tác động của thị trường đối
với người vay như mất thị trường, giá hàng bán bị giảm sút, giá nguyên liệu tăng,
thiên tai
+ Cho vay tiêu dùng: Rủi ro liên quan đến thu nhập của người vay và khả
năng kiểm soát thông tin về người vay. Thông tin thường ít, NH khó kiểm soát
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
người vay và khó thu nợ, công ăn việc làm của người vay không ổn định, hoàn
cảnh, điều kiện sống của người vay thay đổi,
+ Cho vay các định chế tài chính: Phần lớn các khoản cho vay các định chế
tài chính như các công ty tài chính, cho thuê tài chính, NH, thường là các khoản cho

RRTD luôn rình rập bên cạnh quá trình hoạt động TD của NH, muốn có thu
nhập phải chấp nhận những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra. Vì vậy, NH phải nhận thức
quy luật này và xây dựng chính sách chung sống cùng RRTD như: Hạn chế rủi ro,
chấp nhận rủi ro, xác định mức rủi ro cho phép, chính sách riêng đối với các khoản
nợ có vấn đề, nợ quá hạn, nợ xấu
- NH phải phân loại nợ, phân nhóm nợ một cách thường xuyên và chính xác,
phân tích rõ nguyên nhân, thực trạng và khả năng giải quyết.
- Trong trường hợp người vay có khó khăn tài chính tạm thời, song vẫn còn
khả năng và ý chí trả nợ, NH cần áp dụng chính sách hỗ trợ như cho vay thêm, gia
hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, giảm lãi,
- Trong trường hợp người vay lừa đảo, chây ỳ, không còn khả năng trả nợ,
NH cần áp dụng ngay các biện pháp như phong tỏa tài sản bảo đảm, tận thu nguồn
trả nợ, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
- Hàng năm, NH tạo lập quỹ DPRR TD từ nguồn thu nhập của mình, quỹ
DPRRTD được trích lập theo quy định của Nhà nước và theo chính sách của NH.
Khi tổn thất xảy ra, các biện pháp đã được sử dụng hết để tận thu khoản nợ vay,
phần tổn thất cuối cùng sẽ đượ bù đắp bằng quỹ DPRRTD. Quỹ này không có tác
dụng giảm rủi ro mà để chống đỡ khi tổn thất xảy ra.
1.2.3.3 Quản lý tài sản tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra
Khi RRTD xảy ra, tức là khoản vay không có khả năng thu hồi gốc và lãi
bằng các nguồn thu thông thường của người vay, NH xác định RRTD đã xảy ra và
thực thi các biện pháp xử lý các khoản nợ này như thu hồi tài sản bảo đảm để bán
đấu giá, định giá và bán các khoản nợ tổn thất, dùng quỹ DPRR để bù đắp và
chuyển các khoản nợ này ra ngoại bảng để theo dõi riêng. NH phải tiếp tục quản lý,
theo dõi các khoản nợ đã tổn thất trong những năm tiếp theo cũng như tiếp tục thực
thi các biện pháp có thể để tận thu tài sản đã tổn thất này. Sau một thời gian nhất
định (thường là 5 năm), sau khi xác định khoản nợ tổn thất không còn giá trị nào
nữa (hết khả năng thu hồi), NH mới xuất toán hoàn toàn khoản nợ.
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
15

Sự kém hiệu quả của các cơ quan pháp luật cấp địa phương:
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính
phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều Luật liên quan đến hoạt
động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, Luật và các Văn bản đã có song việc triển khai
vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng
mắc bất cập như một số văn bản về cưỡng chế thu hồi nợ.
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
16
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính

Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng
và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng. Năng lực
cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ
kinh doanh và công nghệ mới Thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp. Nội dung và
phương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đổi mới. Vai trò kiểm toán chưa
được phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu. Do vậy
mà có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có
biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp.

Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập:
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN
hoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng
khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng
nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và
hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật chưa đáp ứng được đầy đủ
yêu cầu tra cứu thông tin của các ngân hàng. Đó cũng là thách thức cho hệ thống
ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện
thiếu một hệ thống thông tin tương xứng.

như vào hiệu quả hoạt động quản trị nói chung của NH. Nếu Ban lãnh đạo nhận
thức đúng được vai trò của quản lý RRTD sẽ chú ý xây dựng chiến lược, chính
sách quản trị rủi ro hợp lý; xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý RRTD phù
hợp; đầu tư đầy đủ cả về nhân lực và tài chính cho hoạt động quản lý RRTD
nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
- Sự phối hợp giữa các bộ phận trong hoạt động quản lý RRTD: Trong NH
thì hoạt động quản lý RRTD trước hết phải là nhiệm vụ của Hội đồng quản trị, Ban
tổng giám đốc, giám đốc của NH. Sau nữa là nhiệm vụ quản lý RRTD phải là nhiệm
vụ trực tiếp của mỗi người làm công tác TD từ nhân viên TD, nhân viên thẩm định,
quản lý TD đến các trưởng, phó phòng ban. Để công tác quản lý RRTD đạt được
hiệu quả cao thì các phòng, ban, bộ phận phải có sự phối hợp nhịp nhàng với nhau
trong quá trình xử lý các vấn đề phát sinh.
- Trình độ của đội ngũ cán bộ: Đội ngũ cán bộ chính là những nhân tố mấu
chốt của các nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động quản lý RRTD. Một
đội ngũ cãn bộ tốt sẽ làm cho các biện pháp quản lý RRTD phát huy được sức
mạnh, đẩy lùi được điểm yếu và đem lại kết quả tích cực hơn cho NH trong hoạt
động quản lý RRTD.
1.3.1.5 Các nhân tố khách quan
- Từ phía KH vay: RRTD TD từ KH vay là một trong những loại rủi ro
thường đem lại tổn thất nhiều nhất cho NH, khi người vay không thực hiện đúng
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
18
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
cam kết trong HĐTD. Nguyên nhân là do trình độ yếu kém của người vay trong dự
tính các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo, chây ỳ không
trả nợ, hoặc do người vay thiếu may mắn, gặp rủi ro trong kinh doanh,
- Từ phía các cơ quan quản lý: NH là một ngành chịu nhiều hoạt động kiểm
tra, giám sát từ cơ quan quản lý trực tiếp là NHNN. Vì vậy, nếu các chính sách, chế
độ, quy định của NHNN phù hợp, kịp thời thì sẽ trợ giúp rất tốt cho các NHTM
triển khai các biện pháp quản lý RRTD có hiệu quả.

trường tài chính trong và ngoài nước thông qua sự hỗ trợ gián tiếp của NH để đầu tư
mở rộng quá mức năng lực sản xuất.
Cuối cùng, chính các khoản nợ ngắn hạn không được đảo nợ khi các chủ nợ
nước ngoài cảm nhận sâu sắc sự bất an do các công ty con nợ HQ, nợ nần chồng
chất đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng. Chính tình trạng thua lỗ đến mức phá sản
của các công ty HQ là con nợ của NH đã trực tiếp chất đầy thêm gánh nặng nợ khó
đòi của NH HQ. Các tập đoàn “Chaebol” khổng lồ của quốc gia này mà thực chất là
tập đoàn gia đình kinh doanh đa lĩnh vực từ kim khí điện máy, vi mạch điện tử, ô tô,
tàu thủy với những dự án khổng lồ đầy mạo hiểm đứng trước nguy cơ phá sản.
Chỉ riêng tập đoàn thép Hanbo với khoản nợ của 61 NH và các định chế tài
chính khác tương đương 5,9 tỷ USD lớn gấp 10 lần vốn tự có của tập đoàn. Ngày
23.1.1997, tập đoàn Hanbo tuyên bố phá sản, mở màn cho sự sụp đổ hàng loạt của
các Chaebol, đến tháng 2.1998 đã có 8 Chaebol phá sản để lại các khoản nợ khổng
lồ lên đến hàng chục tỷ USD, nợ khó đòi HQ lên đến 20%, Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF) đã phải tài trợ cho HQ đến 59 tỷ USD để cải cách lại nền kinh tế, đồng thời
buộc Chính phủ HQ phải đóng cửa các NH yếu kém và công bố danh sách những
NH có tỷ lệ nợ xấu cao.
Tuy nhiên sau khủng hoảng tài chính Đông Nam A, HQ đã tích cực cải tổ lại
hệ thống NH, cơ cấu lại các công ty các tập đoàn lớn. Nếu như năm 1998 HQ được
xếp ở vị trí cuối bảng về phát triển kinh tế của các nước thành viên trong tổ chức
hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), thì năm 2000 với tốc độ tăng trưởng là 9,5 %
HQ đã vươn lên đạt tốc độ tăng trưởng ở vị trí cao nhất.
1.4.1.2 Tín dụng nhà đất tại Mỹ, khơi nguồn khủng hoảng tài chính toán cầu
Trong thời gian qua, cuộc khủng hoảng trên thị trường cho vay thế chấp
nhà đất dưới tiêu chuẩn ở Mỹ đã tác động tiêu cực đến thị trường tài chính thế
Ngô Phạm Thiện Lớp NH 19.09
20
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính
giới. Hàng loạt các định chế tài chính ở Mỹ đã công bố những tổn thất nặng nề
mà họ phải gánh chịu xuất phát từ hậu quả của cuộc khủng hoảng này gây nên.

21

Trích đoạn Phân loại khách hàng Chất lượng tín dụng đạt được từ công tác QLRRTD Chậm thay đổi tổ chức và hoạt động quản lý TD Vẫn còn tiềm ẩn nợ xấu trong TD xây lắp Từ chính BIDV Hưng Yên.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status